21/09/2024
Kinh Aggañña (Kinh nguồn gốc)
Như vầy tôi nghe: Một thời, Đức Thế Tôn ngụ tại thành Xá-vệ, trong tinh xá Kỳ Viên, khu vườn của ông Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika). Lúc bấy giờ, có hai vị Bà-la-môn trẻ tên là Vāseṭṭha và Bhāradvāja đang sống cùng với các Tỳ-kheo, mong muốn xuất gia và trở thành Sa-môn.
Khi ấy, vào buổi chiều, Đức Thế Tôn xuất thiền, đi xuống từ giảng đường và bắt đầu đi thiền hành ở một khu đất trống, dưới bóng của giảng đường. Vāseṭṭha nhìn thấy Đức Phật và nói với Bhāradvāja: “Này bạn Bhāradvāja, Đức Thế Tôn đã xuất thiền và đang đi thiền hành dưới bóng của giảng đường. Hãy đến gặp Ngài, biết đâu chúng ta sẽ có cơ hội nghe được những lời dạy của Ngài.”
Bhāradvāja đồng ý, và cả hai cùng đến gặp Đức Thế Tôn. Khi đến gần, họ đảnh lễ Ngài và đi thiền hành cùng Ngài. Sau một lúc, Đức Thế Tôn hỏi Vāseṭṭha: “Này Vāseṭṭha, các ông đều là người xuất thân từ dòng dõi Bà-la-môn cao quý, đã từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia. Các ông có bị những người Bà-la-môn chỉ trích hay không?”
Vāseṭṭha thưa: “Thưa Đức Thế Tôn, đúng vậy, các Bà-la-môn đã chỉ trích và xúc phạm chúng con rất nặng nề.”
Đức Phật hỏi tiếp: “Họ đã chỉ trích các ông như thế nào?”
Vāseṭṭha trả lời: “Thưa Đức Thế Tôn, các Bà-la-môn nói rằng: ‘Chỉ có giai cấp Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác đều thấp kém. Chỉ có Bà-la-môn là thuần khiết, các giai cấp khác đều ô uế. Bà-la-môn là con của Phạm thiên, sinh ra từ miệng của Phạm thiên, được Phạm thiên tạo ra và là người thừa kế của Phạm thiên. Các ông đã từ bỏ giai cấp cao quý nhất để đi theo Sa-môn Cồ Đàm, trở thành những kẻ đầu trọc thấp hèn. Điều đó là không đúng, không phù hợp. Các ông đã từ bỏ giai cấp cao quý để chấp nhận giai cấp thấp hèn.’”
Nghe vậy, Đức Phật nói: “Thật là sai lầm khi các Bà-la-môn nói rằng họ là cao quý nhất, là con của Phạm thiên. Họ không nhớ đến sự thật của nguồn gốc con người. Thực tế, các Bà-la-môn cũng sinh ra từ người mẹ và có những dấu hiệu sinh lý như mọi người khác. Họ tự nhận mình là con của Phạm thiên, nhưng đó chỉ là lời nói dối và không đúng sự thật, khiến họ tạo ra nhiều nghiệp bất thiện.”
1. Catuvaṇṇasuddhi – Sự thanh tịnh của bốn giai cấp
Này Vāseṭṭha, có bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ (Khattiya), Bà-la-môn (Brāhmaṇa), Phệ-xá (Vessa), và Thủ-đà-la (Suddha). Tuy nhiên, trong mỗi giai cấp này, có những người phạm vào các hành vi bất thiện, như: sát sinh, trộm cắp, tà hạnh trong dục lạc, nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô ác, nói lời vô ích, tham dục, sân hận, và có tà kiến.
Những hành vi này, này Vāseṭṭha, được gọi là bất thiện, là hành động gây hại, không nên được tu tập và phát triển. Những hành vi ấy đưa đến quả báo xấu, và điều này có thể thấy rõ ở bất kỳ ai, dù họ thuộc giai cấp Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, hay Thủ-đà-la.
Ngược lại, này Vāseṭṭha, cũng có những người từ các giai cấp này, dù là Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá hay Thủ-đà-la, giữ giới không sát sinh, không trộm cắp, không tà hạnh trong dục lạc, không nói dối, không nói lời chia rẽ, không nói lời thô ác, không nói lời vô ích, không tham dục, không sân hận, và có chánh kiến. Những người ấy tu tập những hành vi thiện lành, trong sạch, đáng khen ngợi, và sẽ đạt được quả báo tốt đẹp. Các hành vi này có thể thấy ở bất kỳ ai, dù họ thuộc giai cấp nào.
Như vậy, này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp này, có cả người hành thiện và người hành ác. Tuy nhiên, các Bà-la-môn thường tuyên bố rằng chỉ có Bà-la-môn là cao quý nhất, các giai cấp khác đều thấp kém. Họ cho rằng chỉ có Bà-la-môn là thuần khiết, còn các giai cấp khác thì không. Họ tự xưng mình là con của Phạm thiên, được sinh ra từ miệng của Phạm thiên, do Phạm thiên tạo ra và là người thừa kế của Phạm thiên.
Những người có trí tuệ, này Vāseṭṭha, không đồng ý với điều này. Tại sao? Vì trong bốn giai cấp, nếu có một vị Tỳ-kheo đã thành tựu A-la-hán, đã đoạn tận lậu hoặc, đã thực hành đầy đủ, đã trút bỏ gánh nặng, đạt đến mục tiêu cao nhất, và giải thoát hoàn toàn, thì vị ấy là người cao quý nhất trong mọi giai cấp. Vị ấy được tôn trọng không phải vì giai cấp, mà vì đạo đức.
Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
Ngay cả vua Pasenadi của nước Kosala cũng biết rõ rằng Đức Thế Tôn xuất thân từ dòng dõi Thích-ca. Người dân Thích-ca rất kính trọng vua Pasenadi và tỏ lòng tôn kính bằng cách cúi đầu, chào hỏi, và thể hiện sự tôn trọng. Vua Pasenadi cũng tôn kính Đức Thế Tôn bằng cách cúi đầu, chào hỏi, và thể hiện lòng tôn trọng sâu sắc. Vua không nghĩ rằng: “Sa-môn Cồ-đàm xuất thân cao quý hơn ta,” mà thay vào đó, vua kính trọng Đức Thế Tôn vì Ngài đại diện cho Chánh pháp.
Do đó, này Vāseṭṭha, phải hiểu rằng Chánh pháp mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
Các ông, này Vāseṭṭha, đều xuất thân từ các gia đình khác nhau, nhưng khi từ bỏ đời sống thế tục để trở thành Sa-môn, các ông đều được gọi chung là “Sa-môn dòng họ Thích”. Nếu ai có niềm tin vững chắc vào Đức Thế Tôn, thì có thể tự xưng mình là: “Ta là con của Đức Thế Tôn, sinh ra từ miệng của Ngài, là con của Pháp, do Pháp tạo ra và là người thừa kế của Pháp.”
Tại sao lại như vậy? Bởi vì Đức Thế Tôn được gọi là người có thân pháp, là hiện thân của Pháp, là hiện thân của Phạm thiên.
Rồi sẽ có một thời điểm, này Vāseṭṭha, khi thế gian này sẽ bị hủy diệt. Khi đó, phần lớn các chúng sinh sẽ tái sinh vào cõi trời Ábhassara, nơi họ sống bằng tâm ý, ăn bằng niềm hỷ lạc, phát ra ánh sáng và di chuyển trong không gian.
Và cũng sẽ có lúc thế gian này tái lập. Khi đó, hầu hết chúng sinh từ cõi trời Ábhassara sẽ tái sinh về thế gian này. Họ vẫn sống bằng tâm ý, ăn bằng niềm hỷ lạc, phát ra ánh sáng, và có thể di chuyển trong không gian.
2. Rasapathavipātubhāva – Sự xuất hiện của lớp đất ngọt
Vào thời điểm đó, này Vāseṭṭha, thế gian chìm trong nước và bị bao phủ bởi bóng tối hoàn toàn. Không có ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, không có các vì sao hay chòm sao xuất hiện, không có sự phân biệt ngày và đêm, không có tháng hay nửa tháng, cũng không có mùa và năm. Nam và nữ chưa xuất hiện, và các chúng sinh chỉ tồn tại như những thực thể, không rõ hình dạng.
Rồi sau một khoảng thời gian dài, trên bề mặt nước bắt đầu xuất hiện một lớp đất ngọt. Lớp đất này giống như lớp màng mỏng nổi lên trên bề mặt sữa nóng khi nó bắt đầu nguội. Lớp đất ấy có màu sắc rực rỡ, hương thơm ngào ngạt và vị rất ngon. Nó sáng lấp lánh giống như bơ tinh khiết hay mật ong nguyên chất, mang lại một hương vị ngọt ngào tinh tế.
Bấy giờ, này Vāseṭṭha, có một chúng sinh tò mò và tham lam, nghĩ rằng: “Cái này là gì nhỉ?” Rồi nó dùng ngón tay chạm vào lớp đất ngọt và nếm thử. Khi chúng sinh đó nếm lớp đất ngọt, sự thèm muốn nảy sinh trong nó. Sự thèm muốn ấy khiến nó không ngừng ăn. Thấy vậy, những chúng sinh khác cũng bắt chước và chạm tay vào lớp đất ngọt để nếm thử. Khi họ ăn, lòng tham cũng sinh khởi trong họ, và họ bắt đầu ăn ngày càng nhiều hơn.
3. Candimasūriyādipātubhāva – Sự xuất hiện của mặt trăng, mặt trời và các thiên thể
Khi ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh bắt đầu dùng tay bốc ăn lớp đất ngọt. Khi họ tiếp tục ăn lớp đất đó bằng tay, ánh sáng tự nhiên tỏa ra từ cơ thể họ dần dần biến mất. Khi ánh sáng tự thân của họ biến mất, mặt trăng và mặt trời bắt đầu xuất hiện. Cùng với sự xuất hiện của mặt trăng và mặt trời, các ngôi sao và chòm sao cũng xuất hiện. Khi các ngôi sao và chòm sao xuất hiện, ngày và đêm được hình thành. Khi ngày và đêm xuất hiện, các tháng và nửa tháng trở nên rõ ràng. Khi các tháng và nửa tháng rõ ràng, các mùa và năm cũng hiện ra. Như vậy, này Vāseṭṭha, thế giới dần dần được tái lập lại.
Tiếp tục, này Vāseṭṭha, khi các chúng sinh bốc ăn lớp đất ngọt trong một thời gian dài, cơ thể họ trở nên thô hơn, và sự khác biệt về hình dáng và màu sắc bắt đầu hiện rõ. Một số chúng sinh có thân hình và màu da đẹp đẽ, trong khi một số khác có hình dáng và màu sắc kém đẹp hơn. Những chúng sinh có thân hình đẹp bắt đầu khinh thường những chúng sinh kém đẹp, nghĩ rằng: “Chúng ta đẹp hơn họ.” Chính do lòng kiêu ngạo này mà lớp đất ngọt ấy biến mất.
Khi lớp đất ngọt biến mất, các chúng sinh tụ tập lại và than thở: “Ôi, hương vị ngon lành làm sao, hương vị tuyệt vời làm sao!” Và ngay cả ngày nay, khi con người ăn được món ngon, họ vẫn thường nói: “Ôi, ngon quá, ngon quá!”, dù không hiểu hết ý nghĩa sâu xa của điều này.
4. Bhūmipappaṭakapātubhāva – Sự xuất hiện của vỏ đất
Sau khi lớp đất ngọt biến mất, này Vāseṭṭha, trên mặt đất bắt đầu xuất hiện lớp vỏ đất, giống như cách một cái nấm mọc lên. Lớp vỏ đất ấy có màu sắc rực rỡ, hương thơm ngào ngạt và vị ngon ngọt, giống như bơ tươi hay bơ tan chảy. Hương vị của nó ngọt ngào như mật ong tinh khiết.
Lúc ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh bắt đầu ăn lớp vỏ đất này. Họ ăn lớp vỏ đất trong một thời gian dài, và chính nhờ ăn lớp đất đó mà cơ thể họ dần trở nên thô kệch hơn, và sự khác biệt về hình dáng, màu da dần hiện rõ. Một số chúng sinh có hình thể và màu da đẹp, trong khi số khác có màu da xấu xí.
Những chúng sinh có màu da đẹp bắt đầu kiêu căng, khinh thường những chúng sinh có màu da xấu, nghĩ rằng: “Chúng ta đẹp hơn họ, còn họ xấu xí hơn chúng ta.” Chính do lòng kiêu ngạo này mà lớp vỏ đất cũng biến mất.
5. Padālatāpātubhāva – Sự xuất hiện của cây leo Padālata
Khi lớp vỏ đất biến mất, này Vāseṭṭha, trên mặt đất bắt đầu xuất hiện một loại cây leo gọi là Padālata, giống như những dây leo mọc lan ra. Loại cây này có màu sắc rực rỡ, hương thơm ngào ngạt và vị ngon ngọt, giống như bơ tươi hoặc mật ong nguyên chất.
Lúc ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh bắt đầu hái và ăn cây Padālata. Họ ăn loại cây này trong một thời gian dài, và chính nhờ đó mà cơ thể họ ngày càng trở nên thô kệch hơn, và sự khác biệt về hình dáng, màu da càng trở nên rõ rệt. Một số chúng sinh có hình thể và màu da đẹp, trong khi số khác có hình thể và màu da xấu xí.
Những chúng sinh có hình thể và màu da đẹp bắt đầu khinh thường những chúng sinh có màu da xấu, nghĩ rằng: “Chúng ta đẹp hơn họ, còn họ xấu xí hơn chúng ta.” Do lòng kiêu ngạo này mà cây Padālata cũng biến mất.
Khi cây Padālata biến mất, các chúng sinh tụ tập lại và than phiền: “Ôi, cây Padālata tuyệt vời của chúng ta đã biến mất rồi!” Ngày nay, con người khi gặp phải điều bất lợi hoặc mất mát cũng thường nói: “Ôi, đã mất đi rồi!” Dù họ vẫn lặp lại những lời xưa cũ, nhưng không hiểu hết ý nghĩa sâu xa của điều đó.
6. Akaṭṭhapākasālipātubhāva – Sự xuất hiện của lúa không cần nấu chín
Sau khi cây Padālata biến mất, này Vāseṭṭha, trên mặt đất bắt đầu xuất hiện loại lúa không cần nấu chín. Loại lúa này không có vỏ, không cần xay giã, sạch sẽ, thơm tho, và hạt mẩy đẹp. Bất cứ hạt lúa nào được thu hoạch vào buổi chiều thì sáng hôm sau đã chín và nảy mầm trở lại. Và bất cứ hạt lúa nào được thu hoạch vào buổi sáng để dùng trong bữa sáng thì đến chiều đã chín và tái sinh ngay. Không có dấu hiệu nào của việc thiếu hụt hay cạn kiệt.
Lúc ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh bắt đầu ăn lúa không cần nấu chín ấy. Họ ăn loại lúa này trong một thời gian dài, và chính nhờ đó mà cơ thể họ ngày càng trở nên thô kệch hơn, và sự khác biệt về hình dáng, màu da càng trở nên rõ rệt.
7. Itthipurisaliṅgapātubhāva – Sự xuất hiện của giới tính nam và nữ
Khi các chúng sinh tiếp tục ăn lúa không cần nấu chín trong một thời gian dài, này Vāseṭṭha, cơ thể của họ càng trở nên thô kệch hơn, và sự khác biệt về màu da càng rõ rệt. Đồng thời, giới tính nữ bắt đầu xuất hiện ở người nữ và giới tính nam xuất hiện ở người nam.
Người nữ bắt đầu nhìn người nam một cách luyến ái, và người nam cũng nhìn người nữ với sự thèm muốn. Từ sự luyến ái và say mê ấy, dục vọng phát sinh trong họ và cảm giác nóng bức xuất hiện trong cơ thể. Vì vậy, họ đã thực hành hành vi tình dục với nhau.
Lúc bấy giờ, này Vāseṭṭha, những chúng sinh thấy họ thực hành hành vi tình dục thì phản ứng một cách khinh bỉ. Một số ném đất, một số ném tro, và một số khác ném phân bò vào họ, vừa ném vừa nói: “Đồ ô uế, đồ bẩn thỉu! Làm sao một chúng sinh lại có thể làm những việc như thế với một chúng sinh khác được?”
Thậm chí cho đến ngày nay, ở một số vùng, khi cô dâu bị đưa ra khỏi nhà chồng, một số người dân vẫn ném đất, tro hoặc phân bò vào cô ấy. Họ chỉ đơn thuần lặp lại những tập tục cổ xưa mà không hiểu được ý nghĩa thực sự của nó.
8. Methunadhammasamācāra – Sự hình thành đời sống hôn nhân
Vào thời điểm đó, này Vāseṭṭha, hành vi tình dục (methuna) bị xem là phi pháp và không được chấp nhận, nhưng ngày nay lại được xem là hợp pháp. Khi ấy, những chúng sinh nào thực hành hành vi tình dục sẽ không được phép vào làng hay thị trấn trong vòng một tháng hoặc hai tháng. Khi các chúng sinh đó trở nên quá đắm chìm trong hành vi phi pháp này, họ bắt đầu xây dựng nhà cửa để che giấu hành vi của mình.
Khi ấy, này Vāseṭṭha, có một chúng sinh lười biếng nghĩ rằng: “Tại sao ta phải mất công mỗi sáng và chiều đi lấy lúa? Sao ta không lấy đủ lúa cho cả ngày để dùng cho bữa sáng và bữa chiều luôn?” Và chúng sinh ấy đã làm như vậy, chỉ lấy lúa một lần để dùng cho cả hai bữa.
Khi ấy, này Vāseṭṭha, có một chúng sinh khác đến và nói với chúng sinh ấy: “Này bạn, hãy đi lấy lúa đi!” Nhưng chúng sinh kia trả lời: “Không cần đâu, tôi đã lấy đủ lúa cho cả ngày rồi.” Thế là chúng sinh kia cũng bắt chước và chỉ lấy lúa một lần cho cả hai bữa.
Rồi một chúng sinh khác lại đến và nói: “Này bạn, hãy đi lấy lúa đi!” Nhưng chúng sinh ấy cũng trả lời: “Không cần đâu, tôi đã lấy đủ lúa cho cả bốn bữa rồi.” Cứ như vậy, các chúng sinh dần dần chỉ lấy lúa một lần để dùng cho nhiều bữa.
Dần dần, này Vāseṭṭha, các chúng sinh bắt đầu tích trữ lúa. Khi họ bắt đầu tích trữ lúa, thì vỏ lúa và hạt lúa không còn sạch sẽ nữa. Vỏ bắt đầu bám vào hạt, và lúa cũng không còn mọc lại ngay sau khi bị cắt như trước. Họ cũng bắt đầu thấy dấu hiệu của sự cạn kiệt và lúa mọc thành từng khóm nhỏ, thưa thớt.
9. Sālivibhāga – Sự phân chia lúa
Khi ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh tụ họp lại và than thở: “Ôi, thật tệ hại thay những pháp bất thiện đã xuất hiện trong chúng ta! Trước đây, chúng ta từng là những chúng sinh do tâm tạo nên, nuôi dưỡng bằng niềm hỷ lạc, tự phát ra ánh sáng, và bay lượn trên không trung, sống trong một thời gian dài hạnh phúc. Sau một thời gian dài, lớp đất ngọt bắt đầu xuất hiện trên mặt nước, và lớp đất ấy có màu sắc rực rỡ, hương thơm ngọt ngào. Chúng ta bắt đầu dùng tay bốc ăn lớp đất ngọt đó, và khi chúng ta ăn nó, ánh sáng tự thân của chúng ta dần biến mất. Khi ánh sáng tự thân biến mất, mặt trời và mặt trăng xuất hiện, các ngôi sao và chòm sao xuất hiện, rồi ngày và đêm được phân biệt rõ ràng. Khi ngày và đêm xuất hiện, các tháng và nửa tháng được phân định, rồi các mùa và năm cũng hiện ra.
Khi ấy, chúng ta đã ăn lớp đất ngọt trong một thời gian dài. Do những pháp bất thiện và ác hạnh đã xuất hiện, lớp đất ngọt dần dần biến mất. Sau khi lớp đất ngọt biến mất, lớp vỏ đất bắt đầu xuất hiện, cũng có màu sắc và hương thơm ngào ngạt. Chúng ta bắt đầu ăn lớp vỏ đất đó, nhưng do sự tích lũy các pháp bất thiện, lớp vỏ đất cũng dần biến mất. Rồi xuất hiện cây leo Padālata, cũng có màu sắc rực rỡ và vị ngon. Chúng ta ăn cây Padālata trong một thời gian dài, nhưng do những pháp bất thiện tiếp tục tăng trưởng, cây Padālata cũng biến mất. Sau khi cây Padālata biến mất, lúa không cần nấu chín xuất hiện, sạch sẽ, thơm tho và mọc ngay sau khi bị thu hoạch. Chúng ta tiếp tục ăn lúa không cần nấu chín trong một thời gian dài, nhưng do các pháp bất thiện tiếp tục sinh khởi, hạt lúa bắt đầu bám vỏ và không còn mọc lại ngay lập tức. Dần dần, những dấu hiệu của sự cạn kiệt cũng bắt đầu xuất hiện, và lúa chỉ mọc thành từng khóm nhỏ.”
Rồi các chúng sinh ấy nói với nhau: “Chúng ta hãy phân chia lúa và đặt ra giới hạn để quản lý việc sử dụng.” Và họ đã quyết định phân chia lúa và đặt ra giới hạn cho việc thu hoạch.
Khi ấy, này Vāseṭṭha, có một chúng sinh tham lam, bảo vệ phần lúa của mình nhưng lại lấy phần lúa không được chia của người khác mà ăn. Họ bắt giữ chúng sinh ấy và nói: “Này bạn, việc bạn làm thật đáng trách! Sao lại có thể lấy phần lúa không được chia của người khác mà ăn? Đừng làm như vậy nữa.”
Chúng sinh ấy đồng ý và hứa sẽ không làm như vậy nữa. Nhưng lần thứ hai, rồi lần thứ ba, chúng sinh ấy vẫn tiếp tục lấy lúa của người khác. Đến lần thứ ba, những chúng sinh khác đã tức giận và bắt đầu đánh đập kẻ đó, người thì dùng tay đánh, người thì ném đá, và người thì dùng gậy đánh.
Từ đó, này Vāseṭṭha, hành vi trộm cắp xuất hiện trong thế gian, sự trách mắng xuất hiện, sự nói dối và hình phạt bằng gậy gộc cũng xuất hiện.
10. Mahāsammatarājā – Vua Đại Chúng Tôn
Khi ấy, này Vāseṭṭha, các chúng sinh tụ họp lại và than thở: “Ôi, thật tệ hại thay những pháp bất thiện đã xuất hiện trong chúng ta! Tại sao lại có trộm cắp, sự trách mắng, sự nói dối và sự dùng hình phạt xuất hiện trong thế gian này? Vậy thì, chúng ta hãy cùng nhau chọn ra một người để làm lãnh đạo, người này sẽ giúp chúng ta xử lý các vấn đề một cách công bằng, sẽ khiển trách người đáng bị khiển trách, sẽ trục xuất người đáng bị trục xuất. Đổi lại, chúng ta sẽ chia một phần lúa cho người đó.”
Rồi, này Vāseṭṭha, các chúng sinh tìm đến một người trong số họ, người ấy có hình dáng đẹp đẽ, dáng vẻ dễ nhìn, uy nghiêm và có quyền lực nhất. Họ nói với người đó: “Này bạn, hãy giúp chúng tôi phân xử các vấn đề một cách công bằng, hãy khiển trách những kẻ cần khiển trách, và trục xuất những kẻ cần trục xuất. Đổi lại, chúng tôi sẽ chia cho bạn một phần lúa.”
Người ấy đồng ý và bắt đầu làm nhiệm vụ của mình, phân xử công bằng, khiển trách đúng người và trục xuất những kẻ đáng bị trục xuất. Đổi lại, các chúng sinh đã chia một phần lúa cho người ấy.
Từ đó, người ấy được gọi là Mahāsammata, tức là “Người được Đại Chúng Tôn”. Đây là danh hiệu đầu tiên được xuất hiện.
Tiếp theo, người ấy được gọi là Khattiya, tức là “Người cai quản các cánh đồng”, đây là danh hiệu thứ hai.
Và cuối cùng, người ấy được gọi là Rājā, tức là “Người cai trị với công lý”, đây là danh hiệu thứ ba.
Như vậy, này Vāseṭṭha, các danh hiệu này đã xuất hiện từ xa xưa, dành cho các chúng sinh giống nhau về bản chất, không phải khác biệt. Tất cả đều xuất phát từ đạo đức, không phải từ bất công. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
11. Brāhmaṇamaṇḍala – Sự hình thành giai cấp Bà-la-môn
Khi ấy, này Vāseṭṭha, một số chúng sinh trong cộng đồng bắt đầu nhận ra rằng: “Ôi, thật tệ hại thay những pháp bất thiện đã xuất hiện trong chúng ta! Trộm cắp, trách mắng, nói dối, dùng hình phạt và việc trục xuất đã trở thành hiện thực. Vậy thì, chúng ta hãy từ bỏ những pháp bất thiện và tránh xa chúng.” Và họ đã từ bỏ những pháp bất thiện đó.
Chính vì họ đã từ bỏ các pháp bất thiện, này Vāseṭṭha, danh hiệu “Bà-la-môn” (Brāhmaṇa) xuất hiện đầu tiên để chỉ họ.
Những người này sau đó dựng những chiếc lều lá trong rừng, sống trong đó và hành thiền, tránh xa lửa và khói, sử dụng chày giã lá cây. Hằng ngày, vào buổi sáng và buổi tối, họ đi vào làng, thị trấn, hoặc kinh đô để xin thực phẩm. Sau khi nhận được thức ăn, họ quay trở lại lều lá trong rừng và tiếp tục hành thiền.
Nhìn thấy điều này, những người dân trong làng nói: “Những người này sống trong rừng, dựng lều lá, sống tránh xa lửa và khói, buổi sáng và buổi tối đi vào làng xin thức ăn, và sau đó quay lại rừng để thiền định.” Vì họ thiền định, này Vāseṭṭha, danh hiệu “Thiền giả” (Jhāyaka) được hình thành.
Tuy nhiên, một số chúng sinh không thể đạt được trạng thái thiền định sâu sắc và không thể sống trọn vẹn trong rừng. Thay vào đó, họ sống gần các ngôi làng và thị trấn, viết sách và giảng dạy.
Nhìn thấy điều này, người dân nói: “Những người này không còn thiền định nữa. Họ đã từ bỏ thiền định và chuyển sang công việc viết sách và giảng dạy.” Vì họ không còn thiền định, danh hiệu “Giáo sư” (Ajjhāyaka) được hình thành.
Khi ấy, này Vāseṭṭha, danh tiếng của những người từ bỏ thiền định bị xem là thấp kém, nhưng ngày nay họ lại được coi là cao quý.
Như vậy, này Vāseṭṭha, các danh hiệu của giai cấp Bà-la-môn đã xuất hiện từ xa xưa, dành cho các chúng sinh giống nhau về bản chất, không phải khác biệt. Tất cả đều xuất phát từ đạo đức, không phải từ bất công. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
12. Vessamaṇḍala – Sự hình thành giai cấp Vessa
Khi ấy, này Vāseṭṭha, một số chúng sinh trong cộng đồng đã bắt đầu thực hành hành vi tình dục và dần dần chuyển sang làm các công việc thủ công, buôn bán, và các nghề nghiệp khác nhau.
Chính vì họ tham gia vào các hoạt động nghề nghiệp đa dạng sau khi thực hành hành vi tình dục, này Vāseṭṭha, danh hiệu “Vessa” (Phệ-xá) được hình thành để chỉ họ.
Như vậy, này Vāseṭṭha, danh hiệu của giai cấp Vessa đã xuất hiện từ thời xưa, dành cho các chúng sinh giống nhau về bản chất, không phải khác biệt. Tất cả đều xuất phát từ đạo đức, không phải từ bất công. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
13. Suddamaṇḍala – Sự hình thành giai cấp Suddha (Thủ-đà-la)
Khi ấy, này Vāseṭṭha, những chúng sinh còn lại trong cộng đồng đã trở nên thô tục và nhỏ nhen trong hành vi và lối sống của họ.
Chính vì lối sống thô tục và thấp hèn ấy, này Vāseṭṭha, danh hiệu “Suddha” (Thủ-đà-la) được hình thành để chỉ họ.
Như vậy, này Vāseṭṭha, danh hiệu của giai cấp Suddha đã xuất hiện từ thời xưa, dành cho các chúng sinh giống nhau về bản chất, không phải khác biệt. Tất cả đều xuất phát từ đạo đức, không phải từ bất công. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
Cũng có thời, này Vāseṭṭha, khi những người thuộc giai cấp Khattiya (Sát-đế-lỵ), vì không hài lòng với lối sống của mình, đã từ bỏ đời sống gia đình để xuất gia, trở thành sa-môn, sống cuộc đời không nhà cửa. Cũng như vậy, những người thuộc giai cấp Bà-la-môn, Vessa (Phệ-xá), và Suddha, vì không hài lòng với cuộc sống của họ, đã từ bỏ thế tục để xuất gia, trở thành sa-môn.
Như vậy, này Vāseṭṭha, sự hình thành của giai cấp sa-môn đã xuất phát từ bốn giai cấp này, không phải từ những người khác biệt, mà từ những người giống nhau về bản chất. Và họ xuất phát từ đạo đức, không phải từ bất công. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
14. Duccaritādikathā – Nói về hành vi bất thiện và thiện lành
Này Vāseṭṭha, nếu một người thuộc giai cấp Khattiya (Sát-đế-lỵ) có hành vi thân, khẩu, ý bất thiện, có tà kiến và tuân theo những hành động do tà kiến, thì do những nguyên nhân ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi xấu, cõi khổ, và địa ngục. Điều này cũng đúng với người thuộc giai cấp Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Phệ-xá), Suddha (Thủ-đà-la) và cả Sa-môn. Nếu họ có những hành vi bất thiện về thân, khẩu, ý, có tà kiến và tuân theo tà kiến, thì họ cũng sẽ rơi vào cõi xấu sau khi chết.
Ngược lại, này Vāseṭṭha, nếu một người thuộc giai cấp Khattiya có hành vi thân, khẩu, ý thiện lành, có chánh kiến và tuân theo những hành động do chánh kiến, thì nhờ những nguyên nhân ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Điều này cũng đúng với người thuộc các giai cấp Brāhmaṇa, Vessa, Suddha và cả Sa-môn. Nếu họ có những hành vi thiện lành về thân, khẩu, ý, có chánh kiến và tuân theo chánh kiến, họ cũng sẽ sinh vào cõi lành sau khi chết.
Ngoài ra, này Vāseṭṭha, nếu một người thuộc giai cấp Khattiya vừa làm điều thiện vừa làm điều bất thiện bằng thân, khẩu, ý, và có những quan điểm pha trộn giữa tà kiến và chánh kiến, thì do những hành động pha trộn này, sau khi thân hoại mạng chung, họ sẽ trải nghiệm cả khổ đau lẫn hạnh phúc. Điều này cũng đúng với người thuộc các giai cấp Brāhmaṇa, Vessa, Suddha và cả Sa-môn. Nếu họ vừa làm điều thiện vừa làm điều bất thiện và có quan điểm pha trộn, họ cũng sẽ trải qua cả hạnh phúc và khổ đau sau khi chết.
15. Bodhipakkhiyabhāvanā – Sự tu tập các pháp trợ đạo
Này Vāseṭṭha, nếu một người thuộc giai cấp Khattiya (Sát-đế-lỵ), giữ thân, khẩu, ý trong sạch và tu tập bảy pháp trợ đạo (Bodhipakkhiya-dhamma), thì ngay trong đời này có thể đạt đến Niết-bàn. Điều này cũng đúng với người thuộc giai cấp Brāhmaṇa (Bà-la-môn), Vessa (Phệ-xá), Suddha (Thủ-đà-la) và cả Sa-môn. Nếu họ giữ thân, khẩu, ý trong sạch và tu tập bảy pháp trợ đạo, họ cũng sẽ đạt Niết-bàn ngay trong đời này.
Thật vậy, này Vāseṭṭha, trong bốn giai cấp, nếu có một vị Tỳ-kheo đã thành tựu A-la-hán, đã đoạn tận mọi lậu hoặc, đã hoàn thành con đường tu tập, đã trút bỏ gánh nặng, đạt đến mục tiêu cao nhất và giải thoát hoàn toàn, thì vị ấy được coi là cao nhất trong tất cả, không phải vì giai cấp mà vì đạo đức. Bởi vì, này Vāseṭṭha, chính đạo đức mới là điều cao quý nhất trong thế gian này, cả trong đời hiện tại và đời sau.
Vào thời xưa, này Vāseṭṭha, Phạm thiên Sanaṅkumāra đã thốt lên bài kệ:
“Nhân gian Khattiya, tộc tối cao,
Tự hào dòng dõi, sắc thanh tao.
Trí minh giới hạnh đầy vun đủ,
Trời đất tôn vinh, ngự ngôi cao.”
Bài kệ này, này Vāseṭṭha, do Phạm thiên Sanaṅkumāra nói ra, là bài kệ được thốt lên rất hay, không phải dở; được nói đúng đắn, không phải sai lầm; mang ý nghĩa, không phải vô nghĩa. Và ta cũng tán thành điều này. Ta cũng nói rằng:
“Nhân gian Khattiya, tộc tối cao,
Tự hào dòng dõi, sắc thanh tao.
Trí minh giới hạnh đầy vun đủ,
Trời đất tôn vinh, ngự ngôi cao.”
Đức Thế Tôn đã nói như vậy. Sau khi nghe lời dạy của Ngài, Vāseṭṭha và Bhāradvāja vô cùng hoan hỷ và tán thán lời dạy của Đức Thế Tôn.
Bài kinh Aggañña đến đây là kết thúc.