09/02/2023
Đôi nét về THIỀN TÔNG
(Dùng Tâm Làm Tông)
Thiền tông: còn gọi là Phật Tâm tông, Tổ sư Thiền hay Tối Thượng thừa thiền.
Đây là một tông phái Phật giáo Đại thừa xuất phát từ 33 đời Tổ sư Ấn Độ và Trung Hoa. Trong đó 28 vị ở ẤN, 5 vị ở Trung Hoa(sơ tổ là BỒ ĐỀ ĐẠT MA).
THỈ TỔ: Phật Bổn Sư Thích Ca
Tổ thứ nhất - Tổ Đại Ca Diếp
Tổ thứ 2 - Tổ A Nan
Tổ thứ 3 - Tổ Thương Na Hòa Tu
Tổ thứ tư - Tổ Ưu Ba Cúc Đa
Tổ thứ 5 - Tổ Đề Đa Ca
Tổ thứ 6 - Tổ Di Dá Ca
Tổ thứ 7 - Tổ Bà Tu Mật
Tổ thứ 8 - Tổ Phật Đà Nan Đề
Tổ thứ 9 - Tổ Phục Đà Mật Đa
Tổ thứ 10 - Tổ Hiếp Tôn Giả
Tổ thứ 11 - Tổ Phú Na Dạ Xa
Tổ thứ 12 - Bồ Tát Mã Minh
Tổ thứ 13 - Tổ Ca Tỳ Ma La
Tổ thứ 14 - Bồ Tát Long Thọ
Tổ thứ 15 - Bồ Tát Ca Na Đề Bà
Tổ thứ 16 - Tổ La Hầu La Đa
Tổ thứ 17 - Tổ Tăng Già Nan Đề
Tổ thứ 18 - Tổ Già Da Xá Đa
Tổ thứ 19 - Tổ Cưu Ma La Đa
Tổ thứ 20 - Tổ Xà Dạ Đa
Tổ thứ 21 - Tổ Bà Tu Bàn Đầu
Tổ thứ 22 - Tổ Ma Noa La
Tổ thứ 23 - Tổ Hạc Lặc Na
Tổ thứ 24 - Tổ Sư Tử
Tổ thứ 25 - Tổ Bà Xá Tư Đa
Tổ thứ 26 - Tổ Bất Như Mật Đa
Tổ thứ 27 - Tổ Bát Nhã Đa La
Tổ thứ 28 - Tổ Bồ Đề Đạt Ma (Tổ thứ nhất Trung Hoa, người nước Ấn, mang tâm Ấn thiền tông, qua trung Hoa truyền thừa)
Tổ thứ 29 - Tổ Huệ Khả (Tổ thứ 2 Trung Hoa 494-601 TL)
Tổ thứ 30 - Tổ Tăng Xán (Tổ thứ 3 Trung Hoa 497-602 TL)
Tổ thứ 31 - Tổ Đạo Tín (Tổ thứ tư Trung Hoa 580-651 TL)
Tổ thứ 32 - Tổ Hoằng Nhẫn (Tổ thứ 5 Trung Hoa 602-675 TL)
Tổ thứ 33 - Tổ Huệ Năng (Tổ thứ 6 Trung Hoa (638 - 715)
Còn Thiền tông Việt Nam cũng có
1- Thiền phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci, Nam Ấn) sang Trung Hoa năm 562, đệ tử của Tổ thứ 3 Trung Hoa là Tăng Xán. Đại sư sang Việt Nam năm 580 đến chùa Pháp Vân,
2- Thiền phái Vô Ngôn Thông:
Đại sư Vô Ngôn Thông người Quảng Châu, Trung Quốc từng ngộ pháp từ câu nói của Đại sư Bách Trượng (thuộc thế hệ thứ 3 từ sau Lục tổ Huệ Năng). Năm 820, Đại sư từ Quảng Châu sang Việt Nam, đến chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng ở Bắc Ninh, truyền pháp cho ngài Cảm Thành. Thiền phái Vô Ngôn Thông bắt nguồn từ đó,
3/ Thiền phái Thảo Đường
Đại sư Thảo Đường là người Trung Hoa, đệ tử của Thiền sư Tuyết Đậu (tịch năm 1052). Tuyết Đậu, Đệ tử của Đại sư Vân Môn Văn Yển (864 – 949) là một Thiền sư. Ngài Thảo Đường thuộc thế hệ thứ 8 của dòng Thanh Nguyên Hành Tư, tức là thuộc thế hệ thứ 9 của Lục tổ Huệ Năng (tổ thứ 6 trung hoa.
4/ Thiền phái Yên Tử
Tổ khai sơn của Thiền phái Yên Tử là Đại sư Hiện Quang (mất năm 1220), tu ở Chùa Lục Tổ do Đại sư Thiền Chiếu (Thiền phái Vô Ngôn Thông) trụ trì, về sau tham học với các ngài Trí Không, Pháp Giới rồi khai sơn núi Yên Tử, thường được là Trúc Lâm Đại Sa-môn được phong làm Quốc sư. Từ đó, truyền thống Trúc Lâm Yên Tử được hình thành.
Đại sư Hiện Quang tịch, nối tiếp truyền thống Trúc Lâm là Đạo Viên (thầy của vua Trần Thái Tông). Đại Đăng (thầy của vua Trần Thánh Tông), Tiêu Diêu (thầy của Tuệ Trung), Huệ Tuệ, Trúc Lâm (tức Trần Nhân Tông), Huyền Quang, Pháp Loa... cho đến Vô Phiền; tổng cộng là 23 vị, 5 thế hệ đầu của truyền thống Trúc Lâm Yên Tử , nổi bật về cung cách tu tập Thiền tông chỉ gồm vua Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng Sĩ, nhưng hai vị này là cư sĩ và không cụ thể truyền pháp cho ai. Sự truyền thừa chỉ gần như là nối nghiệp trụ trì. Đến Trúc Lâm Đầu-đà Điều Ngự Trần Nhân Tông, tức vua Trần Nhân Tông vị vua anh minh, anh hùng, vị Thái thượng hoàng cao quý, bỏ ngai vàng để thành Sa-môn, Ngài lập Thiền am trên núi Yên Tử, trở thành vị Tổ của 17 Đại sư thuộc 17 thế hệ sau của truyền thống Trúc Lâm.
Và ngài ngài thống nhất các thiền phái đã có gồm (Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường)
Lập nên một dòng thiền mới
Mang tên Thiền phái "TRÚC LÂM YÊN TỬ ".
5- TRÚC LÂM YÊN TỬ
SƠ TỔ là TRÚC LÂM Đầu Đà
(Tức Phật hoàng Trần Nhân Tông)
NHỊ TỔ PHÁP LOA
TAM TỔ HUYỀN QUANG
hiện tại người tiếp nối tông phong dòng thiền này là
HT THIỀN SƯ THÍCH THANH TỪ.
Hiện đang trú tại
(Thiền viện Thường Chiếu
Tỉnh Đồng Nai)
Tuy nhiên, các thiền sư trong Thiền tông tự coi tông phái mình tách biệt không thuộc Đại thừa hay Tiểu thừa. Thiền tông được Đức Phật Thích-ca đích thân truyền cho đại đệ tử Ma-ha Ca-diếp làm Sơ tổ qua sự kiện "Niêm Hoa Thị Chúng", hiện còn nhập đại định tại Núi kê túc Ấn Độ, (với Tâm nguyện đợi Phật Di Lặc ra đời).
Từ đó mà tổ tổ tương truyền. Cho đến khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề-đạt-ma, lúc ấy là Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ, đưa phép Thiền vào Trung Quốc, trở thành Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa. Nơi đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Phật Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Tông phái này được đưa vào Việt Nam với tên gọi là Thiền tông, và cũng thành tông phái lớn mạnh thời NHÀ TRẦN.
Hiện nay chỉ còn Tông Thiền Trúc lâm Yên Tử còn giữ được mạng mạch đó là nhờ Ơn gầy dựng của
đại lão Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ.