25/08/2026
VU LAN KHAI KINH – HIẾU HẠNH BÁO ÂN
CUNG KÍNH NGHE RẰNG:
Hiếu hạnh đứng đầu muôn hạnh, là nguồn vun bồi phước đức;
Từ tâm rộng khắp vạn loài, là cửa mở vào đường giải thoát.
Ơn cha cao tựa núi non, che chở đời con qua bao giông bão;
Nghĩa mẹ rộng như biển cả, nuôi dưỡng thân con suốt những tháng ngày.
Một đời sinh dưỡng, bao phen nhọc nhằn chẳng kể;
Muôn nỗi lo toan, trọn kiếp hy sinh chẳng tiếc.
Mười tháng cưu mang, mẹ chịu đớn đau mà vẫn một lòng gìn giữ;
Một lần sinh nở, mẹ quên thân mình chỉ mong con được vuông tròn.
Con vừa cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ đã gửi vào đời bao ước nguyện;
Con vừa chập chững bước đi, song thân đã dìu dắt qua biết bao nẻo đường.
Miếng ngon cha nhường, áo ấm mẹ dành;
Đêm khuya con bệnh, cha thao thức; ngày dài con khổ, mẹ chẳng an lòng.
Con lớn một phần, cha mẹ già đi một tuổi;
Con dựng cuộc đời, mái tóc song thân thêm bạc trắng.
Ơn ấy cao hơn non Thái, biết lấy gì mà sánh;
Nghĩa này sâu hơn biển rộng, biết lấy gì mà đền.
Dẫu cơm ngon áo đẹp phụng dưỡng trọn đời, cũng khó đáp một phần sinh dưỡng;
Dẫu vàng bạc châu báu chất đầy, cũng chẳng cân nổi một niệm từ ân.
Bởi vậy, báo hiếu chẳng riêng lo cho thân thể;
Mà còn phải hộ trì tâm thức, hướng cha mẹ về nẻo thiện lành.
Chẳng những phụng dưỡng khi cha mẹ hiện tiền;
Mà còn phải hồi hướng công đức khi song thân đã khuất.
Chẳng những thương một đời cha mẹ;
Mà còn mở rộng tâm hiếu, nhớ nghĩ cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp.
Nhớ thuở Đức Thế Tôn còn tại thế,
Tôn giả Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất, chứng quả A-la-hán, quán sát sáu đường sinh tử, tìm xem mẫu thân sau khi mạng chung sinh về đâu.
Ngài thấy mẹ Thanh Đề đọa nơi đường ngạ quỷ, chịu đói khát khổ đau, thân hình tiều tụy, ngày tháng triền miên trong cảnh khốn cùng.
Người con hiếu tử thương mẹ khôn nguôi, liền vận thần thông đem bát cơm dâng mẹ.
Nào ngờ nghiệp lực chưa tiêu, cơm vừa đưa đến miệng đã hóa thành than lửa;
Mẹ muốn ăn mà chẳng thể ăn, con muốn cứu mà thần lực chẳng thể chuyển nghiệp.
Tôn giả đau lòng, trở về đảnh lễ Như Lai, thiết tha cầu Phật chỉ bày phương tiện cứu mẹ.
Đức Phật mở lòng đại bi, dạy rằng sức một người tuy lớn, nhưng nghiệp duyên nhiều đời chẳng dễ tự mình chuyển đổi;
Phải nương công đức thanh tịnh của đại chúng, nhân ngày chư Tăng mãn hạ Tự Tứ, chí thành thiết lễ cúng dường, đem phước lành hồi hướng cho cha mẹ.
Đến ngày rằm tháng Bảy, phẩm vật thanh tịnh dâng cúng mười phương Tăng chúng;
Nhờ công đức hòa hợp thanh tịnh, nhờ tâm hiếu chí thành hồi hướng, mẹ Thanh Đề được thoát khỏi cảnh khổ, sinh về đường lành.
Từ một lòng hiếu tử của Mục-kiền-liên, pháp hội Vu Lan lưu truyền;
Từ một nỗi thương mẹ của người xưa, mở ra một pháp môn báo ân cho người đời sau.
Bởi thế, Vu Lan chẳng chỉ là mùa nhớ mẹ;
Mà là mùa đánh thức tâm hiếu, mùa gieo trồng phước đức, mùa nhắc người con biết quay về nguồn cội.
Lại theo lời Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh,
Đức Như Lai chỉ bày từng tầng ân sâu của cha mẹ đối với con cái.
Ơn mang thai cưu giữ, tháng ngày thân mẹ chịu nhọc;
Ơn sinh nở gian nan, phút giây mạng sống giữa cơn nguy.
Ơn sinh con quên khổ, vừa nghe tiếng khóc đã quên bao đau đớn;
Ơn nuốt đắng nhường ngọt, món ngon dành trẻ, phần cay đắng nhận về mình.
Ơn nhường khô nằm ướt, chỗ khô nhường con, chỗ ướt cha mẹ nằm;
Ơn bú mớm nuôi dưỡng, đem dòng sữa thân mình nuôi lớn hình hài.
Ơn tắm rửa chăm nom, chẳng quản hôi tanh, chẳng nề nhọc nhằn;
Ơn xa con thương nhớ, con đi muôn dặm mà lòng cha mẹ vẫn theo cùng.
Ơn che chở trọn đời, con dù khôn lớn vẫn là đứa trẻ trong mắt song thân;
Ơn thương yêu chẳng dứt, năm tháng càng dài, tình nghĩa càng sâu.
Mười ân kể hết mà một đời chưa trả đủ;
Muôn lời nói hết mà một chữ hiếu vẫn chưa cùng.
Cho nên người con biết hiếu, phải kính thuận cha mẹ;
Phải phụng dưỡng khi tuổi già, chăm sóc khi bệnh yếu, an ủi lúc cô đơn.
Cha mẹ cần cơm, dâng cơm bằng lòng cung kính;
Cha mẹ cần thuốc, lo thuốc bằng tâm tận tụy.
Cha mẹ buồn, tìm lời khuyên giải;
Cha mẹ giận, lấy nhẫn nhường mà hóa giải.
Đừng để một đời sinh dưỡng đổi lấy những tháng ngày lạnh nhạt;
Đừng để đến lúc song thân khuất bóng mới ôm di ảnh mà than tiếc.
Nhưng kinh điển Đại thừa còn dạy rằng,
Phụng dưỡng thân mạng tuy quý, mà hướng dẫn tâm linh còn sâu;
Cho cha mẹ cơm áo tuy là hiếu, mà giúp cha mẹ biết làm lành lánh dữ càng là đại hiếu.
Nếu cha mẹ chưa biết Tam bảo, tùy duyên khuyên về chánh pháp;
Nếu cha mẹ còn nhiều phiền não, lấy lòng từ mà hóa giải;
Nếu cha mẹ tạo nghiệp bất thiện, khéo lời khuyên ngăn;
Nếu cha mẹ đã phát tâm tu hành, hết lòng tùy hỷ hộ trì.
Bởi nuôi thân chỉ giúp cha mẹ an vui một đời;
Dẫn tâm hướng thiện mới giúp cha mẹ gieo nhân an lạc nhiều đời.
Lại nhớ Kinh Địa Tạng,
Địa Tạng Đại Bồ-tát từ lòng hiếu kính mẹ mà phát đại nguyện cứu độ chúng sinh.
Thuở xưa có người con vì thương mẫu thân chịu nghiệp khổ, chí thành tu phước, lễ kính Như Lai, đem công đức hồi hướng cho mẹ.
Từ một niệm thương mẹ mà phát tâm rộng lớn;
Từ một người mẹ mà mở thành đại nguyện cứu độ muôn loài.
Địa Tạng Bồ-tát nguyện vào nơi tối tăm cứu người đang chịu khổ;
Nguyện đến những cảnh giới hiểm nguy dìu dắt chúng sinh trở về nẻo thiện.
Một chữ hiếu, từ tình thân mà mở rộng thành lòng đại bi;
Một niệm ân, từ cứu mẹ mà phát thành nguyện cứu tất cả chúng sinh.
Bởi trong biển sinh tử vô tận, ai biết được người hôm nay xa lạ, đã từng là cha mẹ ta thuở quá khứ;
Ai biết được người đang chịu khổ nơi sáu đường, đã từng kết duyên thân thuộc với ta từ vô lượng kiếp.
Nghĩ được như vậy, tâm hiếu chẳng còn giới hạn trong một gia đình;
Mà rộng ra thành tâm từ vô lượng, thương người như thương chính cha mẹ mình.
Lại trong Kinh Đại Bát Niết-bàn,
Hạnh hiếu được đặt trong mối tương quan với nhân quả, thiện ác và con đường giải thoát.
Cha mẹ là ruộng phước gần gũi của người con;
Biết cung kính, phụng dưỡng, làm cho cha mẹ an vui, chính là gieo nhân lành sâu dày.
Nhưng thân này vốn vô thường, mạng người chẳng chắc lâu dài;
Cha mẹ rồi sẽ già, con rồi cũng bệnh, gặp nhau rồi cũng có ngày chia biệt.
Nếu chỉ lo cho cha mẹ được sung túc trong một đời, vẫn chưa chạm đến chỗ tận cùng của đạo hiếu;
Phải giúp cha mẹ biết nhân quả, biết thiện ác, biết giữ gìn thân khẩu ý, biết quay về nương tựa Tam bảo.
Bởi hiếu thế gian là làm cho cha mẹ được vui trong hiện tại;
Hiếu xuất thế gian là giúp cha mẹ gieo nhân lìa khổ, hướng đến an lạc lâu dài.
Một bữa cơm làm ấm thân cha mẹ;
Một câu Phật pháp có thể làm sáng tâm cha mẹ.
Một chiếc áo che thân khỏi lạnh;
Một niệm thiện có thể che chở tâm khỏi đường dữ.
Ấy mới là ý nghĩa sâu xa của hạnh hiếu trong giáo pháp Như Lai.
Cho nên người con học Phật hôm nay,
Chớ đợi mùa Vu Lan mới nhớ mẹ cha;
Chớ đợi ngày giỗ chạp mới dâng một nén hương.
Khi cha mẹ còn sống, hãy biết kính yêu;
Khi cha mẹ còn khỏe, hãy biết phụng dưỡng.
Một lời hỏi han có thể làm ấm lòng người già;
Một cử chỉ cung kính có thể xoa dịu bao tháng năm nhọc nhằn.
Đừng vì công việc mà quên cha;
Đừng vì cuộc sống riêng mà xa mẹ.
Đừng để những điều chưa kịp nói trở thành nỗi ân hận suốt đời;
Đừng để một ngày muốn báo ân mà người đã không còn trên thế gian.
Nếu cha mẹ đã quá vãng,
Chớ chỉ chìm trong thương nhớ mà quên tu tập.
Hãy tụng kinh, niệm Phật;
Hãy bố thí, phóng sinh, làm lành, cứu khổ;
Hãy hộ trì Tam bảo, gieo trồng công đức;
Hãy đem tất cả thiện nghiệp hồi hướng cho cửu huyền thất tổ.
Một nén hương dâng lên, quý ở lòng thành;
Một thời kinh tụng, quý ở tâm hành.
Một mùa Vu Lan, quý không phải ở đóa hoa trên ngực áo;
Mà ở chỗ người con biết quay về sửa mình, biết thương cha kính mẹ, biết sống một đời thiện lành.
Nay nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu,
Các chùa tùy thuận nhân duyên, khai mở thời khóa Kinh Vu Lan Báo Hiếu,
Nguyện đem pháp âm thanh tịnh, tưới mát lòng người, đánh thức tâm hiếu đang ngủ quên giữa cuộc đời nhiều bận rộn.
Kính mời toàn thể quý Phật tử gần xa,
Tạm gác việc đời, tạm buông duyên thế, cùng trở về chốn Tổ.
Vào lúc 19 giờ hằng ngày
Cùng nhau lễ Phật, tụng kinh, niệm Phật;
Lắng lòng theo tiếng chuông ngân, nhiếp niệm giữa đạo tràng thanh tịnh;
Đồng thanh cất lời kinh kệ, đồng phát tâm chân thành báo đáp thâm ân.
Nguyện mỗi tiếng chuông là một lời nhắc nhớ mẹ cha;
Nguyện mỗi câu kinh là một đóa sen dâng lên song thân.
Nguyện người còn cha mẹ biết trân quý từng ngày sum họp;
Nguyện người mất cha mẹ biết tinh tấn tu hành, đem công đức hồi hướng.
Nguyện cha mẹ hiện tiền, thân tâm thường an lạc, phước thọ tăng long, nghiệp chướng tiêu trừ, gia đạo thuận hòa, thiện căn tăng trưởng;
Nguyện cha mẹ quá vãng, cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân, nương nhờ Tam bảo, lìa xa nghiệp khổ, sinh về cảnh thiện, kết duyên Bồ-đề.
Nguyện oan thân trái chủ nhiều đời, cùng được nghe kinh nghe pháp, đồng kết duyên lành, hóa giải oán kết, lìa khổ được vui.
Nguyện người người biết hiếu, nhà nhà biết thương;
Nguyện đạo hiếu được lưu truyền, tâm từ được rộng mở;
Nguyện từ một mái nhà lan ra muôn mái nhà, từ một người con hiếu thảo cảm hóa muôn người biết sống ân nghĩa.
Hiếu từ một nhà mà rộng khắp chúng sinh;
Từ một niệm thương mẹ mà phát khởi đại bi.
Báo ân cha mẹ, trước phải biết sửa mình;
Cứu độ song thân, trước phải biết tu tâm.
Đem thân hành thiện để cha mẹ được an lòng;
Đem tâm tu thiện để cha mẹ nhiều đời được lợi lạc.
Đem phước đức hồi hướng người đã khuất;
Đem lòng từ trải khắp người còn hiện tiền.
Nguyện cho mùa Vu Lan năm nay,
Không chỉ có hoa hồng nở trên ngực áo, mà hoa hiếu nở trong lòng người;
Không chỉ có khói hương bay giữa mái chùa, mà tâm tri ân lan tỏa giữa nhân gian.
Nguyện người còn mẹ biết cúi đầu gọi một tiếng mẹ;
Nguyện người còn cha biết kính cẩn gọi một tiếng cha.
Để khi tóc mẹ còn xanh, ta biết thương mẹ;
Khi tóc cha còn đen, ta biết kính cha;
Để một ngày mai khi bóng mẹ cha khuất xa, lòng người không còn mang nỗi tiếc thương vì những điều chưa kịp làm.
Nguyện đem công đức tụng kinh, lễ Phật hôm nay,
Hồi hướng cha mẹ hiện tiền, cha mẹ quá vãng;
Hồi hướng cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân;
Hồi hướng pháp giới chúng sinh, đồng lìa khổ não, cùng hưởng an vui.
Nguyện cha mẹ hiện tiền, phước tăng, thọ trưởng, thân tâm an lạc;
Nguyện cha mẹ quá vãng, nghiệp chướng tiêu trừ, siêu sinh thiện giới;
Nguyện cửu huyền thất tổ, đồng nương Phật lực, lìa mê về giác;
Nguyện tất cả chúng sinh, đều biết tri ân, hành hiếu, tu thiện, phát tâm Bồ-đề.
Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.