Chùa Tái Kênh- Phủ Lý- Hà Nam

Chùa Tái Kênh- Phủ Lý- Hà Nam Chùa Tái Kênh,TDP 4 Tái Kênh,P. Liêm Tuyền,Ninh Bình.

🪷 HÓA GIẢI OÁN GIA — TU TÂM ĐỂ CHUYỂN NGHIỆP🌿 1. Đừng sợ oán gia, hãy nhìn lại chính mình. Trong cuộc đời, có người thươ...
27/08/2026

🪷 HÓA GIẢI OÁN GIA — TU TÂM ĐỂ CHUYỂN NGHIỆP
🌿 1. Đừng sợ oán gia, hãy nhìn lại chính mình. Trong cuộc đời, có người thương ta, có người làm ta tổn thương. Nhưng người tu không nên chỉ tìm cách tránh né hay đối phó với người mình cho là “oan gia”. Điều cần nhìn lại trước tiên chính là tâm mình. Oán kết bên ngoài chỉ thật sự trói buộc khi bên trong còn sân hận, chấp trước và muốn trả đũa.
🙏 2. Muốn hóa giải oán kết, trước hết phải tu tâm. Ăn chay, giữ giới, niệm Phật, làm thiện, hồi hướng công đức… không phải để cầu cho người khác biến mất khỏi cuộc đời mình, mà để chuyển hóa chính thân, khẩu, ý của mình, không tiếp tục tạo thêm nghiệp và oán kết.
🌸 3. Đừng lấy oán trả oán. Người khác làm mình đau là nghiệp duyên của họ, nhưng mình tiếp tục sân hận, nguyền rủa hay trả thù thì lại đang tạo thêm nghiệp cho chính mình. Người tu học Phật phải học cách lấy từ bi hóa giải sân hận, lấy thiện lành hóa giải điều bất thiện, để vòng oán kết không tiếp tục kéo dài.
🪷 4. Niệm Phật phải đi cùng sự chuyển hóa. Niệm Phật không chỉ ở nơi miệng mà quan trọng là ở nơi tâm. Niệm Phật mà tâm ngày càng bớt sân, bớt tham, bớt chấp, biết nhẫn nhịn, biết tha thứ và biết thương người hơn — đó mới là sự tu tập có ý nghĩa.
🌱 5. Hồi hướng công đức cho cả người mình oán. Người mình thương, mình hồi hướng thì dễ. Nhưng người từng làm mình tổn thương mà mình vẫn có thể phát tâm: “Nguyện đem công đức này hồi hướng cho họ, mong họ được an lành, mong những oán kết giữa chúng tôi sớm được hóa giải” — đó mới là lúc tâm mình thực sự đang bước ra khỏi sự trói buộc của sân hận.
🕊️ 6. Người khác có thể không thay đổi, nhưng tâm mình có thể thay đổi. Ta không thể bắt một người phải hiểu mình, xin lỗi mình hay đối xử với mình theo ý mình. Nhưng ta có thể lựa chọn không để sự sân hận của người khác trở thành sân hận của chính mình. Khi tâm không còn bị người ấy chi phối, sự trói buộc cũng bắt đầu được tháo ra.
🔥 7. Điều đáng sợ không phải là gặp nghịch cảnh, mà là trong nghịch cảnh lại tạo thêm nghiệp. Một lời nói làm ta tổn thương có thể chỉ kéo dài vài giây, nhưng nếu ta ôm nó trong lòng nhiều năm, ngày ngày nhớ lại, ngày ngày oán hận, thì chính mình đang tự làm đau mình thêm vô số lần. Buông không phải vì người khác xứng đáng được tha thứ, mà vì chính mình xứng đáng được tự do.
🌺 8. Nghịch cảnh cũng có thể trở thành bài học trên con đường tu. Người khiến ta sân có thể giúp ta nhìn thấy tâm sân của mình. Người khiến ta chấp có thể giúp ta nhận ra sự chấp trước. Người làm ta đau có thể khiến ta học được cách nhẫn nhịn và bao dung. Vì vậy, thay vì chỉ hỏi “Tại sao họ đối xử với tôi như vậy?”, hãy thử hỏi: “Qua chuyện này, tôi cần sửa điều gì nơi chính mình?”
🙏 9. Tu hành không phải để cuộc đời không còn nghịch cảnh. Tu là để khi thuận cảnh không sinh tham, khi nghịch cảnh không sinh sân; khi được khen không kiêu, khi bị chê không loạn; khi gặp người thương thì không quá chấp, khi gặp người ghét cũng không khởi tâm oán hận. Cảnh vẫn có thể đổi thay, nhưng tâm mình ngày càng vững vàng.
🪷 10. Hóa giải oán gia bắt đầu từ một quyết tâm rất đơn giản: không tạo thêm oán kết. Từ hôm nay, bớt một lời làm người khác đau, bớt một lần nổi giận, bớt một ý nghĩ trả thù, thêm một niệm từ bi, thêm một việc thiện, thêm một lần niệm Phật và hồi hướng. Mỗi ngày tự sửa mình một chút, nghiệp cũ dần được chuyển, nghiệp mới không tiếp tục tạo thêm.

"Người quân tử trọng đức, không trọng sắc."Người ta thường nghĩ câu này chỉ nói đến việc chọn vợ, chọn người bạn đời. Nh...
26/08/2026

"Người quân tử trọng đức, không trọng sắc."
Người ta thường nghĩ câu này chỉ nói đến việc chọn vợ, chọn người bạn đời. Nhưng thực ra, đây là một triết lý nhân sinh sâu sắc, thể hiện cách nhìn người của bậc quân tử và có thể áp dụng trong rất nhiều phương diện của cuộc sống.

1. Không chỉ là chọn vợ mà là chọn người để đi cùng đường đời
Trong hôn nhân, người quân tử chọn người vợ không vì nhan sắc, mà vì phẩm hạnh. Nhưng trong đời sống rộng hơn, họ cũng chọn bạn bè – cộng sự – thầy cô – đối tác – người đồng hành, dựa trên nền tảng đạo đức và nội tâm, chứ không phải sự hào nhoáng hay bề ngoài bóng bẩy.

Một người có tài nhưng thiếu đức, sớm muộn cũng gây hại.
Một người nói hay, giỏi giao tiếp, nhưng không có tâm sáng sẽ chỉ là lớp sơn bên ngoài che đậy ruột rỗng bên trong.
Người quân tử hiểu rằng, đạo đức là gốc rễ, còn tài năng, nhan sắc, danh tiếng chỉ là cành lá.
Không có gốc, cây chẳng thể vững.

2. Trong chọn bạn mà chơi cũng cần “trọng đức”
Chọn bạn không phải chọn người náo nhiệt nhất, thành công nhất, hay nổi bật nhất…
Mà là chọn người có thể nhắc nhở mình sống đúng, ở bên khi mình yếu lòng, không phản bội khi sóng gió, và không bỏ rơi khi mình không còn giá trị lợi dụng.
Phật dạy:
“Gần người hiền như vào vườn hoa, lâu ngày không thấy hương mà thân đã thơm.”
Người quân tử biết gần người có đức, để tâm mình cũng được nuôi dưỡng, soi sáng và chuyển hóa.

3. Trong công việc trọng tâm, không trọng vỏ
Trong chọn người làm việc, không phải lúc nào bằng cấp hay tài năng bề nổi cũng là yếu tố quyết định.
Một người giỏi nhưng không có đạo đức, có thể làm hỏng cả tập thể.
Ngược lại, người có lòng trung thực, tận tâm, kiên trì – dù tiến chậm – nhưng bền vững.
Chọn đúng người, không phải là chọn người “nổi”, mà là chọn người có thể tin.

4. Trong nhìn người nên thấy từ cái tâm, chứ không chỉ cái tướng
Phật giáo có dạy:
“Tướng do tâm sinh, cảnh tùy tâm chuyển.”
Nghĩa là, vẻ ngoài phản ánh phần nào nội tâm bên trong. Nhưng nếu ta chỉ nhìn vào cái “tướng” mà không nhìn cái “tâm”, rất dễ bị lừa bởi những thứ nhất thời.
Người quân tử không bị đánh lừa bởi ánh hào quang, bởi lời nịnh ngọt, hay dáng vẻ trơn tru. Họ nhìn sâu hơn – vào cách người đó đối nhân xử thế, cách họ hành động khi không ai nhìn thấy, và cách họ ứng xử khi đứng giữa lựa chọn đúng – sai.

Vẻ đẹp đích thực là vẻ đẹp có tâm – có tầm – có đức
Trong một thế giới nơi mọi thứ ngày càng chú trọng đến hình ảnh, bề ngoài và sự thành công nhanh chóng, câu nói xưa của người quân tử lại trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Nó nhắc ta:
Chọn người không phải vì họ "sáng" – mà vì họ vững.
Chọn người không phải vì họ "giỏi" – mà vì họ có đạo.
Chọn người không phải vì họ làm mình vui – mà vì họ làm mình tốt lên.

“Trọng đức, không trọng sắc” là một nguyên tắc sống, một cách nhìn người, và cũng là cách chọn lọc những giá trị thật giữa thế giới giả. (ST)

PHƯỚC THÌ NHIỀU, NHƯNG VẪN KHÔNG THẮNG NỔI NHÂN QUẢ…Một người cả đời làm nhiều việc thiện, thích bố thí, tích được rất n...
26/08/2026

PHƯỚC THÌ NHIỀU, NHƯNG VẪN KHÔNG THẮNG NỔI NHÂN QUẢ…
Một người cả đời làm nhiều việc thiện, thích bố thí, tích được rất nhiều phước lành.

Nhưng chỉ vì một tật xấu không chịu sửa, mà khi chuyển kiếp lại phải mang một thân hình vô cùng đáng sợ…

Đến khi gặp lại người bạn tu hành năm xưa, chính người bạn ấy đã tìm cách cứu ông khỏi thân phận đó.

Ngài An Thế Cao tên Thanh, tự Thế Cao, là vương tử nước An Tức (một nước cổ thuộc vùng đất Ba Tư, phía tây bắc Ấn Độ hiện nay).

Sau khi vua cha mất, Ngài lên nối ngôi, song do thấu đáo lẽ vô thường khổ không, nên sớm đã xem vinh hoa phú quý như bèo bọt mây nổi.

Khi mãn tang cha xong, Thế Cao liền nhường ngôi lại cho chú, còn mình xuất gia du phương học đạo. Với tài đức sẵn có, chẳng bao lâu Ngài đã thông đạt Tam Tạng, sở trường về A Tỳ Đàm và thiền quán đến mức nhập diệu.

Sau đó, Thế Cao đi qua các nước ở Tây Vực để hoằng hóa; vào niên hiệu Kiến Hòa thứ 2 đời Đông Hán Hoàn Đế (năm 148), lại đến Lạc Dương, Trung Quốc.

Thế Cao là người thông đạt sự lý, biết rõ nghiệp duyên của mình. Sự tích thần dị về đời Ngài thật không ai lường nổi.

Thế Cao từng kể tiền kiếp của mình là một vị xuất gia. Khi đó, kết giao thân tình với một vị sư. Vị này ưa thích bố thí cúng dường nhưng tánh tình lại hay sân hận. Mỗi khi đi khất thực, gặp thí chủ nào trái ý là ông liền nổi giận.

Thế Cao từng nhiều lần khuyên bảo mà ông ta vẫn không ăn năn cải đổi. Như thế hơn hai mươi năm, một hôm Ngài từ biệt người bạn ấy ra đi, nói rằng:

- Tôi đi Quảng Châu để trả cho hết túc nghiệp. Ông tinh tấn, thông đạt Kinh điển chẳng kém gì tôi, nhưng tánh còn nhiều sân hận. Sau khi mạng chung, e rằng ông phải bị đọa, mang thân hình xấu xa đáng sợ. Nếu tôi đắc đạo sẽ đến độ ông.

Sau đó, Ngài đến Quảng Châu, gặp thời giặc cướp hoành hành, khắp nơi loạn lạc.

Trên đường, Ngài gặp một tên thiếu niên. Hắn nhìn qua đã nổi nóng, rút dao ra tính giết Ngài. Ngài mỉm cười nói:

- Ta vì đời trước mắc nợ mạng của ông, nên từ xa đến đây để trả. Ông sở dĩ gặp ta liền nổi sân, là do có lòng hờn giận từ đời trước.

Nói xong, thản nhiên không chút sợ hãi, ung dung đưa cổ cho chém! Lúc ấy, người xem đứng chật cả hai bên đường, không ai là không kinh dị.

Sau đó, thần thức ông thác sinh lại làm vương tử nước An Tức, chính là An Thế Cao kiếp này.

Sau khi du hóa Trung Quốc, việc dịch Kinh hoằng Pháp đã xong, gặp loạn Mạc Quan Lạc thời Hán Linh Đế (niên hiệu Kiến Ninh thứ ba - 170), Ngài bèn chấn tích đi đến Giang Nam, nói rằng:

- Tôi sẽ đến Giang Nam để độ người bạn đồng tu xưa.

Thuyền đi đến hồ Cung Đình. Nơi đây có một miếu thờ thần nổi tiếng linh thiêng. Các thương khách đi ngang nếu ghé lại cúng lễ, thì đi đường sẽ xuôi buồm thuận gió.

Trước đây từng có người đến đốn trộm trúc trồng ở quanh miếu, rồi cho thuyền chở đi. Nhưng thuyền đi được một đỗi liền bị lật chìm, trúc trôi trở lại nơi cũ. Từ đó, thuyền nhân đều kinh sợ, không ai dám động phạm đến miếu này.

Lúc An Thế Cao cùng hơn ba mươi người khách đồng thuyền đi ngang qua, một vài người đại diện mang lễ vật lên miếu cúng tế để cầu bình an.

Thần miếu liền giáng xuống bảo rằng:

- Trong thuyền có Sa môn, xin mời lên đây!

Mọi người đều kinh ngạc, vội mời An Thế Cao lên miếu.

Ngài vào miếu, thần liền bảo:

- Thuở xưa tôi cùng Ngài xuất gia học đạo. Tôi thích bố thí mà tánh lại hay sân hận nên phải bị đọa làm thần giữ miếu ở hồ Cung Đình, cai quản chu vi cả ngàn dặm.

Tôi nhờ phước bố thí nên tài vật dồi dào, song do sân hận phải bị đọa làm thần giữ miếu. Nay gặp lại bạn tu xưa thật vui buồn lẫn lộn, khôn xiết bùi ngùi.

Thọ mạng tôi chẳng còn bao lâu. Thân hình to lớn xấu ác của tôi nếu chết ở đây e rằng sẽ làm ô uế sông hồ, nên định dời sang đầm Sơn Tây. Tôi chết đi sợ sẽ đọa vào địa ngục.

Tôi có ngàn xấp lụa và các thứ bảo vật, xin Ngài nhận lấy để xây chùa tháp, cầu siêu độ cho tôi.

An Thế Cao nói:

- Tôi đến đây là cốt để độ ông. Sao ông không hiện ra cho thấy nguyên hình?

Thần đáp:

- Thân tôi quá xấu xa đáng sợ, e rằng khiến mọi người kinh hãi.

Thế Cao bảo:

- Xin chỉ hiện một phần nào mà mọi người trông thấy không kinh sợ.

Thần liền từ phía sau giường đưa đầu lên. Thì ra là con mãng xà lớn, không biết cả mình dài bao nhiêu, chỉ thấy đầu cao đến gối.

Ngài An Thế Cao liền đọc vài biến Kinh tiếng Phạn cho nó nghe. Nghe xong, mãng xà buồn bã, lệ rơi lã chã, giây lát liền ẩn mất.

Sau đó, Thế Cao thu dọn lụa là và đồ vật trong miếu rồi xuống thuyền ra đi.

Thuyền d**g buồm rời bến, mãng xà leo lên núi nhìn theo đến hút tầm mắt. Khi đến Dự Chương, Ngài đem những đồ vật của thần miếu dùng vào việc xây cất chùa Đông Tự.

Lúc Thế Cao đi rồi, thần mạng chung.

Tối đến, mọi người thấy có một thiếu niên đến quì trước An Thế Cao nhận lời chú nguyện, giây lát bỗng nhiên không thấy đâu cả.

Thế Cao nói với những người chung thuyền:

- Thiếu niên đó chính là vị thần ở ngôi miếu tại hồ Cung Đình, nay đã thoát được thân xấu ác.

Từ đó, miếu hết linh thiêng. Sau này, người ta thấy một con mãng xà rất lớn chết ở đầm Sơn Tây. Nơi đây nay trở thành Xà thôn (làng Rắn) ở huyện Tầm Dương.

An Thế Cao sau đó đi Quảng Châu, tìm đến nhà vị thiếu niên đời trước giết mình. Vị thiếu niên kia nay vẫn còn, song đã trở thành ông lão tóc bạc.

Thế Cao gặp vị đó, liền nhắc lại chuyện trả nợ mạng xưa kia của mình và nói rõ nhân duyên đời trước, rồi hoan hỷ bảo:

- Ta nay vẫn còn chút dư báo, nên phải đi Cối Kê để trả cho xong!

Vị khách Quảng Châu đó nhận ra Thế Cao là bậc phi phàm nên chợt tỉnh ngộ, ăn năn tội lỗi trước kia. Từ đó vô cùng cung kính An Thế Cao và tình nguyện đi theo đến Cối Kê.

Đến nơi vào chợ, gặp lúc có loạn, người ta đánh lầm trúng đầu Ngài, nhân đó liền qua đời.

Vị khách Quảng Châu hai lần chứng kiến việc trả quả báo của Ngài nên vô cùng tin sợ nhân quả, tinh tấn tu tập và thuật lại đầu đuôi câu chuyện này cho mọi người biết.

Xa gần hay biết, không ai là không thương tiếc!

(Trích Cao Tăng Truyện)

______________________________________

🙏 TẶNG KINH SÁCH PHẬT PHÁP MIỄN PHÍ 🙏

Quý vị hoan hỷ đọc kỹ hướng dẫn bên dưới. Ban chỉ nhận đăng ký qua Zalo, mọi bình luận hoặc tin nhắn Messenger xin phép không ghi nhận.

Quý vị có mong muốn tìm hiểu và tu học Phật pháp, hoan hỷ nhắn tin đăng ký qua Zalo: 0376 309 077 để Ban Ấn Tống gửi tặng một số kinh sách, pháp bảo đang có sẵn.

Khi nhắn tin, quý vị vui lòng gửi theo mẫu sau:
- Họ tên:
- Địa chỉ:
- Số điện thoại:
- Tên kinh sách muốn nhận (tối đa 5 quyển):

Tất cả kinh sách đều được gửi tặng miễn phí. Quý vị chỉ thanh toán phí vận chuyển cho bưu tá khi nhận hàng (khoảng 30.000đ).

*Một vài lưu ý:

- Chỉ thỉnh khi thật sự có nhu cầu tu học.
- Không thỉnh giùm người khác.
- Vui lòng nghe máy khi shipper liên hệ để tránh thất lạc.
- Nhắn tin ngắn gọn, đúng nội dung để Ban thuận tiện lưu đơn.

*Một số kinh sách, pháp bảo hiện có:

- Kinh Địa Tạng
- Kinh Vô Lượng Thọ
- Kinh A Di Đà
- Kinh Dược Sư
- Kinh Phổ Hiền Hạnh Nguyện
- Từ Bi Thủy Sám
- Sách Niệm Phật Thập Yếu
- Sách Bệnh Viện Trả Về - Phật Pháp Cứu Sống
- Nghi Thức Sám Hối Cầu Siêu Oan Gia, Thai Nhi, Duyên Âm, Phóng Sinh

Sau khoảng 1 tuần, quý vị sẽ nhận được kinh sách nếu đủ duyên.

Đây là hoạt động tặng kinh sách hoàn toàn miễn phí, không kinh doanh, không buôn bán, chỉ với tâm nguyện gieo duyên Phật pháp đến những người hữu duyên.

Kính mong quý vị không sao chép lại phần thông báo này để đăng ở nơi khác, vì cách thức tặng có thể thay đổi theo từng thời điểm.

Cầu chúc quý vị thân tâm an lạc, hữu duyên với Tam Bảo và Pháp Bảo nhiệm mầu.

🙏 Nam Mô A Di Đà Phật 🙏

25/08/2026

KHI BẠN THÀNH TÂM TU HÀNH, QUỶ THẦN NHÌN THẤY ĐỀU KÍNH TRỌNG BẠN
Chúng ta đọc kinh, niệm Phật đều có thiên long quỷ thần đến nghe, mắt thịt chúng ta nhìn không thấy nhưng có thể cảm nhận được. Họ đến vì kính trọng đức hạnh tu hành của bạn.

Dù chỉ có một người đọc kinh, người đó ở trong phòng đọc kinh chẳng có ai nhìn thấy, có thiên long quỷ thần đến, nhiều khi chúng ta sẽ ngửi được mùi hương lạ, đây là việc thường gặp nhất. Hương này từ đâu đến?

Lúc chúng ta tụng kinh với tấm lòng thành kính, thiện thần đi ngang gặp lúc bạn tụng kinh, họ sẽ dừng lại chắp tay cung kính tán thán, trên thân họ có mùi hương, do đó bạn ngửi được mùi hương lạ này.

Cho nên khi chúng ta tụng kinh, niệm Phật, đừng tưởng là không có ai nhìn thấy, mắt thịt chúng ta nhìn không thấy chứ thật ra có rất nhiều thiên long quỷ thần này đang ở xung quanh đến lắng nghe.

Bạn hiểu được đạo lý và sự thật này thì phải giác ngộ, khi chúng ta khởi một ác niệm, làm một việc xấu đừng tưởng là không có ai biết, thiên long quỷ thần đều biết.

Bạn có thể gạt người chứ không thể gạt quỷ thần, đúng như câu nói: Trên đầu ba thước đều có thần minh, lời này là thật chẳng phải giả.
HT. Tịnh Không.

VU LAN KHAI KINH – HIẾU HẠNH BÁO ÂNCUNG KÍNH NGHE RẰNG:Hiếu hạnh đứng đầu muôn hạnh, là nguồn vun bồi phước đức;Từ tâm r...
25/08/2026

VU LAN KHAI KINH – HIẾU HẠNH BÁO ÂN

CUNG KÍNH NGHE RẰNG:

Hiếu hạnh đứng đầu muôn hạnh, là nguồn vun bồi phước đức;
Từ tâm rộng khắp vạn loài, là cửa mở vào đường giải thoát.

Ơn cha cao tựa núi non, che chở đời con qua bao giông bão;
Nghĩa mẹ rộng như biển cả, nuôi dưỡng thân con suốt những tháng ngày.
Một đời sinh dưỡng, bao phen nhọc nhằn chẳng kể;
Muôn nỗi lo toan, trọn kiếp hy sinh chẳng tiếc.
Mười tháng cưu mang, mẹ chịu đớn đau mà vẫn một lòng gìn giữ;
Một lần sinh nở, mẹ quên thân mình chỉ mong con được vuông tròn.
Con vừa cất tiếng khóc chào đời, cha mẹ đã gửi vào đời bao ước nguyện;
Con vừa chập chững bước đi, song thân đã dìu dắt qua biết bao nẻo đường.
Miếng ngon cha nhường, áo ấm mẹ dành;
Đêm khuya con bệnh, cha thao thức; ngày dài con khổ, mẹ chẳng an lòng.
Con lớn một phần, cha mẹ già đi một tuổi;
Con dựng cuộc đời, mái tóc song thân thêm bạc trắng.

Ơn ấy cao hơn non Thái, biết lấy gì mà sánh;
Nghĩa này sâu hơn biển rộng, biết lấy gì mà đền.
Dẫu cơm ngon áo đẹp phụng dưỡng trọn đời, cũng khó đáp một phần sinh dưỡng;
Dẫu vàng bạc châu báu chất đầy, cũng chẳng cân nổi một niệm từ ân.
Bởi vậy, báo hiếu chẳng riêng lo cho thân thể;
Mà còn phải hộ trì tâm thức, hướng cha mẹ về nẻo thiện lành.
Chẳng những phụng dưỡng khi cha mẹ hiện tiền;
Mà còn phải hồi hướng công đức khi song thân đã khuất.
Chẳng những thương một đời cha mẹ;
Mà còn mở rộng tâm hiếu, nhớ nghĩ cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp.

Nhớ thuở Đức Thế Tôn còn tại thế,
Tôn giả Mục-kiền-liên thần thông đệ nhất, chứng quả A-la-hán, quán sát sáu đường sinh tử, tìm xem mẫu thân sau khi mạng chung sinh về đâu.
Ngài thấy mẹ Thanh Đề đọa nơi đường ngạ quỷ, chịu đói khát khổ đau, thân hình tiều tụy, ngày tháng triền miên trong cảnh khốn cùng.
Người con hiếu tử thương mẹ khôn nguôi, liền vận thần thông đem bát cơm dâng mẹ.
Nào ngờ nghiệp lực chưa tiêu, cơm vừa đưa đến miệng đã hóa thành than lửa;
Mẹ muốn ăn mà chẳng thể ăn, con muốn cứu mà thần lực chẳng thể chuyển nghiệp.
Tôn giả đau lòng, trở về đảnh lễ Như Lai, thiết tha cầu Phật chỉ bày phương tiện cứu mẹ.
Đức Phật mở lòng đại bi, dạy rằng sức một người tuy lớn, nhưng nghiệp duyên nhiều đời chẳng dễ tự mình chuyển đổi;
Phải nương công đức thanh tịnh của đại chúng, nhân ngày chư Tăng mãn hạ Tự Tứ, chí thành thiết lễ cúng dường, đem phước lành hồi hướng cho cha mẹ.
Đến ngày rằm tháng Bảy, phẩm vật thanh tịnh dâng cúng mười phương Tăng chúng;
Nhờ công đức hòa hợp thanh tịnh, nhờ tâm hiếu chí thành hồi hướng, mẹ Thanh Đề được thoát khỏi cảnh khổ, sinh về đường lành.
Từ một lòng hiếu tử của Mục-kiền-liên, pháp hội Vu Lan lưu truyền;
Từ một nỗi thương mẹ của người xưa, mở ra một pháp môn báo ân cho người đời sau.
Bởi thế, Vu Lan chẳng chỉ là mùa nhớ mẹ;
Mà là mùa đánh thức tâm hiếu, mùa gieo trồng phước đức, mùa nhắc người con biết quay về nguồn cội.

Lại theo lời Phật Thuyết Phụ Mẫu Ân Trọng Kinh,
Đức Như Lai chỉ bày từng tầng ân sâu của cha mẹ đối với con cái.
Ơn mang thai cưu giữ, tháng ngày thân mẹ chịu nhọc;
Ơn sinh nở gian nan, phút giây mạng sống giữa cơn nguy.
Ơn sinh con quên khổ, vừa nghe tiếng khóc đã quên bao đau đớn;
Ơn nuốt đắng nhường ngọt, món ngon dành trẻ, phần cay đắng nhận về mình.
Ơn nhường khô nằm ướt, chỗ khô nhường con, chỗ ướt cha mẹ nằm;
Ơn bú mớm nuôi dưỡng, đem dòng sữa thân mình nuôi lớn hình hài.
Ơn tắm rửa chăm nom, chẳng quản hôi tanh, chẳng nề nhọc nhằn;
Ơn xa con thương nhớ, con đi muôn dặm mà lòng cha mẹ vẫn theo cùng.
Ơn che chở trọn đời, con dù khôn lớn vẫn là đứa trẻ trong mắt song thân;
Ơn thương yêu chẳng dứt, năm tháng càng dài, tình nghĩa càng sâu.

Mười ân kể hết mà một đời chưa trả đủ;
Muôn lời nói hết mà một chữ hiếu vẫn chưa cùng.
Cho nên người con biết hiếu, phải kính thuận cha mẹ;
Phải phụng dưỡng khi tuổi già, chăm sóc khi bệnh yếu, an ủi lúc cô đơn.
Cha mẹ cần cơm, dâng cơm bằng lòng cung kính;
Cha mẹ cần thuốc, lo thuốc bằng tâm tận tụy.
Cha mẹ buồn, tìm lời khuyên giải;
Cha mẹ giận, lấy nhẫn nhường mà hóa giải.
Đừng để một đời sinh dưỡng đổi lấy những tháng ngày lạnh nhạt;
Đừng để đến lúc song thân khuất bóng mới ôm di ảnh mà than tiếc.

Nhưng kinh điển Đại thừa còn dạy rằng,
Phụng dưỡng thân mạng tuy quý, mà hướng dẫn tâm linh còn sâu;
Cho cha mẹ cơm áo tuy là hiếu, mà giúp cha mẹ biết làm lành lánh dữ càng là đại hiếu.
Nếu cha mẹ chưa biết Tam bảo, tùy duyên khuyên về chánh pháp;
Nếu cha mẹ còn nhiều phiền não, lấy lòng từ mà hóa giải;
Nếu cha mẹ tạo nghiệp bất thiện, khéo lời khuyên ngăn;
Nếu cha mẹ đã phát tâm tu hành, hết lòng tùy hỷ hộ trì.
Bởi nuôi thân chỉ giúp cha mẹ an vui một đời;
Dẫn tâm hướng thiện mới giúp cha mẹ gieo nhân an lạc nhiều đời.

Lại nhớ Kinh Địa Tạng,
Địa Tạng Đại Bồ-tát từ lòng hiếu kính mẹ mà phát đại nguyện cứu độ chúng sinh.
Thuở xưa có người con vì thương mẫu thân chịu nghiệp khổ, chí thành tu phước, lễ kính Như Lai, đem công đức hồi hướng cho mẹ.
Từ một niệm thương mẹ mà phát tâm rộng lớn;
Từ một người mẹ mà mở thành đại nguyện cứu độ muôn loài.
Địa Tạng Bồ-tát nguyện vào nơi tối tăm cứu người đang chịu khổ;
Nguyện đến những cảnh giới hiểm nguy dìu dắt chúng sinh trở về nẻo thiện.
Một chữ hiếu, từ tình thân mà mở rộng thành lòng đại bi;
Một niệm ân, từ cứu mẹ mà phát thành nguyện cứu tất cả chúng sinh.
Bởi trong biển sinh tử vô tận, ai biết được người hôm nay xa lạ, đã từng là cha mẹ ta thuở quá khứ;
Ai biết được người đang chịu khổ nơi sáu đường, đã từng kết duyên thân thuộc với ta từ vô lượng kiếp.
Nghĩ được như vậy, tâm hiếu chẳng còn giới hạn trong một gia đình;
Mà rộng ra thành tâm từ vô lượng, thương người như thương chính cha mẹ mình.

Lại trong Kinh Đại Bát Niết-bàn,
Hạnh hiếu được đặt trong mối tương quan với nhân quả, thiện ác và con đường giải thoát.
Cha mẹ là ruộng phước gần gũi của người con;
Biết cung kính, phụng dưỡng, làm cho cha mẹ an vui, chính là gieo nhân lành sâu dày.
Nhưng thân này vốn vô thường, mạng người chẳng chắc lâu dài;
Cha mẹ rồi sẽ già, con rồi cũng bệnh, gặp nhau rồi cũng có ngày chia biệt.
Nếu chỉ lo cho cha mẹ được sung túc trong một đời, vẫn chưa chạm đến chỗ tận cùng của đạo hiếu;
Phải giúp cha mẹ biết nhân quả, biết thiện ác, biết giữ gìn thân khẩu ý, biết quay về nương tựa Tam bảo.
Bởi hiếu thế gian là làm cho cha mẹ được vui trong hiện tại;
Hiếu xuất thế gian là giúp cha mẹ gieo nhân lìa khổ, hướng đến an lạc lâu dài.
Một bữa cơm làm ấm thân cha mẹ;
Một câu Phật pháp có thể làm sáng tâm cha mẹ.
Một chiếc áo che thân khỏi lạnh;
Một niệm thiện có thể che chở tâm khỏi đường dữ.
Ấy mới là ý nghĩa sâu xa của hạnh hiếu trong giáo pháp Như Lai.

Cho nên người con học Phật hôm nay,
Chớ đợi mùa Vu Lan mới nhớ mẹ cha;
Chớ đợi ngày giỗ chạp mới dâng một nén hương.
Khi cha mẹ còn sống, hãy biết kính yêu;
Khi cha mẹ còn khỏe, hãy biết phụng dưỡng.
Một lời hỏi han có thể làm ấm lòng người già;
Một cử chỉ cung kính có thể xoa dịu bao tháng năm nhọc nhằn.
Đừng vì công việc mà quên cha;
Đừng vì cuộc sống riêng mà xa mẹ.
Đừng để những điều chưa kịp nói trở thành nỗi ân hận suốt đời;
Đừng để một ngày muốn báo ân mà người đã không còn trên thế gian.

Nếu cha mẹ đã quá vãng,
Chớ chỉ chìm trong thương nhớ mà quên tu tập.
Hãy tụng kinh, niệm Phật;
Hãy bố thí, phóng sinh, làm lành, cứu khổ;
Hãy hộ trì Tam bảo, gieo trồng công đức;
Hãy đem tất cả thiện nghiệp hồi hướng cho cửu huyền thất tổ.
Một nén hương dâng lên, quý ở lòng thành;
Một thời kinh tụng, quý ở tâm hành.
Một mùa Vu Lan, quý không phải ở đóa hoa trên ngực áo;
Mà ở chỗ người con biết quay về sửa mình, biết thương cha kính mẹ, biết sống một đời thiện lành.

Nay nhân mùa Vu Lan Báo Hiếu,
Các chùa tùy thuận nhân duyên, khai mở thời khóa Kinh Vu Lan Báo Hiếu,
Nguyện đem pháp âm thanh tịnh, tưới mát lòng người, đánh thức tâm hiếu đang ngủ quên giữa cuộc đời nhiều bận rộn.
Kính mời toàn thể quý Phật tử gần xa,
Tạm gác việc đời, tạm buông duyên thế, cùng trở về chốn Tổ.
Vào lúc 19 giờ hằng ngày
Cùng nhau lễ Phật, tụng kinh, niệm Phật;
Lắng lòng theo tiếng chuông ngân, nhiếp niệm giữa đạo tràng thanh tịnh;
Đồng thanh cất lời kinh kệ, đồng phát tâm chân thành báo đáp thâm ân.

Nguyện mỗi tiếng chuông là một lời nhắc nhớ mẹ cha;
Nguyện mỗi câu kinh là một đóa sen dâng lên song thân.
Nguyện người còn cha mẹ biết trân quý từng ngày sum họp;
Nguyện người mất cha mẹ biết tinh tấn tu hành, đem công đức hồi hướng.
Nguyện cha mẹ hiện tiền, thân tâm thường an lạc, phước thọ tăng long, nghiệp chướng tiêu trừ, gia đạo thuận hòa, thiện căn tăng trưởng;
Nguyện cha mẹ quá vãng, cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân, nương nhờ Tam bảo, lìa xa nghiệp khổ, sinh về cảnh thiện, kết duyên Bồ-đề.
Nguyện oan thân trái chủ nhiều đời, cùng được nghe kinh nghe pháp, đồng kết duyên lành, hóa giải oán kết, lìa khổ được vui.
Nguyện người người biết hiếu, nhà nhà biết thương;
Nguyện đạo hiếu được lưu truyền, tâm từ được rộng mở;
Nguyện từ một mái nhà lan ra muôn mái nhà, từ một người con hiếu thảo cảm hóa muôn người biết sống ân nghĩa.

Hiếu từ một nhà mà rộng khắp chúng sinh;
Từ một niệm thương mẹ mà phát khởi đại bi.
Báo ân cha mẹ, trước phải biết sửa mình;
Cứu độ song thân, trước phải biết tu tâm.
Đem thân hành thiện để cha mẹ được an lòng;
Đem tâm tu thiện để cha mẹ nhiều đời được lợi lạc.
Đem phước đức hồi hướng người đã khuất;
Đem lòng từ trải khắp người còn hiện tiền.

Nguyện cho mùa Vu Lan năm nay,
Không chỉ có hoa hồng nở trên ngực áo, mà hoa hiếu nở trong lòng người;
Không chỉ có khói hương bay giữa mái chùa, mà tâm tri ân lan tỏa giữa nhân gian.
Nguyện người còn mẹ biết cúi đầu gọi một tiếng mẹ;
Nguyện người còn cha biết kính cẩn gọi một tiếng cha.
Để khi tóc mẹ còn xanh, ta biết thương mẹ;
Khi tóc cha còn đen, ta biết kính cha;
Để một ngày mai khi bóng mẹ cha khuất xa, lòng người không còn mang nỗi tiếc thương vì những điều chưa kịp làm.

Nguyện đem công đức tụng kinh, lễ Phật hôm nay,
Hồi hướng cha mẹ hiện tiền, cha mẹ quá vãng;
Hồi hướng cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân;
Hồi hướng pháp giới chúng sinh, đồng lìa khổ não, cùng hưởng an vui.

Nguyện cha mẹ hiện tiền, phước tăng, thọ trưởng, thân tâm an lạc;
Nguyện cha mẹ quá vãng, nghiệp chướng tiêu trừ, siêu sinh thiện giới;
Nguyện cửu huyền thất tổ, đồng nương Phật lực, lìa mê về giác;
Nguyện tất cả chúng sinh, đều biết tri ân, hành hiếu, tu thiện, phát tâm Bồ-đề.

Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

🛑 ĐỨC PHẬT DẠY: MỌI KHỔ ĐAU ĐỀU BẮT ĐẦU TỪ VÔ MINH Người ta thường nghĩ đời khổ vì nghèo, vì bệnh, vì người khác làm mìn...
25/08/2026

🛑 ĐỨC PHẬT DẠY: MỌI KHỔ ĐAU ĐỀU BẮT ĐẦU TỪ VÔ MINH

Người ta thường nghĩ đời khổ vì nghèo, vì bệnh, vì người khác làm mình tổn thương.

Nhưng Đức Phật chỉ ra một nguyên nhân sâu xa hơn.

Đó là VÔ MINH.

Khi không thấy đúng sự thật về cuộc đời, con người sẽ nghĩ sai, nói sai, làm sai và rồi tự tạo ra khổ đau cho chính mình.

---

⛩️ VÔ MINH LÀ GỐC RỄ CỦA MỌI ĐIỀU BẤT THIỆN

Đức Phật dạy:

Khi vô minh đi đầu, thì không biết hổ thẹn và không biết sợ điều ác sẽ theo sau.

Rồi từ đó sinh ra:

📿 Tà kiến. Tà tư duy.

📿 Tà ngữ. Tà nghiệp.

📿 Tà mạng. Tà tinh tấn.

📿 Tà niệm. Tà định.

Giống như đi nhầm bước đầu tiên. Càng đi càng xa.
Càng đi càng lạc.
Cuối cùng rơi vào khổ đau mà không hiểu vì sao.

---

🌿 NGƯỢC LẠI, KHI CÓ TRÍ TUỆ...

Khi minh đi đầu, người ấy bắt đầu thấy đúng.
Thấy đúng thì nghĩ đúng.
Nghĩ đúng thì nói đúng.

Nói đúng thì làm đúng.
Làm đúng thì sống đúng.

Và từng bước hình thành BÁT CHÁNH ĐẠO:

📿 Chánh kiến.

📿 Chánh tư duy.

📿 Chánh ngữ.

📿 Chánh nghiệp.

📿 Chánh mạng.

📿 Chánh tinh tấn.

📿 Chánh niệm.

📿 Chánh định.

Đó là con đường Đức Phật chỉ dạy để chấm dứt khổ đau.

---

🛑 MUỐN ĐI XA TRÊN ĐƯỜNG TU, PHẢI CÓ THIỆN BẠN.

Một hôm, Tôn giả A-nan bạch với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, con nghĩ thiện bạn chỉ là một nửa đời sống phạm hạnh."

Đức Phật liền dạy:
"Đừng nói như vậy, này A-nan. Thiện bạn chính là TOÀN BỘ đời sống phạm hạnh."

Ở gần người có giới đức, mình học được giới đức.
Ở gần người tinh tấn, mình được nhắc nhở tinh tấn.

Ở gần người có trí tuệ, mình bớt mê lầm.
Bạn đồng hành có thể kéo mình lên...

Hoặc kéo mình xuống.

---

🌿 CHỌN BẠN CŨNG CHÍNH LÀ CHỌN TƯƠNG LAI CỦA MÌNH.

Muốn tiến bộ trong Chánh pháp...Hãy gần người sống chân thật.

Muốn giữ tâm thanh tịnh...
Hãy gần người có giới hạnh.

Muốn lớn lên trong trí tuệ...
Hãy gần người biết lắng nghe và thực hành lời Phật dạy.

Người xưa có câu:
"Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng."

Điều này rất gần với lời Đức Phật về thiện bạn hữu.

---

🚩 BÁT CHÁNH ĐẠO LÀ CỖ XE ĐƯA RA KHỎI KHỔ ĐAU.

Đức Phật ví Bát Chánh Đạo như cỗ xe quý nhất.
Không phải cỗ xe bằng vàng.
Không phải xe do ngựa đẹp kéo.
Mà là cỗ xe đưa con người vượt khỏi tham, sân và si.

Chiếc xe ấy có:

📿 Chánh kiến làm người dẫn đường.

📿 Giới luật làm nền tảng.

📿 Chánh niệm giữ tay lái.

📿 Thiền định làm trục bánh xe.

📿 Tinh tấn giúp xe tiến về phía trước.

📿 Trí tuệ đưa người đến bến bờ an ổn.

Ai ngồi trên cỗ xe ấy, người đó sẽ đi đúng hướng và đến nơi an toàn.

---

🛑 BÀI HỌC ĐỨC PHẬT MUỐN GỬI ĐẾN CHÚNG TA

Muốn đổi cuộc đời...
Đừng chỉ đổi hoàn cảnh.

Hãy đổi cách thấy.
Muốn hết khổ... Đừng chỉ mong người khác thay đổi.
Hãy học Chánh pháp để phá tan vô minh.

Muốn đi xa trên con đường giác ngộ...
Đừng đi một mình giữa người mê.

Hãy tìm thiện bạn, nương tựa Chánh pháp và kiên trì bước đi trên Bát Chánh Đạo.

🔴 Vô minh dẫn con người vào luân hồi. Trí tuệ mở cánh cửa giải thoát. Gặp được thiện bạn là một phước lớn, nhưng phải biết thực hành lời Đức Phật dạy mới là điều đưa chúng ta đến an lạc thật sự, chấm dứt Khổ đau.

🛑 CHỪNG NÀO CÒN NÓI "ĐÂY LÀ TÔI", CHỪNG ĐÓ KHỔ ĐAU VẪN KHÔNG BUÔNG THA!Có người nghĩ rằng khổ đau đến từ người khác, từ ...
24/08/2026

🛑 CHỪNG NÀO CÒN NÓI "ĐÂY LÀ TÔI", CHỪNG ĐÓ KHỔ ĐAU VẪN KHÔNG BUÔNG THA!

Có người nghĩ rằng khổ đau đến từ người khác, từ hoàn cảnh hay số phận. Nhưng Đức Phật chỉ ra rằng gốc rễ của mọi khổ đau nằm ở sự chấp thủ và ảo tưởng về một cái "Tôi".

📿 "TÔI LÀ" CHỈ XUẤT HIỆN KHI CÒN CHẤP THỦ

Một hôm tại Kỳ Viên, Tôn giả A-nan kể lại lời dạy mà ngài Puṇṇa Mantāniputta từng chỉ dạy cho mình lúc mới xuất gia:

«"Do chấp thủ nên khởi lên ý nghĩ: 'Tôi là'. Không chấp thủ thì không có ý nghĩ: 'Tôi là'."»

Chấp thủ cái gì?

Là chấp thủ sắc, thọ, tưởng, hành và thức – tức năm uẩn tạo thành cái mà con người thường gọi là "ta".

Còn nắm giữ năm uẩn thì còn nghĩ:

- "Đây là tôi."
- "Đây là của tôi."
- "Đây là tự ngã của tôi."

Khi năm uẩn thay đổi, già đi, bệnh tật hay tan hoại, người ấy lập tức sinh ra sầu, bi, khổ, ưu, não.

Đó chính là nguồn gốc của sinh tử luân hồi.

__

🎴 TẤM GƯƠNG CỦA BẢN NGÃ

Ngài Puṇṇa đưa ra một ví dụ rất gần gũi.

Một người soi gương hay soi mặt vào chậu nước trong. Hình ảnh chỉ xuất hiện khi có gương và có sự bám víu vào hình bóng ấy.

Cũng vậy, ý niệm "Tôi là" chỉ xuất hiện khi còn chấp thủ năm uẩn.

Nếu không còn chấp thủ thì cái "Tôi" cũng không còn chỗ để bám víu.

📿 MỌI THỨ ĐỀU VÔ THƯỜNG

Ngài hỏi Tôn giả A-nan:

- Sắc có vô thường không?
- Thọ có vô thường không?
- Tưởng có vô thường không?
- Hành có vô thường không?
- Thức có vô thường không?

Tất cả đều vô thường.
Điều gì vô thường thì không đáng để xem là "Ta".

Khi thấy đúng như thật như vậy, tâm ly tham, buông bỏ chấp thủ và hướng đến giải thoát.

---

🛑 KHI CÒN THAM ÁI, MẤT ĐIỀU GÌ CŨNG KHỔ

Một lần khác, Tôn giả Tissa thưa với Đức Phật rằng tâm mình nặng nề, hôn trầm, nghi ngờ Chánh pháp và tu tập không còn an lạc.
Đức Phật không trách.

Ngài chỉ hỏi:
"Nếu một người còn tham ái đối với sắc, khi sắc đổi thay, người ấy có khổ không?"

Tissa đáp:
"Có, bạch Thế Tôn."

Đức Phật tiếp tục hỏi như vậy với thọ, tưởng, hành và thức.

Câu trả lời đều giống nhau.

Chừng nào còn tham ái thì chừng đó còn đau khổ khi mọi thứ đổi thay.

Rồi Đức Phật hỏi ngược lại:
"Nếu người đã ly tham đối với năm uẩn, khi chúng biến đổi, người ấy còn sầu khổ không?"

Tissa đáp:
"Thưa không."

Đức Phật xác nhận:
Đó chính là con đường chấm dứt khổ đau.
___

📿 CON ĐƯỜNG ĐÚNG VÀ CON ĐƯỜNG SAI

Đức Phật ví người phàm như người lạc đường.
Muốn đến nơi an ổn phải đi đúng hướng.

Ngài giải thích:
- Con đường bên trái là Tà đạo tám ngành, đưa đến mê lầm.
- Con đường bên phải là Bát Thánh Đạo, đưa đến giải thoát.
- Khu rừng rậm tượng trưng cho vô minh.
- Đầm nước tượng trưng cho dục lạc.
- Vực sâu tượng trưng cho sân hận và ưu não.
- Khoảnh đất bằng phẳng, tươi đẹp chính là Niết-bàn.

Người có trí sẽ không dừng lại giữa rừng vô minh hay đầm lầy dục vọng, mà kiên trì bước theo Chánh Đạo cho đến khi ra khỏi sinh tử.
___

📚 Nguồn trích: Tương Ưng Bộ Kinh (Saṃyutta Nikāya), Khandha Saṃyutta – Kinh Ananda (SN 22.83) và Kinh Tissa (SN 22.84).
____

🪵 LỜI BÌNH

Con người cả đời mệt mỏi vì bảo vệ một cái "Tôi" vốn chưa từng thật sự tồn tại.

Có người đánh đổi cả đạo đức để giữ tiền.
Có người đánh đổi sức khỏe để giữ sắc đẹp.
Có người đánh đổi sự bình an để giữ danh vọng.

Nhưng cuối cùng, tất cả đều phải buông.

Điều đau đớn không phải vì vô thường xuất hiện, mà vì ta muốn cái vô thường phải mãi thuộc về mình.

Đức Phật không dạy chúng ta ghét cuộc đời.
Ngài chỉ dạy đừng dính mắc vào những gì vốn phải tan rã.

Người còn mê đắm dục lạc giống như con thiêu thân lao vào lửa. Ban đầu thấy ấm áp, sau cùng chỉ còn cháy rụi.

Người biết quán vô thường, khổ và vô ngã sẽ dần nhàm chán dục lạc, buông bỏ chấp thủ, phát khởi ly tham và tinh tấn thực hành Bát Thánh Đạo.

Đó là con đường duy nhất đưa đến chấm dứt khổ đau, vượt khỏi sinh tử luân hồi và chứng ngộ Niết-bàn.

Address

Phu Ly

Telephone

+84989393117

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chùa Tái Kênh- Phủ Lý- Hà Nam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Chùa Tái Kênh- Phủ Lý- Hà Nam:

Shortcuts

Share