03/08/2026
Bài 3B: Nghiệp Lý & Tái Sinh
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.
I. Nghiệp Lý:
Cứ mỗi lần một ác niệm hay thiện niệm (Tâm) lập tức tạo ra hai quả báo là “Quả Tái Sinh” và “Quả Bình Sinh”.
Nếu Nghiệp thiện ác ấy thuộc loại sanh báo nghiệp, thì ngay kiếp sống kế tiếp, ta sẽ theo đó mà đi tái sinh về cảnh giới tương ứng. Nếu nghiệp thiện ác ấy thuộc loại hậu báo nghiệp thì sẽ đưa ta đi tái sanh từ đời thứ hai trở về sau.
Trước khi các nghiệp thiện ác cho quả, thì ta không thể nói quả thiện ác được cất giữ ở đâu. Khi đủ duyên thì chúng tự có. Khi chưa đủ duyên thì không ai có thể nhìn thấy, chỉ biết được mà thôi.
* Như cây xoài khi chưa đến mùa ra hoa kết trái thì ta không thể nói hoa trái của cây xoài ấy hiện đang nằm ở đâu trên cây xoài.
* Như ngọn lửa trong một hộp quẹt chưa được bật lên, hay tiếng đàn của cây đàn khi chưa được khãy, thì không thể nói tiếng đàn đang nằm ở đâu.
Sau đây là một trường hợp minh họa cho Nghiệp Tái Sinh và Nghiệp Bình Sinh:
Giả định như lúc này là ngày X giờ X ta tạo nghiệp thiện Y. Lúc cuối đời khi tâm mệnh chung vừa xuất hiện, tâm mệnh chung tức là tâm cuối cùng để kết thúc một kiếp sống, thì chính quả báo của tâm thiện Y mấy mươi năm trước sẽ tạo ra một tâm đầu thai, cho ta đi về một cõi lành nào đó thuộc nhân Thiên. Được gọi là quả tái sinh.
Ngay sau thời điểm tái sinh ấy, cho đến tận lúc ta chết đi ở kiếp sống mới, có 06 thứ tâm quả (được tạo ra từ tâm thiện Y của kiếp trước) sẽ tiếp nối nhau sanh diệt liên tục qua từng sát na.
Một tâm thiện, tâm ác khi sanh ra tạo ra hai thứ quả:
1. Quả đầu tiên là quả đầu thai.
2. Kể từ sau giây phút đầu thai đó, có sáu thứ tâm liên tục xuất hiện tiếp nối nhau cho đến khi mình chết. Sáu thứ tâm này được gọi tên là quả bình sinh.
Tức là mỗi lần mình tạo tâm thiện hay tâm ác thì nó tạo ra hai thứ quả. Lúc đầu đời tạo ra quả đầu thai về cõi nào đó. Sau quả đầu thai đó là một loạt sáu tâm, chính là con của tâm thiện, tâm ác kiếp trước.
Từ sau lúc tái sinh trở đi cho đến lúc chết có sáu thứ tâm liên tục xuất hiện:
Tâm thứ nhất: Ý thức chủ quan (Hữu phần hay Hộ kiếp) Xuất hiện trong thời gian nhiều nhất trong cả một đời người vào các thời điểm như lúc ta ngủ, lúc ta bất tỉnh, và khoảng thời gian giữa các hoạt động của sáu căn.
Tâm đầu đời là tâm tái sinh, sau đó là hộ kiếp. Tâm hộ kiếp xuất hiện vô số lần và có ba thời điểm có mặt:
1. Lúc mình ngủ: Một ngày mình ngủ 12 tiếng thì nó kéo dài 12 tiếng. Nhưng thỉnh thoảng bị gián đoạn khi ta chiêm bao, hay như đang ngủ mà bị muỗi cắn, rớt mền, trời lạnh, nực quá ngồi dậy giữa đêm... Nó bị đứt khúc bởi những hoạt động lẻ tẻ đó, nhưng khi giấc ngủ ngon thì hộ kiếp xuất hiện liên tục là quả lành của tâm thiện niệm.
2. Quả tái sanh chỉ cho lần đầu thai đó thôi. Nhưng từ đó về sau cho quả bình sinh, gồm có sáu thứ, trong đó cái đầu tiên là tâm này xuất hiện lâu lúc mình ngủ. Nghĩa là khi nào có cái gì để mình nhìn thì tâm này ngưng lại để nhường chỗ cho tâm nhãn thức xuất hiện.
3. Tâm nhãn thức là tâm để mình nhìn. Khi không có hoạt động nào đặc biệt thì một người bình thường được tạm hiểu là đang chìm sâu trong giấc ngủ dài. Điều này ở đời sống nhân loại, giấc ngủ chỉ là 1/3 thời gian trong ngày và trong đời.
- Dòng chảy của tâm hộ kiếp ấy thỉnh thoảng gián đoạn để nhường chỗ cho tâm nhãn thức xuất hiện nhìn thấy những gì ta muốn nhìn (nếu là tâm nhãn thức được tạo từ nhân lành) và để mắt nhìn thấy thứ mình không muốn nhìn (nếu tâm này được tạo từ quả xấu).
Ngay sau mỗi lúc mắt, tai ghi nhận trần cảnh, tiếp theo sẽ có bốn dòng chảy tâm thức liên tục tiếp nối nhau để hoàn tất việc thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng.
* Khi người vừa nhìn thấy đóa hoa thì nhãn thức chỉ làm việc chụp hình đóa hoa và ta vẫn chưa kịp biết đó là gì. Sau đó là diễn biến tâm thức gồm khoảng 17 sác na xuất hiện để làm việc hồi tưởng lại hình ảnh mà mắt vừa ghi nhận. Diễn biến tiếp theo là 17 sác na khác xuất hiện để làm việc tổng hợp các chi tiết trên đóa hoa hồng. Tiếp theo là dòng chảy tâm thức gồm 17 sác na xuất hiện để làm việc định hình bông hồng. Cuối cùng là 17 sác na tâm xuất hiện để định danh hoa hồng.
Trong diễn biến (lộ tâm), tổng cộng ta có ít nhất 05 diễn biến tâm thức tiếp nối nhau sanh diệt để hoàn tất việc ghi nhận đóa hoa hồng hay xác định được mùi mình vừa ngửi là mùi gì. Năm diễn biến tâm thức ấy nhân với 17 sác na trong mỗi diễn biến thành 85 sác na. (hoặc tính theo các thuyết là 85 sác na). Trong mỗi diễn biến gồm 17 sác na ấy luôn có đúng 07 sác na thiện hoặc ác (thích hay bất mãn, thích ghét buồn vui). Khi đang xác định đó là hoa hồng tức là ngay từng bước nó đã có phần đó.
- Người tinh ý sẽ thấy rằng số lượng tâm hộ kiếp (Quả thiện ác) và các tâm nhân thiện ác có một chênh lệch rất lớn. Hầu hết trong đời sống của ta mỗi ngày đều là tâm quả từ thiện hay ác quá khứ. Đã là quả thì tự thân nó không phải thiện ác, nhưng chúng làm nền cho các nhân thiện ác xuất hiện. Tùy vào tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý và môi trường sống của mỗi cá nhân.
Trong mỗi chặng tâm thức 17 sác na đã nói ở trên có 07 sác na thiện hay ác. Có nghĩa là sau khi đầu thai thì hầu hết là tâm quả. Dòng đó thỉnh thoảng bị ngưng để nhường cho mắt, tai chen vô làm việc:
• Mỗi lần mắt làm việc có loạt năm chập xuất hiện.
• Mỗi lần lỗ tai làm việc có loạt năm chập xuất hiện.
Trong loạt năm chập đó, mỗi chập có 17 sát na. Trong 17 sác na chỉ có 07 sác na là thiện hay ác thôi, còn lại 10 sác na là tâm quả. Trước đó là hộ kiếp (vốn là quả), khi thấy nghe lại xuất hiện loạt năm chập, trong mỗi chập 17 sác na lại có 10 sác na quả. Như vậy chỉ còn lại bảy sác na thiện ác. Thiện ác này không giống nhau là vì tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý và môi trường sống.
* Bà kia ngắm hoa thì buồn do nhớ cuộc tình cũ.
* Bà này ngắm hoa thì vui do nhớ nghĩ đến chuyện thích thú. Nghĩa là tùy khuynh hướng.
Nhiều người nói nhìn thấy hoa có thể khởi tâm thiện. Nhưng bước ra phố, nhìn thấy cảnh vật xung quanh, phần lớn đều là tâm bất thiện. Tại sao đa số lại cho là thiện? Vì không chịu học để biết tâm thiện và tâm bất thiện là gì. Tưởng vui là tâm thiện, tưởng tình cảm, hoan hỷ thông thường là thiện hay định, đó là do không học A Tỳ Đàm. Người có học thì biết rằng cười chưa chắc là thiện. Ngồi trước tượng Phật hay chư tăng, nếu không tu thiền chánh niệm thì đa phần vẫn là tâm bất thiện (tham, sân, si ngầm ẩn).
Trong kinh nói đến 04 tốc độ chuyển đổi của tâm:
• Từ thiện qua ác: Dễ.
• Từ bất thiện qua thiện: Rất khó.
• Từ ác qua ác: Dễ.
• Từ giận chuyển sang tâm tư, từ hào sản chuyển sang bỏn xẻn, từ tùy hỷ chuyển sang ganh tỵ diễn ra rất nhanh, nhưng chiều ngược lại thì rất khó.
Tóm lược về Quả Tái Sanh và Quả Bình Sanh:
Cứ mỗi lần có một ác tâm hay thiện tâm xuất hiện, ta kín đáo tạo ra hai thứ quả:
• Quả tái sanh: Quả đầu thai vô cõi sướng hay khổ.
• Quả bình sanh: Những sướng hay khổ mà ta chịu đựng sau lúc đầu thai cho đến khi chết.
- Khi tắt thở kiếp này, lập tức (bên Nam Truyền không có quan niệm 49 ngày) ngay khi tâm mệnh chung vừa kết thúc kiếp cũ thì ta đầu thai ở kiếp mới. Sự đầu thai chỉ diễn ra trong một sác na tâm rất ngắn. Sác na tâm đó đưa mình vô cõi nào, thân phận nào, chủng loại nào thì gọi là “Quả Tái Sinh”.
Kể từ sau sác na đó cho đến lúc chết, tất cả những gì diễn ra trong khoảng giữa gồm 06 thứ tâm quả liên tục xuất hiện, gọi là quả bình sinh. Trong đó, tâm ý thức chủ quan (hộ kiếp) xuất hiện nhiều nhất, kéo dài liên tục, chỉ bị gián đoạn khi sáu căn tiếp xúc sáu trần.
- Trong tâm ta có “Tâm Thiện X1”, Lúc tắt thở thì X1 đó mới tạo ra “Quả Tái Sinh” chính là Quả của X1.
- Từ sau lúc tái sinh đó, ta có 06 thứ Tâm Quả được tạo ra bởi X1. Rồi nó kéo dài suốt kiếp sống của ta. Như 06 thứ đó nó thay phiên, xen kẻ nhau, trong đó “Ý Thức Khách Quan” xuất hiện liên tục nhiều nhất, khi xuất hiện quá lâu được gọi là giấc ngủ.
- Còn xuất hiện ngắn gián đoạn nhường chỗ cho lỗ tai vào làm việc. Từ lúc tai làm việc đến lú ta nhận thức thích - Ghét chỉ trong 07 sác na là nhân thiên hay nhân ác mà thôi. Ngoài ra đều là “Tâm Quả”.
- Một kiếp sống sanh ra, nguyên cả thân này là quả của quá khứ. Dòng chảy tâm thức trong một kiếp sống phần lớn chỉ là tâm quả của tiền kiếp, chỉ có một phần rất nhỏ (1/10.000 hay 1/50.000) là tâm thiện ác.
Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Tâm này vốn trong sáng nhưng bị phiền não ngoại lai”. Chính chỗ này mới phát sinh quan niệm cho rằng “Phật Tánh” từ đó sinh ra cái tâm Uy Nguyên “Bản Lai Diện Mục”. Đó là sự hiểu nhầm. Trong Chú giải giải thích: Tâm gọi là “Trong sáng” vì từ lúc trong bụng mẹ đi ra, tâm đầu thai và dòng hộ kiếp tiếp theo đều là tâm quả, không có thiện hay ác. Nhưng trên nền của tâm quả này, thỉnh thoại xen vô các tâm nhân (thiện/ác). Tâm nhân ác xuất hiện nhiều do ba yếu tố: Khuynh hướng tâm lý, tiền nghiệp, và môi trường sống.
Trong luân hồi có ba điều đáng sợ:
1. Ác dễ hơn thiện, ác nhiều hơn thiện.
2. Người xúi dại nhiều hơn người dạy khôn.
3. Xuống cõi thấp thì dễ, lên cõi cao thì khó.
Tiêu chuẩn "Sống như một con người"
Một người được coi là “sống như người” đúng nghĩa cần đạt đủ bốn tiêu chuẩn:
1. Điều kiện y tế: Có khả năng tiếp cận và chữa trị bệnh tật bằng các phương tiện y khoa tốt nhất.
2. Điều kiện giáo dục: Có điều kiện học tập ở các môi trường giáo dục chất lượng.
3. Điều kiện đi lại: Tự do di chuyển, không bị trở ngại về tài chính hay hành chính.
4. Điều kiện truyền thông: Có khả năng tiếp cận với các nguồn tri thức, sách báo bậc nhất (ngoại ngữ, Anh, Đức, Pali, Miến, Thái để nghiên cứu Phật pháp).
Số lượng người đạt đủ bốn tiêu chuẩn này trên thế giới rất ít (khoảng 5%).
II. Mối quan hệ giữa Tâm Thiện/Ác và Sự Tái Sanh
1. Mỗi tâm thiện hay bất thiện mở ra một đời sống mới cho chúng ta. Đời sống đó tạo ra tâm đầu thai và quyết định toàn bộ chất lượng của kiếp sống mới thông qua những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng.
- Khi chưa chứng Sơ thiền thì còn thích trong vật chất.
- Còn thích trong vật chất thì còn bất mãn (giận, sợ, ghen, tiếc, thuộc về tâm Sân).
- Bốn trạng thái sân này đều xuất phát từ sự thích thú trong vật chất.
- Mỗi tích tắc thiện hay ác là tiền đề cho một kiếp sống mấy chục năm tiếp theo.
2. Cách cải thiện nghiệp:
- Để tăng trưởng thiện nghiệp mạnh nhằm lấn áp ác nghiệp, cần chú ý ba yếu tố:
1. Đối tượng: Tạo nghiệp hướng đến đối tượng có đức độ hoặc số đông.
2. Chất lượng tâm lý: Tâm thiện hợp trí.
3. Tác dụng hiệu quả: Hiệu quả từ việc thiện đó.
III. Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế)
1. Khổ đế: Tất cả nhân lành, quả lành, nhân ác, quả ác đều là khổ (khổ bản chất: có rồi mất, muốn có rất khó, giữ không được thì khổ).
- Mọi hiện hữu đều là khổ. Nhân lành, quả lành, nhân lành nào cũng là khổ riêng.
- Bát Chánh Đạo vừa là khổ (về mặt hành trì) vừa là con đường diệt khổ.
- Quả lành (sáu trần như ý) nếu được chế tác thành đề mục niệm xứ thì là điều kiện thoát khổ.
- Quả ác: Nhân ác nào cũng là khổ, riêng tham ái vừa là khổ vừa là nguồn khổ. Quả Ác nào cũng là khổ, nếu được “Chế tác” thành đề mục Niệm Xứ cũng trở thành điều kiện giác ngộ.
- “Quả xấu” là sáu trần bất toại.
- 06 Nhân thiện: 06 căn + 06 trần = Tâm Lành (1 + 10)
- Tâm Ác (1+13) +14 (tâm vương và tâm sở tương ứng).
- Quả lành như ý: 06 căn + 06 trần như ý (1+13)
- Quả xấu: Căn + Trần Bất toại (1+13)
2. Tập đế: Nguồn gốc của khổ là sự thích thú, tham ái trong các dính mắc.
3. Diệt đế: Sự chấm dứt thích thú trong khổ (Niết-bàn).
4. Đạo đế: Con đường thoát khổ, hiểu rõ Khổ Đế để diệt trừ Tập Đế. Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất để quán chiếu và thấy rõ bản chất của khổ.
5. Ba Màn Che Che Lấp Tam Tướng (Vô Thường - Khổ - Vô Ngã)
Thân tâm này không là gì ngoài Tam tướng (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Sự hiện hữu diễn ra liên tục trong Tam tướng, nhưng ta không thấy được do ba màn che:
1. Tính tương tục (Santati): Sự sinh diệt liên tục và quá mau chóng của danh sắc khiến ta không thấy được tính vô thường, tưởng rằng thân tâm này là một khối duy nhất hay một linh hồn kéo dài.
2. Sự thay đổi tư thế sinh hoạt (Iriyāpatha): Việc liên tục thay đổi tư thế, tìm kiếm công việc, hoạt động khác để lấp đầy cảm giác khó chịu làm ta tạm thời không thấy được tướng khổ của thân tâm.
3. Khái niệm khối, đống (Ghana): Ta nhìn mọi thứ dưới dạng một khối, một hòn, một tổng thể (như cái bàn, con người) mà không thấy được sự lắp ráp từ nhiều bộ phận sinh diệt nhỏ lẻ, từ đó che lấp tính vô ngã.
Bởi vì trên đời này không có cái gì mà là một hết. Tất cả là một khối tổng hợp. Trong chiếc xe không có đóng phụ tùng mà trong phụ tùng không có chiếc xe.
Khi nói rốt ráo nhìn về khía cạnh bản thể thế giới này không có đẹp xấu dài ngắn trắng đen. Nhưng mọi thứ tâm thức của ta nó lại tương ứng với những thứ vật chất nào đó, để khi ta quay lại thế giới vật chất thì ta sẽ sống với những thứ vật chất tương ứng.
* Ví dụ: Vị A La Hán không còn thích ghét gì nữa nhưng do tiền nghiệp bất thiện mà Ngài bây giờ phải sống ở điều kiện vật chất rất tệ.
* Vị A La Hán khi không còn thích ghét gì nhưng do phước nhiều Ngài sanh ra sống trong môi trường vật chất tốt. Mặc dù ngài không có thích nhưng mà do tiền nghiệp nó dẫn chuyện đó. Tại sao tôi nhấn mạnh đó là để cho các vị thấy rằng đó là luật của vũ trụ. Luật của vũ trụ không phải khơi khơi mà có những thứ vật chất khác nhau là nó vốn dĩ được tạo ra từ tâm tư của chúng sinh.
Chuyện thứ hai, con đường thoát khổ vốn đi ra từ nhận thức về khổ. Trên đời này khi chưa chứng thánh ai cũng sống trong khổ. Nhưng những người trở thành thánh là chỉ trở thành bằng một con đường duy nhất.
Đó là có một ngày đẹp trời biết rõ mình là một cục khổ, sống trong một núi khổ. Và từ đó ra đi, từ sự nhàm chán núi khổ, từ sự nhàm chán bản thân mình thì bản thân sự nhàm chán đó nó mới khiến cho họ sống thiện hơn một tí, bớt ác một tí. Mà chính thiện một tí đó nó có tên gọi là Ba la mật.
Với ba la mật này khiến cho tất cả những thành tố tâm lý tích cực của họ được phát triển ở mức tốt nhất. Để nhìn lại ngọn núi khổ lần cuối cùng.
Trước đây nó chỉ nhìn ngọn núi khổ, nó biết đó là khổ một cách mơ hồ qua làng sương mờ của những buổi bình minh và hoàng hôn.
Nhưng bây giờ sau một thời gian nó chán khổ và nó làm lành lánh dữ, sau một thời gian chán khổ để làm lành lánh dữ thì đương sự lúc bấy giờ có một pháp nhãn, một huệ nhãn, một đạo nhãn, một tâm nhãn. Nhìn lại ngọn núi khổ đó lần thứ hai thì lần này thấy những khổ đó một cách tinh tế, sâu sắc, chi tiết và triệt để. Thì lần này cái nhìn lần này nó có tên gọi là Đắc Đạo.
Chúng ta phải qua hai lần chán đời chúng ta mới đắc đạo. Lần một là chán để mà làm lành lánh dữ. Nhóm mình hiện giờ tạm thời gọi là lần một. Nhưng sau kiếp này mình đi luân hồi mình còn nhớ để mình chán không khó. Lâu lâu mà gặp Phật pháp là nó chán được chút rồi quay trở ra cũng chìm lại đam mê lâu lâu gặp Phật pháp mình chán được chút mà phải nhiều lần một chút đó mới có một ngày khi gặp phật ra đời đó lúc đó chán nó được vài ký, Phật mới thuyết cho nghe pháp. Còn bây giờ mỗi kiếp mình làm được có 01 - 02 muỗng. Phải nói rằng mình đại phước mới mang thân người mới gặp được Phật pháp.
Những người ngoại đạo nghe mình nói họ rất là giận, họ nghĩ rằng giống như mình một ông thầy tu Phật giáo mà đi nói một đám tín đồ Phật giáo tự cho là đám mình có phước. Còn thật ra nếu hiểu đạo rồi chúng ta sẽ thấy một chuyện là đạo Phật nguyên thủy cho mình một cơ hội tư duy rất là thoáng rất là sâu, rất là rộng và rất là khách quan, độc lập về thế giới.
Nếu mà học kỹ giáo pháp từ qua tới giờ tôi chưa có một câu nào tôi xúi các vị phải tin Phật đúng không? Tôi không có xúi gì đó tôi chỉ giải thích cho mình biết tại sao mình sống trong biển khổ. Và thế nào là khổ? Ngài nói cho mình biết mình thích thì mình tính thích thôi chứ đạo Phật không có hù dọa mình. Tùy hỷ.
- Đức Phật dạy:
“Khi thấy mọi thứ là khổ thì không có tiếp tục thích trong nó nữa”. Hai cái này thấy khổ rồi chán khổ nó chính là con đường thoát khổ. Chỉ vậy thôi. Còn nếu mình không thấy thì tiếp tục.
Rồi nếu các vị nói tại sao mà sư Toại Khanh cứ thuyết pháp hay nhắc tới chuyện khổ là tại sao là bởi vì nó có một chuyện rất là quan trọng. Anh không thấy anh là ai, anh là gì, anh đang ở đâu thì anh không thể nào giải quyết vấn đề của anh được.
Tất cả những pháp môn tu hành gì đi nữa thì không thể nào rời ra Tứ đế. Tôi khẳng định như vậy. Pháp môn gì cao siêu, màu nhiệm gì đi nữa. Nhưng mà chuyện đầu tiên anh phải xác định tại sao anh đi thờ Phật.
Đầu tiên tại sao mình thờ Phật ở đó? Vì mình thấy rằng mình có nhiều vấn đề để giải quyết mà những vấn đề đó là gì?
Ai cũng có vấn đề cần giải quyết. Vấn đề là gì? Cần tùy thuộc chúng ta là ai? Ai cũng có vấn đề để giải quyết. Nhưng vấn đề đó là gì thì còn tùy ở chỗ chúng ta là ai
Người lính ở chiến trường là thắng thua. Doanh nhân ở thương trường là lời lỗ. Đối với chính khách làm việc chính trị thì trên chính trường thành công hay thất bại thì đó là quan trọng.
Nhưng đối với người thờ Phật, vấn đề lớn của mình là gì? Sanh tử.
Vì vấn đề sanh tử mà hôm nay các vị mới có mặt ở đây chứ phải tự nhiên bỏ công việc nhà vô đây, phải thấy vấn đề mình là gì mình mới tới đây.
Nên chuyện đầu tiên anh phải xác định vấn đề của anh là gì, khi ta xác định được vấn đề thì mình mới có hướng giải quyết vấn đề đúng hay sai. Đó là thứ nhất. Thứ hai, ta thấy được bao nhiêu phần trăm của vấn đề thì giải pháp nó mới có tác dụng bấy nhiêu phần trăm.
Và cuối cùng ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra vấn đề.
Ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra vấn đề.
Thí dụ như bây giờ trong nhà mình vợ chồng gây gỗ nhau bằng tâm gì ta? Rồi bây giờ mình phải dùng tâm sân để mình giải quyết không? Dạ không. Mình phải xài một tâm khác.
Chứ không thể nào mà hôm qua mình đá thúng đụng nia đánh chó đuổi mèo bằng tâm X1. Bữa nay mình lấy tâm X1 đó mình giải quyết chuyện này tôi nghĩ hơi bị khó. Cho nên ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra nó. Hiểu thì ở đây cũng vậy. Chúng ta khổ là vì tham ái thì chúng ta không thể nào giải quyết khổ bằng tham ái mà phải bằng ly tham, ly dục, vô tham.
Muốn ly dục vô tham thì mình phải làm sao? Phải thấy được rõ mình thích nó là cái gì?
Muốn thấy được nó mình phải làm gì? Nhận diện. Nhận diện bằng cách là Tứ niệm xứ đi vòng trở lại đó, đi vòng trở lại nó.
6. Tại sao phải tu Tứ niệm xứ.
Nói tại tôi tu Tứ niệm xứ tôi mới có dịp tôi thấy khổ. tại sao phải thấy khổ? Không thấy khổ thì không buông được khổ. Rồi họ hỏi khổ cái gì, đẹp như vậy giàu như vậy mà khổ? Nó không khổ cảm giác thì nó cũng là khổ bản chất, cả hai cái này không cái nào nên có. Vì ông khổ bản chất ông chính là mẹ ruột của ông khổ cảm giác, Mẹ ruột thì phải xử hai mẹ con.
- Là bởi vì chỉ có anh chánh niệm tỉnh giác làm gì biết nấy. Buồn biết buồn, vui biết vui, đi đứng biết đi đứng thì trong trường hợp đó anh mới thấy rằng tất cả những thứ anh thấy là ngọt ngào đều có vấn đề. Những thứ mình thấy ngọt ngào tại sao nó có vấn đề? Vì thứ nhất nó không bền, thứ hai tìm rất khó, giữ rất khó, giữ không được rất khổ phải không? Đó là cách thứ nhất.
- Thứ hai, những cái mình thích nó luôn luôn đẻ ra cái mình ghét. À thích cái gì sẽ ghét cái ngược lại. Đúng không ta? Mà có bao nhiêu người ở trong đám mình né được cái mình ghét hả?
Mình là phàm phu là vì mình không chịu thấy rằng sanh già bệnh chết là khổ. Muốn không được là khổ. Thương phải xa là khổ. Ghét phải gần là khổ. Không chịu ý thức rằng đó là khổ thì đừng hồng thoát khỏi khổ.
Duyên khởi, ông đó ổng không chịu, ổng nói không phải Duyên khởi, phải vẽ lại mỗi người một Duyên khởi khác nhau. Thì ổng mới dạy cho tôi Duyên khởi kiểu mới đó: nghèo cộng dốt lấy nhau đẻ con. Mà nghèo cộng dốt đẻ con thì khổ. Khổ nổi nóng, nổi nóng đánh đánh, xin lỗi xin lỗi có con trong đó. Đó là Duyên khởi của Việt Nam.
- Không thấy được vấn đề, không giải quyết được vấn đề. Đó là thứ nhất. Thứ hai, thấy được bao nhiêu thì giải pháp cũng giải quyết được bấy nhiêu. Đó là những bài rất là quan trọng.
- Từ nghiệp thiện hay ác chúng ta mở ra một kiếp sống mới với hai phía quả báo: Quả tái sinh và quả bình sinh.
7. Trên nền của quả tái sinh:
- Chúng ta đầu thai bằng tâm gì thì chính tâm đó nó quyết định mình thuộc về nhóm người nào trong bốn nhóm hồi sáng. Là thấy bắt đầu thấy đặc biệt rồi đó phải không ta? Thứ hai đó là Quả Tái Sinh.
8. Quả Bình Sinh tùy thuộc vào việc ta sống nhiều với sáu căn như ý hay là bất toại, tùy thuộc vào việc sống nhiều với trần cảnh nào thì tâm thiện tâm ác cũng theo đó mà nó dễ hay khó.
Còn nhớ bốn lượng nhân quả không?
Nhân tạo ra quả, quả ra quả, tác động quả. Có nghĩa là khi mình nhận quả báo này mình dễ nhận thêm mấy cái quả liên quan lắm.
- Có quả tác động nhân, là khi nhận quả thiện hay ác này nè, mình sẽ dễ làm ác hay dễ làm thiện hơn. Có nhiều người nghèo một chút dễ thiện hơn. Có người giàu một chút dễ thiện hơn. Có người đẹp một chút thì dễ thiện hơn. Có người xấu một chút thì dễ thiện hơn.
Cho nên có nhiều người xấu một tí dễ tu, nhưng mà có nhiều người đẹp tí dễ tu, giàu một tí hoặc nghèo tí dễ tu. Nhanh một chút hay chậm một chút thì dễ tu, gia thế tốt một tí hay là kém một tí dễ tu.
Cho nên tổng cộng lại thì nhân tạo ra quả: Dễ hiểu nè. Nhưng mà quả nó tác động quả, rồi quả nó tác động nhân, rồi cuối cùng là nhân tác động nhân.
Có nghĩa là nhân thiện trước nó tác động cho nhân thiện sau. Nhiều đời tu học thì đời sau sanh ra rất dễ tu học. Nhiều đời bất thiện đời sau sanh ra rất là dễ bất thiện.
9. Tu Tứ niệm xứ để có được nhiều lợi ích:
1. Lợi ích 1:
Liên tục xác nhận định thân tâm này, thế giới này là khổ.
2. Thứ hai: Liên tục nhận diện được bản chất mình là sướng hay khổ, thiện hay ác.
3. Thứ ba: Liên tục nhìn mình để hiểu được rằng mình nên thêm gì, bớt gì và chỉnh sửa cái gì.
Người mà làm được việc này chỉ có một người duy nhất đó là người chánh niệm thôi.
Không ai thấy mình rõ bằng mình. Nhưng mà để thấy rõ là mình phải học giáo lý. Phải học giáo lý chứ không thể nào mà tự nhiên rồi cái ngồi thiền cái thấy ra hết. Thì không biết quý thầy dạy sao, sư phụ nào dạy cái gì tôi không biết, chứ phải học giáo lý.
Thì sáng mai chúng ta sẽ học về 13, 25? Chứ còn sáng giờ học 13, 14, 25 mới biết mặt mũi nó ra sao. Mà nếu quý vị nào mà có thể kèm cặp cho người khác thì nên kèm. 13 là gồm cái gì? 14 là cái gì? Chứ còn tôi toàn nói công thức không, chỉ biết 14 là cái gì mà tôi chỉ nói cho hiểu thôi. 13 là 13 thành tố tâm lý.
Thì 13 đó nó chỉ là nước, đường, muối với bột nêm thôi. Còn muốn biết là tâm thiện thì mình bỏ rau vô, còn muốn bất thiện thì mình bỏ trái vô.
25 đó là toàn là các loại rau. 14 là toàn các loại trái.
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.