Hãy là chiếc lá rơi

Hãy là chiếc lá rơi Nơi chia sẻ năng lượng tích cực

3 ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT ĐỂ TIẾN BỘ TRÊN CON ĐƯỜNG CHÁNH ĐẠO.(Phải học Giáo Lý nha bà con)1.  KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT THIỆN ÁC, Đ...
04/08/2026

3 ĐỨC TÍNH CẦN THIẾT ĐỂ TIẾN BỘ TRÊN CON ĐƯỜNG CHÁNH ĐẠO.
(Phải học Giáo Lý nha bà con)
1. KHẢ NĂNG PHÂN BIỆT THIỆN ÁC, ĐÚNG SAI RÕ RÀNG.
2. LUÔN BIẾT HƯỚNG ĐẾN NHỮNG ĐIỀU TỐT HƠN:
>> KHÔNG DẬM CHÂN TẠI CHỖ TRONG THIỆN PHÁP.
>> KHÔNG SỚM HÀI LÒNG VỚI NHỮNG ĐỨC TÍNH MÌNH ĐANG CÓ.
>> LUÔN BIẾT NGHI NGỜ CON ĐƯỜNG DƯỚI CHÂN.
3. CÓ KHẢ NĂNG BUÔNG BỎ NHỮNG THÓI QUEN CŨ 1 CÁCH DỄ DÀNG.
>> Người bình thường rất dễ bạ đâu tin đó. Vấn đề của người hành giả ở chỗ, ngày xưa mình có Phật có Thánh, ngày nay mình chỉ còn Sư phụ và Kinh sách thôi. Và 2 cái này không bì được với Phật với Thánh rồi.
>> Cho nên, phần trách nhiệm ở mình ngày một lớn hơn. Mà mình muốn tự làm chỗ dựa cho chính mình giữa cái thời đại thật giả lẫn lộn này, thì vấn đề đầu tiên là phải có GIÁO LÝ CĂN BẢN.
Sư Giác Nguyên

Bài 3B: Nghiệp Lý & Tái SinhSư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.I. Nghiệp Lý:Cứ mỗi lần ...
03/08/2026

Bài 3B: Nghiệp Lý & Tái Sinh
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.
I. Nghiệp Lý:
Cứ mỗi lần một ác niệm hay thiện niệm (Tâm) lập tức tạo ra hai quả báo là “Quả Tái Sinh” và “Quả Bình Sinh”.
Nếu Nghiệp thiện ác ấy thuộc loại sanh báo nghiệp, thì ngay kiếp sống kế tiếp, ta sẽ theo đó mà đi tái sinh về cảnh giới tương ứng. Nếu nghiệp thiện ác ấy thuộc loại hậu báo nghiệp thì sẽ đưa ta đi tái sanh từ đời thứ hai trở về sau.
Trước khi các nghiệp thiện ác cho quả, thì ta không thể nói quả thiện ác được cất giữ ở đâu. Khi đủ duyên thì chúng tự có. Khi chưa đủ duyên thì không ai có thể nhìn thấy, chỉ biết được mà thôi.
* Như cây xoài khi chưa đến mùa ra hoa kết trái thì ta không thể nói hoa trái của cây xoài ấy hiện đang nằm ở đâu trên cây xoài.
* Như ngọn lửa trong một hộp quẹt chưa được bật lên, hay tiếng đàn của cây đàn khi chưa được khãy, thì không thể nói tiếng đàn đang nằm ở đâu.
Sau đây là một trường hợp minh họa cho Nghiệp Tái Sinh và Nghiệp Bình Sinh:
Giả định như lúc này là ngày X giờ X ta tạo nghiệp thiện Y. Lúc cuối đời khi tâm mệnh chung vừa xuất hiện, tâm mệnh chung tức là tâm cuối cùng để kết thúc một kiếp sống, thì chính quả báo của tâm thiện Y mấy mươi năm trước sẽ tạo ra một tâm đầu thai, cho ta đi về một cõi lành nào đó thuộc nhân Thiên. Được gọi là quả tái sinh.
Ngay sau thời điểm tái sinh ấy, cho đến tận lúc ta chết đi ở kiếp sống mới, có 06 thứ tâm quả (được tạo ra từ tâm thiện Y của kiếp trước) sẽ tiếp nối nhau sanh diệt liên tục qua từng sát na.
Một tâm thiện, tâm ác khi sanh ra tạo ra hai thứ quả:
1. Quả đầu tiên là quả đầu thai.
2. Kể từ sau giây phút đầu thai đó, có sáu thứ tâm liên tục xuất hiện tiếp nối nhau cho đến khi mình chết. Sáu thứ tâm này được gọi tên là quả bình sinh.
Tức là mỗi lần mình tạo tâm thiện hay tâm ác thì nó tạo ra hai thứ quả. Lúc đầu đời tạo ra quả đầu thai về cõi nào đó. Sau quả đầu thai đó là một loạt sáu tâm, chính là con của tâm thiện, tâm ác kiếp trước.
Từ sau lúc tái sinh trở đi cho đến lúc chết có sáu thứ tâm liên tục xuất hiện:
Tâm thứ nhất: Ý thức chủ quan (Hữu phần hay Hộ kiếp) Xuất hiện trong thời gian nhiều nhất trong cả một đời người vào các thời điểm như lúc ta ngủ, lúc ta bất tỉnh, và khoảng thời gian giữa các hoạt động của sáu căn.
Tâm đầu đời là tâm tái sinh, sau đó là hộ kiếp. Tâm hộ kiếp xuất hiện vô số lần và có ba thời điểm có mặt:
1. Lúc mình ngủ: Một ngày mình ngủ 12 tiếng thì nó kéo dài 12 tiếng. Nhưng thỉnh thoảng bị gián đoạn khi ta chiêm bao, hay như đang ngủ mà bị muỗi cắn, rớt mền, trời lạnh, nực quá ngồi dậy giữa đêm... Nó bị đứt khúc bởi những hoạt động lẻ tẻ đó, nhưng khi giấc ngủ ngon thì hộ kiếp xuất hiện liên tục là quả lành của tâm thiện niệm.
2. Quả tái sanh chỉ cho lần đầu thai đó thôi. Nhưng từ đó về sau cho quả bình sinh, gồm có sáu thứ, trong đó cái đầu tiên là tâm này xuất hiện lâu lúc mình ngủ. Nghĩa là khi nào có cái gì để mình nhìn thì tâm này ngưng lại để nhường chỗ cho tâm nhãn thức xuất hiện.
3. Tâm nhãn thức là tâm để mình nhìn. Khi không có hoạt động nào đặc biệt thì một người bình thường được tạm hiểu là đang chìm sâu trong giấc ngủ dài. Điều này ở đời sống nhân loại, giấc ngủ chỉ là 1/3 thời gian trong ngày và trong đời.
- Dòng chảy của tâm hộ kiếp ấy thỉnh thoảng gián đoạn để nhường chỗ cho tâm nhãn thức xuất hiện nhìn thấy những gì ta muốn nhìn (nếu là tâm nhãn thức được tạo từ nhân lành) và để mắt nhìn thấy thứ mình không muốn nhìn (nếu tâm này được tạo từ quả xấu).
Ngay sau mỗi lúc mắt, tai ghi nhận trần cảnh, tiếp theo sẽ có bốn dòng chảy tâm thức liên tục tiếp nối nhau để hoàn tất việc thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng.
* Khi người vừa nhìn thấy đóa hoa thì nhãn thức chỉ làm việc chụp hình đóa hoa và ta vẫn chưa kịp biết đó là gì. Sau đó là diễn biến tâm thức gồm khoảng 17 sác na xuất hiện để làm việc hồi tưởng lại hình ảnh mà mắt vừa ghi nhận. Diễn biến tiếp theo là 17 sác na khác xuất hiện để làm việc tổng hợp các chi tiết trên đóa hoa hồng. Tiếp theo là dòng chảy tâm thức gồm 17 sác na xuất hiện để làm việc định hình bông hồng. Cuối cùng là 17 sác na tâm xuất hiện để định danh hoa hồng.
Trong diễn biến (lộ tâm), tổng cộng ta có ít nhất 05 diễn biến tâm thức tiếp nối nhau sanh diệt để hoàn tất việc ghi nhận đóa hoa hồng hay xác định được mùi mình vừa ngửi là mùi gì. Năm diễn biến tâm thức ấy nhân với 17 sác na trong mỗi diễn biến thành 85 sác na. (hoặc tính theo các thuyết là 85 sác na). Trong mỗi diễn biến gồm 17 sác na ấy luôn có đúng 07 sác na thiện hoặc ác (thích hay bất mãn, thích ghét buồn vui). Khi đang xác định đó là hoa hồng tức là ngay từng bước nó đã có phần đó.
- Người tinh ý sẽ thấy rằng số lượng tâm hộ kiếp (Quả thiện ác) và các tâm nhân thiện ác có một chênh lệch rất lớn. Hầu hết trong đời sống của ta mỗi ngày đều là tâm quả từ thiện hay ác quá khứ. Đã là quả thì tự thân nó không phải thiện ác, nhưng chúng làm nền cho các nhân thiện ác xuất hiện. Tùy vào tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý và môi trường sống của mỗi cá nhân.
Trong mỗi chặng tâm thức 17 sác na đã nói ở trên có 07 sác na thiện hay ác. Có nghĩa là sau khi đầu thai thì hầu hết là tâm quả. Dòng đó thỉnh thoảng bị ngưng để nhường cho mắt, tai chen vô làm việc:
• Mỗi lần mắt làm việc có loạt năm chập xuất hiện.
• Mỗi lần lỗ tai làm việc có loạt năm chập xuất hiện.
Trong loạt năm chập đó, mỗi chập có 17 sát na. Trong 17 sác na chỉ có 07 sác na là thiện hay ác thôi, còn lại 10 sác na là tâm quả. Trước đó là hộ kiếp (vốn là quả), khi thấy nghe lại xuất hiện loạt năm chập, trong mỗi chập 17 sác na lại có 10 sác na quả. Như vậy chỉ còn lại bảy sác na thiện ác. Thiện ác này không giống nhau là vì tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý và môi trường sống.
* Bà kia ngắm hoa thì buồn do nhớ cuộc tình cũ.
* Bà này ngắm hoa thì vui do nhớ nghĩ đến chuyện thích thú. Nghĩa là tùy khuynh hướng.
Nhiều người nói nhìn thấy hoa có thể khởi tâm thiện. Nhưng bước ra phố, nhìn thấy cảnh vật xung quanh, phần lớn đều là tâm bất thiện. Tại sao đa số lại cho là thiện? Vì không chịu học để biết tâm thiện và tâm bất thiện là gì. Tưởng vui là tâm thiện, tưởng tình cảm, hoan hỷ thông thường là thiện hay định, đó là do không học A Tỳ Đàm. Người có học thì biết rằng cười chưa chắc là thiện. Ngồi trước tượng Phật hay chư tăng, nếu không tu thiền chánh niệm thì đa phần vẫn là tâm bất thiện (tham, sân, si ngầm ẩn).
Trong kinh nói đến 04 tốc độ chuyển đổi của tâm:
• Từ thiện qua ác: Dễ.
• Từ bất thiện qua thiện: Rất khó.
• Từ ác qua ác: Dễ.
• Từ giận chuyển sang tâm tư, từ hào sản chuyển sang bỏn xẻn, từ tùy hỷ chuyển sang ganh tỵ diễn ra rất nhanh, nhưng chiều ngược lại thì rất khó.
Tóm lược về Quả Tái Sanh và Quả Bình Sanh:
Cứ mỗi lần có một ác tâm hay thiện tâm xuất hiện, ta kín đáo tạo ra hai thứ quả:
• Quả tái sanh: Quả đầu thai vô cõi sướng hay khổ.
• Quả bình sanh: Những sướng hay khổ mà ta chịu đựng sau lúc đầu thai cho đến khi chết.
- Khi tắt thở kiếp này, lập tức (bên Nam Truyền không có quan niệm 49 ngày) ngay khi tâm mệnh chung vừa kết thúc kiếp cũ thì ta đầu thai ở kiếp mới. Sự đầu thai chỉ diễn ra trong một sác na tâm rất ngắn. Sác na tâm đó đưa mình vô cõi nào, thân phận nào, chủng loại nào thì gọi là “Quả Tái Sinh”.
Kể từ sau sác na đó cho đến lúc chết, tất cả những gì diễn ra trong khoảng giữa gồm 06 thứ tâm quả liên tục xuất hiện, gọi là quả bình sinh. Trong đó, tâm ý thức chủ quan (hộ kiếp) xuất hiện nhiều nhất, kéo dài liên tục, chỉ bị gián đoạn khi sáu căn tiếp xúc sáu trần.
- Trong tâm ta có “Tâm Thiện X1”, Lúc tắt thở thì X1 đó mới tạo ra “Quả Tái Sinh” chính là Quả của X1.
- Từ sau lúc tái sinh đó, ta có 06 thứ Tâm Quả được tạo ra bởi X1. Rồi nó kéo dài suốt kiếp sống của ta. Như 06 thứ đó nó thay phiên, xen kẻ nhau, trong đó “Ý Thức Khách Quan” xuất hiện liên tục nhiều nhất, khi xuất hiện quá lâu được gọi là giấc ngủ.
- Còn xuất hiện ngắn gián đoạn nhường chỗ cho lỗ tai vào làm việc. Từ lúc tai làm việc đến lú ta nhận thức thích - Ghét chỉ trong 07 sác na là nhân thiên hay nhân ác mà thôi. Ngoài ra đều là “Tâm Quả”.
- Một kiếp sống sanh ra, nguyên cả thân này là quả của quá khứ. Dòng chảy tâm thức trong một kiếp sống phần lớn chỉ là tâm quả của tiền kiếp, chỉ có một phần rất nhỏ (1/10.000 hay 1/50.000) là tâm thiện ác.
Đức Phật dạy: “Này các Tỳ Kheo! Tâm này vốn trong sáng nhưng bị phiền não ngoại lai”. Chính chỗ này mới phát sinh quan niệm cho rằng “Phật Tánh” từ đó sinh ra cái tâm Uy Nguyên “Bản Lai Diện Mục”. Đó là sự hiểu nhầm. Trong Chú giải giải thích: Tâm gọi là “Trong sáng” vì từ lúc trong bụng mẹ đi ra, tâm đầu thai và dòng hộ kiếp tiếp theo đều là tâm quả, không có thiện hay ác. Nhưng trên nền của tâm quả này, thỉnh thoại xen vô các tâm nhân (thiện/ác). Tâm nhân ác xuất hiện nhiều do ba yếu tố: Khuynh hướng tâm lý, tiền nghiệp, và môi trường sống.
Trong luân hồi có ba điều đáng sợ:
1. Ác dễ hơn thiện, ác nhiều hơn thiện.
2. Người xúi dại nhiều hơn người dạy khôn.
3. Xuống cõi thấp thì dễ, lên cõi cao thì khó.
Tiêu chuẩn "Sống như một con người"
Một người được coi là “sống như người” đúng nghĩa cần đạt đủ bốn tiêu chuẩn:
1. Điều kiện y tế: Có khả năng tiếp cận và chữa trị bệnh tật bằng các phương tiện y khoa tốt nhất.
2. Điều kiện giáo dục: Có điều kiện học tập ở các môi trường giáo dục chất lượng.
3. Điều kiện đi lại: Tự do di chuyển, không bị trở ngại về tài chính hay hành chính.
4. Điều kiện truyền thông: Có khả năng tiếp cận với các nguồn tri thức, sách báo bậc nhất (ngoại ngữ, Anh, Đức, Pali, Miến, Thái để nghiên cứu Phật pháp).
Số lượng người đạt đủ bốn tiêu chuẩn này trên thế giới rất ít (khoảng 5%).
II. Mối quan hệ giữa Tâm Thiện/Ác và Sự Tái Sanh
1. Mỗi tâm thiện hay bất thiện mở ra một đời sống mới cho chúng ta. Đời sống đó tạo ra tâm đầu thai và quyết định toàn bộ chất lượng của kiếp sống mới thông qua những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng.
- Khi chưa chứng Sơ thiền thì còn thích trong vật chất.
- Còn thích trong vật chất thì còn bất mãn (giận, sợ, ghen, tiếc, thuộc về tâm Sân).
- Bốn trạng thái sân này đều xuất phát từ sự thích thú trong vật chất.
- Mỗi tích tắc thiện hay ác là tiền đề cho một kiếp sống mấy chục năm tiếp theo.
2. Cách cải thiện nghiệp:
- Để tăng trưởng thiện nghiệp mạnh nhằm lấn áp ác nghiệp, cần chú ý ba yếu tố:
1. Đối tượng: Tạo nghiệp hướng đến đối tượng có đức độ hoặc số đông.
2. Chất lượng tâm lý: Tâm thiện hợp trí.
3. Tác dụng hiệu quả: Hiệu quả từ việc thiện đó.
III. Bốn Sự Thật (Tứ Diệu Đế)
1. Khổ đế: Tất cả nhân lành, quả lành, nhân ác, quả ác đều là khổ (khổ bản chất: có rồi mất, muốn có rất khó, giữ không được thì khổ).
- Mọi hiện hữu đều là khổ. Nhân lành, quả lành, nhân lành nào cũng là khổ riêng.
- Bát Chánh Đạo vừa là khổ (về mặt hành trì) vừa là con đường diệt khổ.
- Quả lành (sáu trần như ý) nếu được chế tác thành đề mục niệm xứ thì là điều kiện thoát khổ.
- Quả ác: Nhân ác nào cũng là khổ, riêng tham ái vừa là khổ vừa là nguồn khổ. Quả Ác nào cũng là khổ, nếu được “Chế tác” thành đề mục Niệm Xứ cũng trở thành điều kiện giác ngộ.
- “Quả xấu” là sáu trần bất toại.
- 06 Nhân thiện: 06 căn + 06 trần = Tâm Lành (1 + 10)
- Tâm Ác (1+13) +14 (tâm vương và tâm sở tương ứng).
- Quả lành như ý: 06 căn + 06 trần như ý (1+13)
- Quả xấu: Căn + Trần Bất toại (1+13)
2. Tập đế: Nguồn gốc của khổ là sự thích thú, tham ái trong các dính mắc.
3. Diệt đế: Sự chấm dứt thích thú trong khổ (Niết-bàn).
4. Đạo đế: Con đường thoát khổ, hiểu rõ Khổ Đế để diệt trừ Tập Đế. Tứ Niệm Xứ là con đường duy nhất để quán chiếu và thấy rõ bản chất của khổ.
5. Ba Màn Che Che Lấp Tam Tướng (Vô Thường - Khổ - Vô Ngã)
Thân tâm này không là gì ngoài Tam tướng (Vô thường, Khổ, Vô ngã). Sự hiện hữu diễn ra liên tục trong Tam tướng, nhưng ta không thấy được do ba màn che:
1. Tính tương tục (Santati): Sự sinh diệt liên tục và quá mau chóng của danh sắc khiến ta không thấy được tính vô thường, tưởng rằng thân tâm này là một khối duy nhất hay một linh hồn kéo dài.
2. Sự thay đổi tư thế sinh hoạt (Iriyāpatha): Việc liên tục thay đổi tư thế, tìm kiếm công việc, hoạt động khác để lấp đầy cảm giác khó chịu làm ta tạm thời không thấy được tướng khổ của thân tâm.
3. Khái niệm khối, đống (Ghana): Ta nhìn mọi thứ dưới dạng một khối, một hòn, một tổng thể (như cái bàn, con người) mà không thấy được sự lắp ráp từ nhiều bộ phận sinh diệt nhỏ lẻ, từ đó che lấp tính vô ngã.
Bởi vì trên đời này không có cái gì mà là một hết. Tất cả là một khối tổng hợp. Trong chiếc xe không có đóng phụ tùng mà trong phụ tùng không có chiếc xe.
Khi nói rốt ráo nhìn về khía cạnh bản thể thế giới này không có đẹp xấu dài ngắn trắng đen. Nhưng mọi thứ tâm thức của ta nó lại tương ứng với những thứ vật chất nào đó, để khi ta quay lại thế giới vật chất thì ta sẽ sống với những thứ vật chất tương ứng.
* Ví dụ: Vị A La Hán không còn thích ghét gì nữa nhưng do tiền nghiệp bất thiện mà Ngài bây giờ phải sống ở điều kiện vật chất rất tệ.
* Vị A La Hán khi không còn thích ghét gì nhưng do phước nhiều Ngài sanh ra sống trong môi trường vật chất tốt. Mặc dù ngài không có thích nhưng mà do tiền nghiệp nó dẫn chuyện đó. Tại sao tôi nhấn mạnh đó là để cho các vị thấy rằng đó là luật của vũ trụ. Luật của vũ trụ không phải khơi khơi mà có những thứ vật chất khác nhau là nó vốn dĩ được tạo ra từ tâm tư của chúng sinh.
Chuyện thứ hai, con đường thoát khổ vốn đi ra từ nhận thức về khổ. Trên đời này khi chưa chứng thánh ai cũng sống trong khổ. Nhưng những người trở thành thánh là chỉ trở thành bằng một con đường duy nhất.
Đó là có một ngày đẹp trời biết rõ mình là một cục khổ, sống trong một núi khổ. Và từ đó ra đi, từ sự nhàm chán núi khổ, từ sự nhàm chán bản thân mình thì bản thân sự nhàm chán đó nó mới khiến cho họ sống thiện hơn một tí, bớt ác một tí. Mà chính thiện một tí đó nó có tên gọi là Ba la mật.
Với ba la mật này khiến cho tất cả những thành tố tâm lý tích cực của họ được phát triển ở mức tốt nhất. Để nhìn lại ngọn núi khổ lần cuối cùng.
Trước đây nó chỉ nhìn ngọn núi khổ, nó biết đó là khổ một cách mơ hồ qua làng sương mờ của những buổi bình minh và hoàng hôn.
Nhưng bây giờ sau một thời gian nó chán khổ và nó làm lành lánh dữ, sau một thời gian chán khổ để làm lành lánh dữ thì đương sự lúc bấy giờ có một pháp nhãn, một huệ nhãn, một đạo nhãn, một tâm nhãn. Nhìn lại ngọn núi khổ đó lần thứ hai thì lần này thấy những khổ đó một cách tinh tế, sâu sắc, chi tiết và triệt để. Thì lần này cái nhìn lần này nó có tên gọi là Đắc Đạo.
Chúng ta phải qua hai lần chán đời chúng ta mới đắc đạo. Lần một là chán để mà làm lành lánh dữ. Nhóm mình hiện giờ tạm thời gọi là lần một. Nhưng sau kiếp này mình đi luân hồi mình còn nhớ để mình chán không khó. Lâu lâu mà gặp Phật pháp là nó chán được chút rồi quay trở ra cũng chìm lại đam mê lâu lâu gặp Phật pháp mình chán được chút mà phải nhiều lần một chút đó mới có một ngày khi gặp phật ra đời đó lúc đó chán nó được vài ký, Phật mới thuyết cho nghe pháp. Còn bây giờ mỗi kiếp mình làm được có 01 - 02 muỗng. Phải nói rằng mình đại phước mới mang thân người mới gặp được Phật pháp.
Những người ngoại đạo nghe mình nói họ rất là giận, họ nghĩ rằng giống như mình một ông thầy tu Phật giáo mà đi nói một đám tín đồ Phật giáo tự cho là đám mình có phước. Còn thật ra nếu hiểu đạo rồi chúng ta sẽ thấy một chuyện là đạo Phật nguyên thủy cho mình một cơ hội tư duy rất là thoáng rất là sâu, rất là rộng và rất là khách quan, độc lập về thế giới.
Nếu mà học kỹ giáo pháp từ qua tới giờ tôi chưa có một câu nào tôi xúi các vị phải tin Phật đúng không? Tôi không có xúi gì đó tôi chỉ giải thích cho mình biết tại sao mình sống trong biển khổ. Và thế nào là khổ? Ngài nói cho mình biết mình thích thì mình tính thích thôi chứ đạo Phật không có hù dọa mình. Tùy hỷ.
- Đức Phật dạy:
“Khi thấy mọi thứ là khổ thì không có tiếp tục thích trong nó nữa”. Hai cái này thấy khổ rồi chán khổ nó chính là con đường thoát khổ. Chỉ vậy thôi. Còn nếu mình không thấy thì tiếp tục.
Rồi nếu các vị nói tại sao mà sư Toại Khanh cứ thuyết pháp hay nhắc tới chuyện khổ là tại sao là bởi vì nó có một chuyện rất là quan trọng. Anh không thấy anh là ai, anh là gì, anh đang ở đâu thì anh không thể nào giải quyết vấn đề của anh được.
Tất cả những pháp môn tu hành gì đi nữa thì không thể nào rời ra Tứ đế. Tôi khẳng định như vậy. Pháp môn gì cao siêu, màu nhiệm gì đi nữa. Nhưng mà chuyện đầu tiên anh phải xác định tại sao anh đi thờ Phật.
Đầu tiên tại sao mình thờ Phật ở đó? Vì mình thấy rằng mình có nhiều vấn đề để giải quyết mà những vấn đề đó là gì?
Ai cũng có vấn đề cần giải quyết. Vấn đề là gì? Cần tùy thuộc chúng ta là ai? Ai cũng có vấn đề để giải quyết. Nhưng vấn đề đó là gì thì còn tùy ở chỗ chúng ta là ai
Người lính ở chiến trường là thắng thua. Doanh nhân ở thương trường là lời lỗ. Đối với chính khách làm việc chính trị thì trên chính trường thành công hay thất bại thì đó là quan trọng.
Nhưng đối với người thờ Phật, vấn đề lớn của mình là gì? Sanh tử.
Vì vấn đề sanh tử mà hôm nay các vị mới có mặt ở đây chứ phải tự nhiên bỏ công việc nhà vô đây, phải thấy vấn đề mình là gì mình mới tới đây.
Nên chuyện đầu tiên anh phải xác định vấn đề của anh là gì, khi ta xác định được vấn đề thì mình mới có hướng giải quyết vấn đề đúng hay sai. Đó là thứ nhất. Thứ hai, ta thấy được bao nhiêu phần trăm của vấn đề thì giải pháp nó mới có tác dụng bấy nhiêu phần trăm.
Và cuối cùng ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra vấn đề.
Ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra vấn đề.
Thí dụ như bây giờ trong nhà mình vợ chồng gây gỗ nhau bằng tâm gì ta? Rồi bây giờ mình phải dùng tâm sân để mình giải quyết không? Dạ không. Mình phải xài một tâm khác.
Chứ không thể nào mà hôm qua mình đá thúng đụng nia đánh chó đuổi mèo bằng tâm X1. Bữa nay mình lấy tâm X1 đó mình giải quyết chuyện này tôi nghĩ hơi bị khó. Cho nên ta không thể giải quyết vấn đề bằng thứ tâm thức đã tạo ra nó. Hiểu thì ở đây cũng vậy. Chúng ta khổ là vì tham ái thì chúng ta không thể nào giải quyết khổ bằng tham ái mà phải bằng ly tham, ly dục, vô tham.
Muốn ly dục vô tham thì mình phải làm sao? Phải thấy được rõ mình thích nó là cái gì?
Muốn thấy được nó mình phải làm gì? Nhận diện. Nhận diện bằng cách là Tứ niệm xứ đi vòng trở lại đó, đi vòng trở lại nó.
6. Tại sao phải tu Tứ niệm xứ.
Nói tại tôi tu Tứ niệm xứ tôi mới có dịp tôi thấy khổ. tại sao phải thấy khổ? Không thấy khổ thì không buông được khổ. Rồi họ hỏi khổ cái gì, đẹp như vậy giàu như vậy mà khổ? Nó không khổ cảm giác thì nó cũng là khổ bản chất, cả hai cái này không cái nào nên có. Vì ông khổ bản chất ông chính là mẹ ruột của ông khổ cảm giác, Mẹ ruột thì phải xử hai mẹ con.
- Là bởi vì chỉ có anh chánh niệm tỉnh giác làm gì biết nấy. Buồn biết buồn, vui biết vui, đi đứng biết đi đứng thì trong trường hợp đó anh mới thấy rằng tất cả những thứ anh thấy là ngọt ngào đều có vấn đề. Những thứ mình thấy ngọt ngào tại sao nó có vấn đề? Vì thứ nhất nó không bền, thứ hai tìm rất khó, giữ rất khó, giữ không được rất khổ phải không? Đó là cách thứ nhất.
- Thứ hai, những cái mình thích nó luôn luôn đẻ ra cái mình ghét. À thích cái gì sẽ ghét cái ngược lại. Đúng không ta? Mà có bao nhiêu người ở trong đám mình né được cái mình ghét hả?
Mình là phàm phu là vì mình không chịu thấy rằng sanh già bệnh chết là khổ. Muốn không được là khổ. Thương phải xa là khổ. Ghét phải gần là khổ. Không chịu ý thức rằng đó là khổ thì đừng hồng thoát khỏi khổ.
Duyên khởi, ông đó ổng không chịu, ổng nói không phải Duyên khởi, phải vẽ lại mỗi người một Duyên khởi khác nhau. Thì ổng mới dạy cho tôi Duyên khởi kiểu mới đó: nghèo cộng dốt lấy nhau đẻ con. Mà nghèo cộng dốt đẻ con thì khổ. Khổ nổi nóng, nổi nóng đánh đánh, xin lỗi xin lỗi có con trong đó. Đó là Duyên khởi của Việt Nam.
- Không thấy được vấn đề, không giải quyết được vấn đề. Đó là thứ nhất. Thứ hai, thấy được bao nhiêu thì giải pháp cũng giải quyết được bấy nhiêu. Đó là những bài rất là quan trọng.
- Từ nghiệp thiện hay ác chúng ta mở ra một kiếp sống mới với hai phía quả báo: Quả tái sinh và quả bình sinh.
7. Trên nền của quả tái sinh:
- Chúng ta đầu thai bằng tâm gì thì chính tâm đó nó quyết định mình thuộc về nhóm người nào trong bốn nhóm hồi sáng. Là thấy bắt đầu thấy đặc biệt rồi đó phải không ta? Thứ hai đó là Quả Tái Sinh.
8. Quả Bình Sinh tùy thuộc vào việc ta sống nhiều với sáu căn như ý hay là bất toại, tùy thuộc vào việc sống nhiều với trần cảnh nào thì tâm thiện tâm ác cũng theo đó mà nó dễ hay khó.
Còn nhớ bốn lượng nhân quả không?
Nhân tạo ra quả, quả ra quả, tác động quả. Có nghĩa là khi mình nhận quả báo này mình dễ nhận thêm mấy cái quả liên quan lắm.
- Có quả tác động nhân, là khi nhận quả thiện hay ác này nè, mình sẽ dễ làm ác hay dễ làm thiện hơn. Có nhiều người nghèo một chút dễ thiện hơn. Có người giàu một chút dễ thiện hơn. Có người đẹp một chút thì dễ thiện hơn. Có người xấu một chút thì dễ thiện hơn.
Cho nên có nhiều người xấu một tí dễ tu, nhưng mà có nhiều người đẹp tí dễ tu, giàu một tí hoặc nghèo tí dễ tu. Nhanh một chút hay chậm một chút thì dễ tu, gia thế tốt một tí hay là kém một tí dễ tu.
Cho nên tổng cộng lại thì nhân tạo ra quả: Dễ hiểu nè. Nhưng mà quả nó tác động quả, rồi quả nó tác động nhân, rồi cuối cùng là nhân tác động nhân.
Có nghĩa là nhân thiện trước nó tác động cho nhân thiện sau. Nhiều đời tu học thì đời sau sanh ra rất dễ tu học. Nhiều đời bất thiện đời sau sanh ra rất là dễ bất thiện.
9. Tu Tứ niệm xứ để có được nhiều lợi ích:
1. Lợi ích 1:
Liên tục xác nhận định thân tâm này, thế giới này là khổ.
2. Thứ hai: Liên tục nhận diện được bản chất mình là sướng hay khổ, thiện hay ác.
3. Thứ ba: Liên tục nhìn mình để hiểu được rằng mình nên thêm gì, bớt gì và chỉnh sửa cái gì.
Người mà làm được việc này chỉ có một người duy nhất đó là người chánh niệm thôi.
Không ai thấy mình rõ bằng mình. Nhưng mà để thấy rõ là mình phải học giáo lý. Phải học giáo lý chứ không thể nào mà tự nhiên rồi cái ngồi thiền cái thấy ra hết. Thì không biết quý thầy dạy sao, sư phụ nào dạy cái gì tôi không biết, chứ phải học giáo lý.
Thì sáng mai chúng ta sẽ học về 13, 25? Chứ còn sáng giờ học 13, 14, 25 mới biết mặt mũi nó ra sao. Mà nếu quý vị nào mà có thể kèm cặp cho người khác thì nên kèm. 13 là gồm cái gì? 14 là cái gì? Chứ còn tôi toàn nói công thức không, chỉ biết 14 là cái gì mà tôi chỉ nói cho hiểu thôi. 13 là 13 thành tố tâm lý.
Thì 13 đó nó chỉ là nước, đường, muối với bột nêm thôi. Còn muốn biết là tâm thiện thì mình bỏ rau vô, còn muốn bất thiện thì mình bỏ trái vô.
25 đó là toàn là các loại rau. 14 là toàn các loại trái.
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.

🧘Làm Chủ Cảm Thọ....Trong kinh nói kẻ phàm phu bị đau hai lần còn bậc thánh chỉ đau có một nửa. Bậc thánh khi đau, ngoài...
03/08/2026

🧘Làm Chủ Cảm Thọ....
Trong kinh nói kẻ phàm phu bị đau hai lần còn bậc thánh chỉ đau có một nửa. Bậc thánh khi đau, ngoài khả năng kham nhẫn bằng thiền định bằng thánh trí ra thì bậc thánh không hề thêu dệt cái khổ như phàm phu. Còn phàm phu thì sao? Thứ nhất không có khả năng thiền định chánh niệm như thánh nhân là thấy mệt rồi. Thứ hai là phàm phu khổ gấp đôi, là bản thân nó bị khổ là khổ thân mà còn thêm cái bị khổ tâm nữa. Muốn hết bịnh mà nó không chịu hết là bắt đầu lo. Bậc thánh khi bị đau thận chẳng hạn, bậc thánh chỉ biết đau là đau. Còn mình thì bắt đầu lo, bắt đầu sợ chết, bắt đầu mình tiếc của. Mình biết khi cái đầu mình nó lệch ngang thì mình bỏ lại bao nhiêu thứ tình cảm: cha mẹ, vợ chồng, con cái, bạn bè... "Trời ơi, đất nước người ta đẹp quá. Trời ơi, mình còn bao nhiêu toan tính, bao nhiêu trù hoạch, bao nhiêu kế sách mà chưa có hoàn thành. Trời ơi, bây giờ mình đi sớm quá." Trong khi cái đau nó chỉ là một phần cơ thể, mà cái nỗi lo âu, tiếc nuối, sợ hãi kia nó gấp mấy lần cái đau đó, quý vị có biết không? Khổ của kẻ phàm phu khác của bậc thánh là ở chỗ đó. Cho nên ngay trong cảm thọ đã là khổ. Ngay trong ước muốn trốn khổ tìm vui nó lại cũng là một cái khổ nữa.
Cho nên trong kinh nói bậc thánh chỉ khổ có một nửa, mình thì khổ gấp đôi. Một nửa là sao? Nghĩa là mỗi lần người ta bị đau người ta phải rên, phải xiết, phải sợ hãi, phải này nọ. Các Ngài thì không. Đau trên thân xác các ngài chỉ dừng lại ngay trên thân xác, các ngài không cho nó leo qua cái tâm của các ngài. Còn mình thì đau một mà cho nó leo tràn lan từa lưa.
Thí dụ ban đêm đang ngủ tự nhiên nghe nó nhói. Nhói một lần là mình đã hơi ngại rồi mà cứ nhói nhói nãy giờ mười lăm phút nhói rồi. Thế là bắt đầu mình nghĩ bậy. Nghĩ nào là ung thư, nghĩ nào là ruôt dư, nào là sạn thận, nào là chai gan nào, là viêm tụy tạng, ... tùm lum hết. Nghĩ quá nhiều, suy diễn quá nhiều, là vì sao? Vì mình sợ chết. Mà tại sao mình sợ chết? Là bởi vì mình sợ mất cái này sợ mất cái kia. Cho nên cần làm chủ cảm thọ. "Làm chủ" ở đây có nhiều người hiểu sai. Họ nghĩ làm chủ cảm thọ là bậc thánh không có đau. Sai. Làm chủ cảm thọ ở đây có nghĩa là coi tất cả các cảm giác chỉ là khách. Làm chủ cảm thọ ở đây không có nghĩa là không còn đau đớn muốn sướng thì sướng không phải. Bậc thánh không phải như vậy. Làm chủ ở đây có nghĩa là chỉ xem các cảm giác như là khách lạ bên thềm. "Làm chủ" ở đây là các ngài ngồi yên nhìn nó tới. Khó chịu biết khó chịu. Gió mát tới biết dễ chịu. Ngồi trong phòng đang nực, mở máy lạnh lên thì các ngài biết bây giờ mát, biết lạc thọ đang có mặt. Ngoài ra không có gì thêu dệt thêm. Rồi tiếp tới cơn đau đớn trong cơ thể nó tới thì các ngài biết "Ừ cơn đau đang có mặt, khổ thọ đang có mặt". Hoặc theo một cách quán chiếu khác: "Khổ thọ vô thường vừa đã xong". Cách quán chiếu kỳ cục vậy đó. Khi mà mình quán chiếu khổ thọ đang có mặt tuy không có sai nhưng mà nó hơi muộn. Phải quán khổ thọ vừa vắng mặt. Bởi vì khi mà mình thấy nó thì cái khổ đã mất rồi. Nhớ đó. Cái này phải ghi lại.
Bất cứ cái khổ nào, cái niềm vui nào, sự sung sướng nào mà ta thấy được nó là nó đã mất và cái khác đang hiện hữu.
Bởi thì theo A tỳ đàm thì không bao giờ có cái gì trên đời này tồn tại quá 1 sát na (1). Đó là chuyện thứ nhất. Chuyện thứ hai là không bao giờ có hai cái tâm cùng lúc tồn tại, cho nên cái này đi mất thì cái kia mới tới. Nên khi tôi đau tôi biết rằng tôi đang đau, cái đau mà tôi biết đã trở thành quá khứ rồi. Và cái tâm mà tôi biết đang đau đó vừa xuất hiện nó cũng biến mất. Nó nhanh như vậy đó, thưa quý vị.
Và vì hôm nay chúng ta chỉ học trên mặt lý thuyết cho nên chúng ta không có thấm. Chứ nếu một ngày nào đó chúng ta là hành giả, chúng ta sống hết mình với cái điều mà tôi vừa nói, thì lúc đó sự dính mắc ở trong sáu trần ít đi nhiều lắm. Và từ đó dẫn đến chuyện mình bớt khổ nhiều lắm. Và từ cái chuyện bớt dính mắc mình sẽ bớt sợ chết.
Tại sao anh sợ chết? Vì anh sợ mất. Nói thẳng luôn: một là anh sợ mất; hai là anh mịt mù anh không biết anh sẽ đi về đâu? Tai sao anh sợ hãi khi không biết đi về đâu? Là vì mình sợ khổ ở trong một cảnh giới nào đó. Mình không còn sung sướng như bây giờ nữa. Nói ví dụ: Bây giờ tài khoản của mình ở trong nhà băng đã lên 36 tỉ đồng Việt nam rồi, mình có mấy chiếc xe, con cái mình gửi qua Úc, qua Mỹ học hết rồi, tương lai đang sáng ngời, mình đang chờ bồng những đứa cháu nội cháu ngoại bụ bẫm kháu khỉnh. Mà đùng một phát vô bệnh viện là mấy cái này mất sạch! 36 tỉ đó là đứa khác nó xài, cháu nội, cháu ngoại có những đứa khác nó bồng. Rồi mai này những đứa con, những đứa cháu tốt nghiệp đại học về ai đón nó ở phi trường đây? Bao nhiêu người mơ ước được 1% những gì mình có mà không được. Bao nhiêu kẻ bây giờ đang khổ cực bán vé số, bán bánh mì, bán dạo buôn gánh bán bưng, bán chè bán cháo đầy đường, vậy mà họ sống trơ trơ. Còn mình giờ đây những thứ mình có mà một sớm mai hồng mình phải lìa bỏ tất cả. Lòng nào mà cam cho nổi?
Bút : Toại Khanh
( SƯ GIÁC NGUYÊN )
Trích bài giảng ngày 29/05/2019 KTC.6.63. Pháp Môn Quyết Trạch
Kalama xin tri ân bạn chanvinghiem ghi chép.

Bài 3C: 12 Duyên KhởiSư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.I. Nền tảng của đời sống gồm có...
03/08/2026

Bài 3C: 12 Duyên Khởi
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi.
I. Nền tảng của đời sống gồm có ba thứ:
“Tiền nghiệp, khuynh hướng tâm lý và môi trường sống”
Tiền nghiệp là nghiệp thiện ác đời trước.
1. Hiện nghiệp là nghiệp cho quả:
Nếu là nghiệp mạnh thì tiền nghiệp có thể là trọng nghiệp sáng nay chiều nay nó thành tiền nghiệp.
Chúng ta nói tiền nghiệp tưởng là quá khứ? Chưa chắc. Nếu ta tạo trọng nghiệp buổi sáng, thì chiều nay trọng nghiệp ấy trở thành tiền nghiệp trong ngày.
Kiểu như chụp hình lấy liền.
2. Tiền nghiệp là nghiệp của hôm qua nói với hôm nay. Hôm nay nói với ngày mai.
Hôm nay nói với ngày mai, nghiệp tạo chiều nay là tiền nghiệp của ngày mai.
Nghiệp tạo kiếp này là tiền nghiệp của kiếp sau.
Định nghĩa:
- Quá khứ là hôm qua với hôm nay.
Ngày nay là quá khứ.
- Hôm nay là quá khứ của ngày mai.
- Tương lai là ngày mai của hôm nay và hôm nay so với ngày hôm qua. Và chúng ta có thể làm chủ được thời gian không?
- Chỉ có người nào sống hết mình với hiện tại thì người nó mới làm chủ thời gian.
- Hôm nay, ta sống thiện, là hôm qua ta có một tương lai đẹp.
- Hôm nay, ta sống thiện, là ngày mai ta có một quá khứ đẹp.
- Ngay bây giờ ta sống thiện, là hiện tại ta sống đẹp.
- Khi ta đang có một hiện tại thiện có nghĩa là ngày hôm qua có một tương lai thiện và ngày mai có một quá khứ đẹp. Như vậy chỉ cần thiện hiện tại là ta có được ba lần thiện.
- Đức Đa La Lama Ma nói: “Một năm có hai ngày không làm được việc gì hết. Đó là ngày hôm qua và ngày mai”.
- Câu này rất hay. Chúng ta là toàn bộ giá trị đời sống chỉ là tại đây và bây giờ. Nếu ngay bây giờ ta không an lạc thì không bao giờ được an lạc.
Tại vì chúng ta chỉ an lạc trong hiện tại, không an lạc trong quá khứ được.
* Ví dụ:
- Quý vị nói: Tôi từng có một quá khứ vàng son. Cái đó là do quý vị nói thôi chứ cái vàng son nó phải diễn ra trong hiện tại.
Cho nên chúng ta nói từng có một quá khứ vàng son. Nhưng nghĩ kỹ lại đó là quá khứ, nó phải từng là hiện tại kìa. Hôm nay ta nhớ lại quá khứ thấy nó vàng son.
- Đức Phật dạy: “Sống với hiện tại”.
Khi anh có hiện tại tốt đẹp có nghĩa là ngày hôm qua anh có tương lai tốt đẹp.
Và ngày mai chúng ta có một quá khứ tốt đẹp. Và đương nhiên hiện giờ chúng ta đang có một
hiện tại tốt đẹp. Như vậy thì thế giới này, cái thời gian của thế giới nó thuộc về cái kẻ nào sống hết mình với
hiện tại và Tứ Niệm Xứ chính là con đường sống với hiện tại. Chỉ có sống hiện tại chúng ta mới có thể thấy được, thấm thía được tại sao thế giới là khổ. Bởi vì chuyện đã qua rồi nó không còn. Chuyện sắp tới thì chưa có. Mà chưa đến có nghĩa là không có.
3. Như vậy, để thấy được bản chất của thế giới, chúng ta phải sống trong hiện tại.
+ Để thấy được thế giới này là khổ, cũng phải sống trong hiện tại.
+ Để thấy được con đường cho ngày mai, chúng ta cũng phải sống trong hiện tại.
* Ví du: Có ông thầy bói ở bên Thái đi tu. Vì ông là thầy bói nổi tiếng. Hoàng gia thường mời ông xem quẻ…
Vì ông đã đi tu nên người Thái rất kính chư tăng. Ông lại là thầy bói giỏi. Cho nên ngày Tết, các vị đại gia thường đến xin Ngài xem quẻ. Đại gia mang tiền cúng lễ tính bằng tiền ký, không phải tiền nhỏ lẻ. Nhưng Ngài từ chối và nói: “Vì sao đưa tôi tiền? Có phải muốn tôi xem bói không? Nếu tin tôi, mới nhờ tôi xem đúng không? Họ nói phải. Ngài nói: “Nếu tin tôi hãy nhớ lời của tôi. Bói tương lai không bằng tạo tương lai”?
- Chúng ta xòe tay hỏi thầy xem quẻ con có làm bác sĩ được không? Thay vì đi xem quẻ, chưa chắc đã linh ứng. Thôi thì ta về cố gắng học tập để thi vào ngành y làm bác sĩ. Vì thi đậu vào ngành y hay không do tự thân học tập của ta. Chính ta tự xem quẻ cho bản thân ta.
Nếu quẻ linh ứng thì thầy bói đâu có nghèo. Thầy phong thủy đâu có lụm bạc cắc. Vậy mà mấy bà tin mới lạ?
* Ví dụ: Người ta nói pháp lạ là xem có chuyện ly kỳ. - Trong kinh nói pháp lạ gồm các trường hợp sau đây mà người trí mới tin nó là pháp lạ.
- Một sự việc nó phải xảy ra, nhưng nó không xảy ra đó là phép lạ.
*Ví dụ: Người ta chửi vô mặt mình, lẽ ra mình nổi điên lên. Nhưng mình vẫn mĩm cười. Trong kinh gọi là pháp lạ. Pháp lạ này là lợi ích cho chúng sinh. Còn phép lạ đi trên lửa, trên nước đó thấy hay thật, nhưng lại không có giúp gì cho chúng sinh.
Nếu nguyên đám đông tôi là đều là những người mà có
khả năng yêu thương tràn trè đó thì theo theo trong Phật giáo đó là phép lạ.
* Mẫu truyện:
- Ông phóng viên người Mỹ tác nghiệp tại xứ Nepal, tại thủ đô ông thấy bà cụ ngồi xin tiền ở góc phố. Người đi qua cho ít lắm… Ông phóng viên chụp các vị Sư tu khổ hạnh, các cảnh sinh hoạt xã hội… Ông thấy bà cụ đang ngồi xin tiền, đã đói bụng mua một miếng bánh ăn… Bà lão thấy con chó chạy tới vẫy đuôi bên cạnh. Bà chia cho nó một nửa mẫu bánh. Phóng viên hỏi: “Bà có đói bụng hay không”?
Bà nói: “Không đói sao tôi mua bánh”;
Phóng viên: “Bà đói sao bà cho con chó một nửa?”
Bà cụ: “Tôi đói nó cũng đói”
Phóng viên kể lại với đồng nghiệp: “Không có Pháp Sư nào giảng về hạnh bố thí hay bằng bà lão ăn mày”.
Bài pháp: “Bố thí - Vô phân biệt - Từ bi bao dung”.
Phóng viên nói là không có pháp sư nào giảng pháp thoại hay hơn cái bà lão đó.
Bà lão thuyết pháp với nhiều đề tài:
- Thứ nhất, trong mắt bà lãi: Người với vật trong một tình huống nào đó không hề khác nhau.
- Thứ hai, bà lão nhắc cho phóng viên rằng nếu mà không khác nhau thì chúng ta không nên cư xử phân biệt.
- Thứ ba, bố thí bằng bàn tay phải, đừng để cho bàn tay trái biết bà cụ này đúng là bố thí không danh lợi.
Các đại gia bố thí thật ra mình bố thí, phông trương chụp ảnh rình rang. Đồng nghĩa bố thí bằng tâm hữu hạn. Kết quả của tâm hữu hạn không cho quả vô lượng.
Trong khi muốn có công đức vô lượng lại dùng tâm hữu hạn. Hữu hạn là cái gì? Biết hiểu không? Bị hạn chế.
Cho nên rất nhiều vị đại gia đó hên là có nhiều tiền nhưng mà xui là vì cái đầu đại gia đi nghe pháp rất khó là bởi vì họ chỉ nghe được cái gì mà vuốt ve cái đại gia của họ Những người đẹp là một, bằng cấp là hai, giàu có là ba, tiến tâm là bốn, quyền lực là năm. Thường là họa nhiều hơn phúc. Bởi vì khi mà họ có một trong năm cái này, họ không chịu cúi đầu xuống để lắng nghe.
Phàm phu do một cái phước nào đó trong quá khứ. Bây giờ sanh ra được sáu trần như ý. Nhưng mà chính cái sáu trần như ý nó đối với họ nó là cái họa nhiều hơn phúc.
- Đối với sáu trần như ý mà không biết tận dụng để tu thì nói gì là sáu trần bất toại.
Thì thử hỏi làm sao mà đời không là biện khổ? Làm sao đời không là biện khổ?
Nó cứ được một tí là nó dính khắn ở trong đó. Nó không có chịu bừng sáng, nó không chịu nhảy ra ngoài chấp thủ đó. Rất là khó.
Chữ Satta dịch là chúng sinh rất gượng. Chữ Satta là dính. Nó là past participle của saty là dính. Stick là dính.
Trên đời này không có cái gì mà đụng đâu dính đó bằng chúng sanh.
Mà dính có hai cách. Dính bằng cách là thích và dính bằng cách là ghét. Hồi đó giờ mình nghe nó dính mình tưởng là dính là thích ngu mới có 50%. Mình ghét mình có dính không? Có.
Mình có đem cái người mình ghét vào trong mùng của mình không? Có. Đem vào giấc ngủ có không? Có.
Người ta thương, ta mang vào giấc ngủ nhưng bị kẻ tiểu tam chực sẵn, ta muốn chém nó rồi có mang nó theo vào giấc ngủ không? Vậy ghét cũng là một cách dính.
- Dính là nghĩa là khi tâm không chịu rời ra.
Mình thương là một cách dính mà mình ghét cũng là một cách dính mà mình không tin. Satta là bị dính nhiều nhất gọi là Satta.
Đặc biệt người ta cứ dịch Satta là chúng sanh. Dịch như vậy rất nghèo ý nghĩa.
II. 12 duyên khởi:
1. Do vô minh trong Tứ Đế mới có các hành là thiện ác từ từ mới có tâm đầu thai từ tâm đầu thai mới có 06 căn, 06 xúc, 06 thọ
- Do không biết sáu căn trần là khổ, tức là vô minh.
- Do không biết sáu căn trần là khổ nên thích trong đó.
- Vì thích trong sáu căn trần nên tiếp tục sanh ra với sáu căn trần.
2. Khi sáu căn gặp sáu trần như ý thì có 03 thái độ.
2.1. Muốn hiện hữu với nó.
2.2. Muốn sở hữu nó,
2.3. Muốn thưởng thức nó.
- Khi gặp sáu trần bất toại, ta muốn thoát khỏi nó và muốn từ chối, xóa bỏ, muôn có thứ ngược lại với nó
- Chính từ sáu cái muốn trong sáu trần nó mới tiếp tục đầu tư các nghiệp thiện ác.
=> Như vậy, 12 duyên khởi đơn giản là do không hiểu sáu căn trần là vô thường khổ nên tiếp tục tin vào đó theo đuổi và trốn chạy bằng hai cách thiện ác mà hễ có thiện ác thì lại tiếp tục đầu thai ra với sáu căn trần để sống với cái như ý và bất toại. Từ đó, tiếp tục tạo ra cái nhân đầu thai nữa.
3. Như vậy thì 12 Duyên Khởi gom lại còn 04:
- Nhân tạo ra quả.
- Quả tác động quả,
- Quả tác động nhân
- Nhân tác động nhân.
12 Duyên khởi gom còn bốn cái này nó làm nên cái dòng luân hồi của mình.
- Nhớ tới 12 mà trong kinh có nhiều cách kể. Nhưng kể 04 cách cho dễ nhớ:
- Tức là do cái nhân vô minh không biết mọi thứ là khổ.
Do không hiểu mọi thứ là khổ cho nên nó mới làm nền cho mọi thứ. Không biết đó là đống rác cho nên chúng ta mới lựa trong đống rác cái này xài được cái kia không xài được. Chính vì lựa ta mất thời gian cho những cái được và những cái không được.
Như vậy cả đời mình chỉ trên đống rác. Đức Phật dạy chúng ta phải rời xa đống rác đó nhưng ta lại không tin.
4. Định nghĩa:
4.1. Tiền nghiệp là nghiệp kiếp trước hoặc nghiệp năm trước, tháng trước tuần trước… Đều là tiền nghiệp.
4.2. Khuynh hướng tâm lý và môi trường sống:
- Nên 25 và 14 của mỗi người khác nhau. Khi đối diện với sáu trần cách xử lý và chế tác không giống nhau.
- Trần cảnh tự nó không có giá trị tuyệt đối. Không có trần cảnh nào là hằng số bất biến mà nó là gì? Tùy thuộc vào cái trình độ dẫn đến thái độ của chúng ta chế tác và xử lý trần cảnh.
* Ví dụ: Với lớp này, sao đó tôi mới dạy học, tôi nghĩ cách nào đó tôi không muốn dạy nữa các vị có tin không?
Có những cảnh ta đến để thuê resort nghỉ mát. Không nên mua.
Có những món đồ mình nên thuê đừng có mua.
- Cho nên tùy thuộc vào tiền nghiệp khuynh hướng tâm lý và môi trường sống, trình độ tâm linh chúng ta nó đến mức nào và tự trình độ nó dẫn đến thái độ xử lý và chế tác trận cảnh.
- Trên cùng một trận cảnh chúng ta có nhiều cách chế tác nhau.
* Ví dụ:
- Có người chìm đời sống hưởng thụ. Họ chết sanh lại cõi dục.
- Có người chán đời sống vật chất. Họ đắc thiền sanh về cõi Phạm Thiên.
- Có người chán đời sống vật chất. Họ cầu giải thoát.
=> Nhưng hạng cầu giải thoát rất hiếm. Có nhiều người phải nhìn cái khổ mới chịu tu.
- Có người do chán cái sướng mà đi tu.
- Người không có tin cái đó, người phước ít, họ sợ khổ mà tu.
- Người phước nhiều khổ không có thì họ lại chán cái sướng mà họ đi tu.
Phải hiểu rõ mới tin có hạng thứ hai. Chứ còn tự nhiên các vị nghĩ đời này chỉ có sợ khổ mới đi tu thì là nói thẳng luôn. Tại do mình ít phước, thiếu phước cho nên chỉ tin trên đời có hạng thứ nhất. Nhưng nó có hạng thứ hai nữa. Khổ không bao nhiêu nhưng mà do nó chán ngay trong cái sướng của nó.
* Ví dụ:
Tôi từng tới những nhà cư sĩ triệu phú, trong nhà đầy nước mắt. Khi mà hai vợ chồng cày gầy dựng sự nghiệp lúc cả hai người đều trẻ.
Khi thành sự nghiệp rồi thường là bước qua ngưỡng U50. Mà đàn bà U50 nhìn nản lắm. Nhưng lúc đàn ông U50 nếu có tiền vẫn sung sức. Nhìn lại cái bà nhà thì nó nản quá.
- Chính vì trình độ và thái độ của ta dẫn đến đánh giá và nhận xét trần cảnh theo cái cái level của mình.
- Có người phước nhiều thì cái khổ làm cho họ sợ tạm thời không có. Nhưng mà cái cái trẻ nhà của cái sướng làm cho họ sợ mình.
- Cái khổ mà phải giật gấu vá vai rồi tần tảo nắng gió, mưa sương nhà dột cột siêu rồi cái đó họ không có.
Nhưng mà họ nhìn cảnh mà tôi đã từng nghe một cô Phật tử chiều đi làm về đó lẽ ra quẹo vô nhà mà không biết vô để làm gì cũng trả cái nhà bên bờ biển cực đẹp mà về nó nản tại biết ông chồng có phòng nhì.
Sau này cô trở thành một hành giả rất miên mật không phải vì đói ăn, thiếu tiền mà vì cổ chán giàu vô nghĩa.
Cho nên chúng sanh khi thiếu phước, thiếu trí không có duyên lành giác ngộ có nhiều lý do để tiếp tục trầm luân. - Khi khổ quá, tìm cách trốn khổ bằng ác nghiệp,
- Khi có tí phước để hưởng lạc lại cắm đầu ở trong vị ngọt lại đi xuống.
Khổ quá cũng tìm cách thoát khổ. Cách thoát khổ của họ là gì? Là chui xuống. Rồi sướng quá thì họ cũng tìm cách hưởng thụ bằng cách là chui xuống.
- Người có duyên lành giải thoát khi họ thấy khổ thì họ tìm cách thoát khổ bằng cách đi lên. Mà khi sướng quá họ lại chán trong cái sướng đó. Họ nghi ngờ cái giá trị mà họ đang tận hưởng.
Thì các vị không tin là trên đời này có người họ chán cái vị ngọt mà họ đang có.
- Người đắc thiền cũng sợ vật chất họ tìm cách thoát nó ra.
- Đức Phật dạy: “Chúng sanh là dính”. Một là thiếu phước, bị chìm trong cảnh dục. Hai là, chìm trong cảnh dục mà lại nhiều phước.
Người thiếu phước chìm trong cảnh dục là cảnh dục hạ liệt.
Tùy loại tâm nào thích hợp đó là loại vật chất nào.
* Ví dụ:
- Cái 25 là không thể nào mà nó tạo ra “Bùn” được. Nó chỉ tạo ra sen.
- Cái 14 nó tạo ra “Bùn” và rong riêu.
- Cho nên người thiếu phước, thiếu trí là khi nó bị khổ nó tìm cách vẫy vùng và càng vẫy nó càng lúng ở trong cái khổ đó. Khi nó may mắn mà nó có gặp được tí phước nào đó, một chút sung sướng thì nó cũng vẫy vùng để nó tận hưởng, nó ghim sâu, cắm chặt vào trong cái sướng rồi ra không được.
- Người có huệ căn, có phước họ gặp khổ, họ đâu chịu ngồi yên, họ vùng thoát. Nhưng mà thay vì lắc lắc để cho lúng vô thì họ họ ngôi lên. Đa phần chúng sanh có khuynh hướng lắc cho lúng xuống.
- Khi chán, sẽ đi vào trong đạo, mới bước chân vào cửa đạo, câu hỏi đầu tiên trong đầu là ta đi đúng đường chưa?
- Một là trước khi đi không chọn đúng đường mà khi may mắn mà chọn đúng nó lệch một tí không biết mà nó lệch một ly nó đi ngàn dặm.
- Giả định mình đã chọn được Phật pháp là mình cho là đúng đường. Giả định là đúng đường đi. Khi mình theo Phật pháp được ít lâu rồi là bắt đầu mình sai mà mình không biết.
* Ví Dụ:
- Chúng ta cất chùa, có đệ tử rồi ăn, rồi uống trà, rồi alo con khỏe không, rồi mời thầy đi chữa lành đi thanh lọc rồi đi du lịch để thoải mái tư tưởng. Cuối cùng hồi mình đi du lịch là mình không hay, cuối cùng mình thành ra phú tăng.
- Càng tu lâu là càng dễ đi lệch. Càng tu lâu càng lười đọc kinh sách vì nghĩ mình đã giỏi rồi. Rất hiếm vị trụ trì nào chùa to Phật lớn mà còn có hứng thú đọc sách lắm. Đọc sách là một, ngồi thiền là hai. Hiếm lắm.
Tôi biết nhiều câu nói sẽ lọt tay đến nhiều vị nhưng mà nói chuyện tu học mình cũng đôi khi mình cũng phải nói thiệt nhau. Khi mà người đời cũng vậy, khi mà có sự nghiệp rồi đó hiếm bao giờ chị ngồi lại mà tu thiền hay xem kinh lắm, khó lắm. Lúc đó họ coi cái họ có là số một.
Phước báo dữ dội lắm mới có được tín, tấn, niệm, định, tuệ. Phước báo dữ dội lắm. Chưa cần đắc, không cần đắc thiền, không cần đắc đạo. Chỉ riêng chị có được năm cái này mà đủ xài đó, khó lắm. Chỉ riêng niềm tin, chánh tín là niềm tin đi kèm với trí tuệ là đã khó có rồi. Thường là mình tin bằng tình cảm không.
- Tin bằng tình cảm là sao?
Tin là vì ngoại hình của sư phụ, vì tiếng tâm của sư phụ, vì giọng nói của sư phụ, vì cách ăn nói của sư phụ. Hiểu không ta? Trong khi quan trọng nhất là ông sư phụ nói cái gì không màng. Chuyện đầu tiên là kiếm sư phụ nổi tiếng trước đã.
- Còn phụ nữ là kiếm sư phụ có ngoại hình, giọng nói trước cái đã. Rồi hoặc thêm nữa là cách ăn nói của sư phụ cái đã.
- Còn sư phụ nói cái gì không quan trọng, đa phần mình bị đó, bị rất nặng. Và nếu mà mình tin sư phụ bằng mấy tào lao bí lao đó đó thì đó không phải là chánh tín. Mà nếu chánh tín mà không có thì nó thành tà tín, cuồng tín và mê tín. Nó ác chỗ đó mà mình không chịu thấy.
Đó là tín. Rồi qua tới tấn. Niềm tin mà nó đã sai thì bao nhiêu nỗ lực nó đều thành ra là tà tinh tấn, phải không ta? Nó ác chỗ nó kéo nguyên một dây. Là khi tà tín kéo theo tà tinh tấn. Rồi tà niệm, tà định và tà trí. Tà trí là gì? Cũng suy nghĩ mà suy nghĩ theo hướng trời ơi. Thông minh đó, thông minh lắm mà nghĩ theo hướng trời ơi.
Bởi vì nên nhớ trí nó giống như con dao vậy đó. Là dụng cụ hay là hung khí là do mình dùng.
- Dụng cụ có nghĩa là mình để xài trong công việc. Còn hung khí hoặc là tang vật. Trời ơi nghe nghe hai chữ thấy ớn rồi. Hung khí, tang vật là thấy thua rồi.
Trí tuệ nó gớm như vậy đó. Cho nên khoan nói thiền định đạo quả, chỉ nói khoảng có được năm quyền để xài hay không là cả một vấn đề. Niềm tin sai, coi sư phụ nói cái gì.
Đương nhiên chuyện mà sư phụ nói gì và nói kiểu nào thì nó rất là... Nói kiểu nào thì nó dễ vô đầu mình hơn. Nhưng mà quan trọng nhất vẫn là nói cái gì, quan trọng nhất nói cái gì chứ còn đi theo sư phụ bằng những lý do tôi nói, nếu mình ăn nói hay làm sao bằng mấy MC ngoài đời.
Tùy thuộc vào việc ta sống nhiều với căn nào trong sáu căn, chìm sâu trong trần nào của sáu trần. Tùy thuộc vào hai đó, rồi còn nhiều nữa. Tùy thuộc vào việc ta thích cái gì, ghét cái gì. Tùy thuộc vào việc ta có nhiều phước báo hay là nhiều tội lỗi. Tất cả những cái tùy này nè, nó cộng lại thành ra một thế giới là thế giới tùy duyên. Giờ có nghe chữ duyên chưa?
5. Thế giới tùy duyên.
- Mọi thứ do các duyên để xác định được mình đang đi đúng đường hay sai đường, hạnh phúc hay đau khổ là phải coi mấy cái tùy nãy giờ đó.
1. Tùy thứ nhất là tiền nghiệp ra sao,
2. Khuynh hướng tâm lý ra sao, ta thường sống nhiều với căn nào, trần nào và cách xử lý căn trần đó như thế nào, cách xử lý nó nữa.
Thí dụ như mình cùng thích, có người sống nhiều về mắt nhưng mà có người sống nhiều về mắt mà họ thành kiến trúc sư.
Có người sống nhiều về mắt mà họ lại thành người phượt du lịch. Có người sống nhiều về mắt họ lại mê tranh ảnh. Có người sống nhiều vào lỗ tai mà thành ra là nhạc sĩ. Có người sống nhiều vào lỗ tai nhưng mà lại thành ca sĩ. Có người sống nhiều với lỗ tai và lại là người nghe nhạc thôi.
Đó, đó là cảnh sắc, cảnh thinh. Cảnh khí cũng vậy.
Có người sống nhiều với mũi, có người sống nhiều với lưỡi, có người sống nhiều với xúc giác. Có người là sống cực khổ sao cũng được mà chiếc xe ngồi phải êm, sống nhiều xúc giác. Giường ngủ là phải bọc nệm bọc lụa. Áo quần là phải mịn ấm. Tôi biết có nhiều người là họ coi xúc giác là số một, nhưng có người coi vị giác là số một. Sống sao cũng được miễn ăn ngon thôi.
- Do quá nhiều cái tùy, cho nên chất lượng của đời sống mình ra sao, luân hồi hay giải thoát, an lạc hay đau khổ, thiện hay bất thiện, có đúng không?
- Do quá nhiều cái tùy. Nhưng mà nhớ tùy đàng hoàng chứ không phải tùy kiểu như cha nội đó. Phải có rất nhiều cái tùy.
- Giáo Lý Về Duyên.
- Chúng ta đã học về duyên khởi, tôi giới thiệu sơ về duyên hệ, Duyên khởi là sao?
III. Duyên khởi:
1. Duyên khởi
- Là nguồn gốc, cấu trúc và vận hành của “Dòng Luân Hồi” ra sao.
2. Duyên Hệ:
- Là mọi hiện hữu vận hành ra sao, có liên quan hay không liên quan đến tái sinh và nghiệp báo. Có liên quan hay không liên quan, miễn là hiện hữu.
=> Duyên khởi là tập trung vô nguồn gốc, cấu trúc và vận hành của dòng luân hồi. Cái gì mà để giải thích chữ tái sanh luân hồi là phải vô duyên khởi.
=> Duyên Hệ bao trùm tất cả mọi hiện hữu. Có luôn duyên khởi trong đó.
3. Chữ Duyên là mọi thứ trên đời này có ba không:
3.1. Không thứ nhất: Không có gì ngẫu nhiên mà có, phải do các điều kiện. Vậy cái đầu tiên là không có gì ngẫu nhiên, phải không ta?
3.2. Không thứ hai: Không có gì mà tồn tại độc lập, mà nó luôn luôn là một khối tổng hợp của nhiều thứ. Xong chưa ta? Hả? Hiểu, một là không có gì ngẫu nhiên, phải cần các điều kiện. Thứ hai là không có gì là một hết, tất cả là một khối tổng hợp, xong chưa?
3.3. Không thứ ba: Không có cái gì trên đời này mà đã có mặt mà còn hoài. Vận hành là luôn luôn mọi sự có mặt nó đều bị thay thế, thay thế, thay thế, thay thế. Hiểu không ta?
=> Như vậy mỗi thứ trên đời này do duyên mà có.
4. Duyên có hai: Duyên Trợ Sinh và Duyên Trợ Lực.
4.1. “Duyên Trợ Sinh”: (Janaka).
- Là những điều kiện giúp cho cái gì đó có mặt.
4.2. “Duyên Trợ Lực”: (upatthambhaka).
- Là điều kiện giúp cho cái có mặt được phát triển, được kéo dài. Duyên Trợ Sinh (Janaka). Trợ Lực là upatthambhaka. Mỗi thứ duyên này lại có bốn trường hợp. Mỗi thứ duyên có bốn trường hợp:
•_ A giúp B bằng cách có mặt trước.
•_ A giúp B bằng cách có mặt sau.
•_ A giúp B bằng cách cùng có mặt.
•_ A giúp B bằng cách vắng mặt.
1. A giúp B bằng cách có mặt trước.
- Do cái đó xuất hiện trước, sức khỏe, nhan sắc, tài sản, đời sống của ta được thúc đẩy, được tác động.
* Ví dụ:
- Dọn mâm cơm mời sư ra ăn. Tức phải có mâm cơm trước, mời sư ra ăn. Mâm cơm là A giúp B bằng cách là có mặt trước, điều kiện phải có mặt.
- Sư được mời ra mâm cơm được dọn trước, bây giờ Sư là A giúp B bằng cách là có mặt sau.
- Vì Sư sẽ ra lúc 10:30 cho nên lúc 10:00 mâm cơm dọn sẵn.
- Và cái cuối cùng mới ghê, là sự vắng mặt của cái gì đó và của người nào đó là lý do để cái gì đó có.
1. Lý do có trước, hậu quả có sau là (Purejāta): “Tiền Sanh Duyên”.
2. Hậu quả có trước lý do có sau là (Pacchājāta): “Hậu Sanh Duyên”.
3. Lý do và hậu quả cùng có mặt là: (Sahajāta) “Đồng Sanh Duyên”.
4. Lý do vắng mặt và hậu quả có mặt: (Natthi / Vigata):
“Vô Hữu / Ly Khứ Duyên”
- Thứ tư này gọi là vô hữu hay là ly khứ duyên.
A giúp B bằng cách vắng mặt là sao? Tức là sự vắng mặt của cái gì đó là lý do cho sự có mặt của một thứ khác. Sự vắng mặt của người và vật nào đó là lý do để cái khác có mặt, gọi là ly khứ hay là vô hữu duyên.
Bốn cái này đủ để tạo ra vũ trụ không?
1. Mẹ sanh con: Mẹ có trước mới có con, tiền sanh
2. Con sẽ ra đời vào tháng 10 cho nên tháng 6 đã chuẩn bị bỉm rồi. Đứa con là hậu sanh duyên.
3. Bà mụ và đứa con phải cùng có mặt. Đồng sanh duyên
4. Bà mụ dọn phòng đặt nôi em bé: “Vô Hữu / Ly Khứ Duyên”
Chỉ riêng vụ em bé thôi là mình đã thấy đủ bốn duyên rồi, phải không?
• Do mẹ có trước mới có bé.
• Rồi do bé sẽ có nên mới có bỉm tã và đồ dùng cho trẻ em.
• Rồi cái gì nữa? Bà mụ và em bé phải cùng có mặt.
• Rồi thứ tư là cái phòng phải trống thì nôi em bé mới có chỗ.
IV. Kết Luận:
Các vị phải chứng minh bằng cách nào để cho tôi biết rằng các vị hiểu bốn duyên mà cách quý vị nói nó có liên hệ đến chuyện ngày mai tôi dạy.
Chứng tỏ mình hiểu bài và mình phải nói thuyết phục:
• Thứ nhất, tiền sanh duyên: Những học trò giỏi ngồi chờ sư cho nên sư phải tới, đó là tiền sanh duyên.
• Hậu sanh duyên: Chúng tôi nghĩ rằng sư là thầy giỏi sẽ tới, nên đám trò giỏi ngồi chờ. Vì ông thầy giỏi sẽ tới cho nên đám học trò đã ngồi sẵn.
• Đồng sanh duyên: Lớp học sẽ diễn ra khi hai đứa giỏi gặp nhau.
• Ly khứ duyên: Đến giờ cơm thì hai đứa giỏi xa nhau.
Tức là chứng tỏ ta hiểu bài mà phải thuyết phục. Còn không thế là ngày mai ly khứ duyên, mình xa nhau là vì không có duyên với nhau.
Sư Giác Nguyên Giảng. (Chùa Nguyên Không).
PT: Nguyên Đạt - Lược ghi

Address

Trần Quý Cáp
Ninh Hoa

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Hãy là chiếc lá rơi posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share