Giác Ngộ - Giải Thoát

Giác Ngộ - Giải Thoát Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông.

Tổ chức Càn khôn Vũ trụ***Không gian mênh mông không biên giới có 2 phần, gồm:- Một là “Phật giới”.- Hai là “Tam giới”. ...
17/09/2025

Tổ chức Càn khôn Vũ trụ
***
Không gian mênh mông không biên giới có 2 phần, gồm:
- Một là “Phật giới”.
- Hai là “Tam giới”.

III. Phần 3: Sự sống nơi Phật giới:
1. “Càn khôn Vũ trụ” có đến đâu, thì Phật giới có đến đó.
2. Là nơi sống của “Tánh Phật” và “Chư Phật”.
3. Trong không gian “Phật giới” toàn là “điện từ Quang”.
4. Điện từ Quang tự nhiên hằng rung động, có công năng đẩy ra xa và thu lại gần 4 thứ của Tánh Phật, gồm:
- Tánh Phật Thấy Thanh tịnh.
- Tánh Phật Nghe Thanh tịnh.
- Tánh Phật Nói Thanh tịnh.
- Tánh Phật Biết Thanh tịnh.
Tánh Phật này, tự nhiên có Hằng hà sa số trong Phật giới.
5. Trong mỗi Tánh Phật tự nhiên có cái “Ý”. Trong mỗi cái Ý tự nhiên có 4 thứ, gồm:
- Có cái tự nhiên Thấy, gọi là “Hằng Thấy”.
- Có cái tự nhiên Nghe, gọi là “Hằng Nghe”.
- Có cái tự nhiên Rung động, muốn phát ra tiếng, tự nhiên có tiếng, gọi là “Hằng Pháp”, tức tiếng nói.
- Có cái tự nhiên Biết, gọi là “Hằng Tri”.
Bốn thứ này gọi là sự sống của cái Ý.
6. Chư Phật cũng như Như Lai giải thích như sau:
- Cái Ý này được điện từ Quang trong Phật giới bao bọc lại gọi là “Tánh của Ý”.
- Cái Tánh của Ý này có đầy khắp trong Phật giới, nên Như Lai cũng như “Mười Phương Chư Phật” gọi là “Tánh trong Phật giới”.
- Như Lai cũng như Mười Phương Chư Phật gọi tắt là “Tánh Phật” hay “Phật Tánh”.
Điện từ Quang chính là sự sống cho Tánh Phật.
Tánh Phật là sự sống của muôn loài trong mỗi Trái đất và trong mỗi Tam giới.
Trích trong Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông

TẠI SAO ĐỨC PHẬT LẠI GỌI MỘT HỆ MẶT TRỜI LÀ MỘT TAM GIỚI? CHỮ TAM GIỚI CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀOĐộc giả Trương Thị Hảo, sin...
11/04/2025

TẠI SAO ĐỨC PHẬT LẠI GỌI MỘT HỆ MẶT TRỜI LÀ MỘT TAM GIỚI? CHỮ TAM GIỚI CÓ Ý NGHĨA NHƯ THẾ NÀO
Độc giả Trương Thị Hảo, sinh năm 1969, cư ngụ Số 8, Đường số 7, phường Phú Mỹ, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, hỏi: Tại sao Đức Phật lại gọi một hệ mặt trời là một tam giới. Chữ “tam giới” có ý nghĩa như thế nào?
Kính mong Thiền Tông gia Đức Tịnh chỉ giải cho tôi được rõ?
Trân trọng cảm ơn!
Thiền Tông gia Đức Tịnh trả lời:
Độc giả Trương Thị Hảo thân mến! Ngày Đức Phật còn tại thế, Đức Phật gọi một hệ mặt trời, là một tam giới. Khi văn minh loài người lên cao, các nhà thiên văn học bắt đầu nghiên cứu về vũ trụ và đưa ra nhiều học thuyết, trong đó có học thuyết “Nhật tâm”. Sau này phát triển thành học thuyết Thái Dương Hệ, dịch ra tiếng Việt là học thuyết “Hệ Mặt Trời”!
Chữ Tam giới, có ý nghĩa như sau:
- Tam: Là ba (số 3);
- Giới: Là giới hạn;
Có nghĩa là: Ba giới hạn.
Ba giới hạn này là những giới hạn nào?
Trong 1 Tam giới có 4 bầu hoàn đạo. Bầu hoàn đạo thứ nhất là nơi chứa hằng hà sa số những hành tinh vật tư và 6 hành tinh tứ đại có sự sống, gọi là Trái đất. Con người chúng ta đang sống trên Trái Đất luân hồi sinh Nhân Quả, quay quanh bầu hoàn đạo thứ nhất và phải chịu sự chi phối bởi quy luật Nhân – Luân – Quả – Hồi, theo quy trình Thành – Trụ – Hoại – Diệt. Cuộc sống của con người chúng ta căn bản được chia ra làm hai:
1. Đời sống khoa học và công nghệ: Dù văn minh của con người có phát triển đến đâu, khoa học và công nghệ có tiến bộ rực rỡ đến mức nào, hay con người có sáng tạo ra những phương tiện hiện đại bậc nhất, thì cũng không có bất kỳ cỗ máy nào có thể giúp con người chúng ta vượt qua ranh giới của bầu hoàn đạo thứ nhất và đặt chân vào bầu hoàn đạo thứ hai được – vì bầu hoàn đạo thứ hai là bầu hoàn đạo cấu tạo bằng điện từ Âm Dương, có cường lực rất mạnh, nằm ngoài khả năng tiếp cận của khoa học và công nghệ. Đây không chỉ là giới hạn về vật lý mà còn là quy luật vật lý điện từ Âm Dương của Tam giới này.
2. Đời sống tâm linh: Con người có tu hành, hay làm phước thiện thật nhiều, thì khi hết duyên sống cũng chỉ về 1 trong 3 bầu hoàn đạo dưới đây, gọi là các cõi trời:
Ranh giới thứ nhất: Bầu hoàn đạo thứ hai: Có 11 hành tinh, gọi là cõi trời Dục Giới, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương.
Ranh giới thứ hai: Bầu hoàn đạo thứ ba: Có 17 hành tinh, gọi là cõi trời Hữu Sắc, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương.
Ranh giới thứ ba: Bầu hoàn đạo thứ tư: Có 11 hành tinh, gọi là cõi trời Vô Sắc, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương.
Trên đây là 3 giới hạn bất biến của con người. Dù khi còn sống, con người có tu hành tinh tấn đến đâu và có làm phước thiện thật nhiều, thì đến khi hết duyên sống, con người vẫn không thể nào vượt ra ngoài 3 giới hạn này, gọi là Tam giới.
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật có dạy: “Tam giới vô an du như hỏa trạch”.
Có nghĩa: Tam giới giống như một ngôi nhà lửa đang thiêu đốt chúng sanh bằng những khổ đau không lúc nào được yên. Cho dù con người có tu hành hay làm phước, để khi hết duyên sống về một trong 3 nơi như: Cõi trời Dục Giới, cõi trời Hữu Sắc và cõi trời Vô Sắc, thì cũng như đang sống ở trong ngôi nhà lửa!
Vì thế nên, cứ 10 ngàn năm lại có một người Toàn năng Toàn giác ra đời nơi Trái đất, để chỉ dạy cho những ai đã chán luân hồi nơi Trái đất và Tam giới, muốn Giải thoát ra ngoài quy luật Nhân – Luân – Quả – Hồi nơi Trái đất và Tam giới, trở về Phật giới, thành Phật!
Thiền Tông gia Đức Tịnh!

AI ƠI CHỚ VỘI CƯỜI NHAU CƯỜI NGƯỜI HÔM TRƯỚC HÔM SAU NGƯỜI CƯỜIĐộc giả Phạm Thị Loan, sinh năm 1969, cư ngụ Tổ 53, Khu 5...
01/02/2025

AI ƠI CHỚ VỘI CƯỜI NHAU CƯỜI NGƯỜI HÔM TRƯỚC HÔM SAU NGƯỜI CƯỜI
Độc giả Phạm Thị Loan, sinh năm 1969, cư ngụ Tổ 53, Khu 5, phường Hà Trung, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, hỏi: Ông bà ta có câu: “Ai ơi chớ vội cười nhau. Cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Câu nói này có liên quan gì đến Nhân Quả của con người hay không?
Kính mong Thiền Tông gia Đức Tịnh chỉ giải cho tôi được rõ?
Trân trọng cảm ơn!
Thiền Tông gia Đức Tịnh trả lời:
Ý thứ nhất: “Ai ơi chớ vội cười nhau. Cười người hôm trước, hôm sau người cười” - câu nói quý giá này được ông bà ta đúc kết từ hàng ngàn năm nay, và để lại cho con cháu giống như một lời nhắc nhở về tính khiêm nhường và sự đồng cảm giữa người với người. Trong hành trình của cuộc sống, mỗi người trong chúng ta, nhiều hay ít cũng đã từng đối mặt với khó khăn. Những lúc gặp khó khăn, có không ít người đã nhanh chóng đưa ra những phán xét, chỉ trích hay thậm chí là cười nhạo.
Họ cho rằng họ đang đứng trên đỉnh cao và vượt trội hơn người, nhưng lại không hay biết rằng cuộc sống luôn biến đổi, và không biết trước được ngày mai sẽ ra sao!
Vì vậy, câu nói này chính là lời cảnh tỉnh, để chúng ta nhớ rằng, đừng bao giờ vui mừng hay đắc chí khi thấy người khác gặp khó khăn, vì có thể vào một ngày không xa, chính chúng ta sẽ là người tiếp theo rơi vào hoàn cảnh này, hoặc là những hoàn cảnh tương tự. Vì “sông có khúc, người có lúc”.
Ý thứ hai: “Ai ơi chớ vội cười nhau. Cười người hôm trước, hôm sau người cười” - câu nói này có liên quan trực tiếp tới quy luật Nhân Quả và Nhân Quả của mỗi con người chúng ta. Người đang hưởng phước, hay còn gọi là đang hưởng Quả, công việc sẽ suôn sẻ, thuận buồm xuôi gió, đôi khi cảm thấy không có gì có thể làm khó được. Nhưng đến lúc trả Quả, nghịch cảnh sẽ xuất hiện, khiến công việc bế tắc, cuộc sống gặp nhiều trắc trở, khó khăn, có những lúc tưởng chừng như không thể vượt qua được.
Vì vậy không nên vội vàng đưa ra những phán xét, chỉ trích hay cười nhạo người khác khi người khác gặp khó khăn, cũng không nên đắc ý khi bản thân mình đang gặp nhiều thuận lợi. Vì ông bà ta có câu “Họa vô đơn chí, phước bất trùng lai.”
Thiền Tông gia Đức Tịnh

BỒ TÁT CÓ Ý NGHĨA LÀ GÌ?Độc giả Nguyễn Thị Ái, sinh năm 1964, cư ngụ Tổ 9, Khu 6, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉn...
31/01/2025

BỒ TÁT CÓ Ý NGHĨA LÀ GÌ?
Độc giả Nguyễn Thị Ái, sinh năm 1964, cư ngụ Tổ 9, Khu 6, phường Hồng Hà, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, hỏi: Trong Phật pháp thường nhắc đến các vị Bồ Tát, nhưng tôi chưa rõ ý nghĩa của từ “Bồ Tát” là gì!
Kính mong Thiền Tông gia Đức Tịnh chỉ giải cho tôi được rõ?
Trân trọng cảm ơn!
Thiền Tông gia Đức Tịnh trả lời:
Độc giả Nguyễn Thị Ái kính mến! “Bồ Tát” trong Phật pháp có ý nghĩa như sau:
Bồ tát: Dịch ra là: Giác hữu tình:
- Giác: Là Giác ngộ;
- Hữu tình: Chỉ những loài có cảm giác, tri giác và nhận thức, bao gồm con người và động vật;
Bồ Tát: Có nghĩa là: Người Giác ngộ.
Tôi trích dẫn đoạn vị Tổ sư Thiền tông đời thứ 32 Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn dạy vị Tổ sư Thiền tông đời thứ 33 ngài Lục Tổ Huệ Năng 4 câu như sau để độc giả hiểu rõ hơn về từ “hữu tình”:
“Hữu tình đến gieo giống, Nhân đức Quả liền sanh. Vô tình đã không giống, Không tánh cũng không sanh”:
Dịch nghĩa 4 câu như sau:
1. Hữu tình đến gieo giống: Người nào đến học mà họ biết rằng mình có Tánh Phật.
2. Nhân đức Quả liền sanh: Ông chi dạy cho họ tạo Nhân Công đức, để hưởng Quả Phật.
3. Vô tình đã không giống: Đất đá không có Nhân.
4. Không tánh cũng không sanh: Người không nhận biết được mình có Tánh phật, ông không được dạy pháp môn Giải thoát này.
Dịch rõ: Người nào đến học mà họ biết rằng họ có Tánh Phật, ông hãy chỉ dạy cho họ tạo Nhân Công đức, để trở về Phật giới hưởng Quả Phật. Người không nhận biết được mình có Tánh Phật, giống như đất đá không có Nhân. Ông không được dạy pháp môn Giải thoát này.
Thiền Tông gia Đức Tịnh!

21/11/2024
NƯỚC TRĂM NGÀN CON SÔNG ĐỀU CHẢY RA BIỂN, MÀ NƯỚC BIỂN CHỈ CÓ MỘT VỊ MẶNAnh Lê Đức, Địa chỉ: Buôn Trấp, Xã Eahding, Cưmg...
09/05/2024

NƯỚC TRĂM NGÀN CON SÔNG ĐỀU CHẢY RA BIỂN, MÀ NƯỚC BIỂN CHỈ CÓ MỘT VỊ MẶN

Anh Lê Đức, Địa chỉ: Buôn Trấp, Xã Eahding, Cưmga, Đaklak, SĐT: 0335.834.669, hỏi 2 câu:

Câu hỏi 1:

Xin Thiền tông Gia giải thích câu: Nước trăm sông đều chảy ra biển, mà nước biển chỉ có 1 vị mặn, vì căn cơ chúng sanh cao thấp khác nhau nên Đức Phật phương tiện nhiều pháp môn để dạy nhưng đích đến cũng là Giác ngộ và Giải thoát. Ở kinh nào Đức Phật cũng có nói đến chỗ sâu mầu chân như đó của mỗi người. Tại sao Thiền tông Gia cho chỉ có Pháp môn Thiền tông mới Giải thoát được? Như vậy ko công bằng với các sư tăng, ni và Phật tử khắp thế giới này không? Xin cảm ơn!

Xin trả lời anh câu hỏi 1:

Trong Kinh Trường A Hàm và một số kinh khác Đức Phật đều có dạy: Nước trăm ngàn con sông đều chảy ra biển, mà nước biển chỉ có một vị mặn mà thôi, là có nguyên do như sau:

Đức Phật Thích Ca Văn sinh ra vào thời kỳ Đồ đồng và thành lập ra Đạo Phật và tuần tự dạy 5 Pháp môn tu hành có thành tựu theo Nhân quả Luân hồi và 1 Pháp môn học và thực hành, để vượt ra ngoài quy luật Nhân quả Luân hồi, trở về Phật giới, được gọi là Giải thoát “thành Phật”. Trong 5 Pháp môn tu hành có thành tựu theo Nhân quả Luân hồi, Đức Phật đều có dạy những ẩn ý về Giác ngộ và Giải thoát, để tùy vào căn cơ của mỗi người mà chọn cho mình một Pháp môn tu, thích hợp với căn cơ của mình, ở đời này, gọi là tạo ra nhân với Phật pháp, để những đời kế tiếp, có duyên gặp Phật pháp tu tiếp và nhiều những đời kế tiếp sẽ gặp được Đạo Phật Pháp môn Thiền tông, học và thực hành để Giác ngộ và Giải thoát, vì thế nên, Đức Phật mới dạy: Nước trăm ngàn con sông đều chảy ra biển, mà nước biển chỉ có một vị mặn mà thôi, có nghĩa, tất cả những Pháp môn mà Đức Phật dạy, cuối cùng, cũng hướng người tu theo Đạo Phật đi tới con đường Giác ngộ và Giải thoát, trở về Phật giới, hay còn gọi là, trở về Bể tánh Thanh tịnh.

Anh đề cập tới việc công bằng với Tăng Ni và Phật tử, Phật pháp không thể nói công bằng được, mà chỉ nói tùy thuộc vào căn cơ của mỗi người, vì thế nên, Đức Phật mới dạy 6 Pháp môn tu, để tùy vào căn cơ của mỗi người, mà chọn cho mình một Pháp môn tu, cuối cùng muốn Giải thoát thì phải học và thực hành theo Đạo Phật Pháp môn Thiền tông thì mới Giải thoát được.

Người tu theo Đạo Phật Pháp môn Thiền tông như tôi, rất là cám ơn những Tăng Ni và Phật tử tu theo các Pháp môn khác, vì không có các Tăng Ni và các Phật tử chân chính, tu theo các Pháp môn khác gìn giữ Đạo Phật tới ngày nay, thì Đạo Phật Pháp môn Thiền tông sẽ không được phổ biến ra.

Câu hỏi 2:

Xin Thiền tông Gia giải thích chi tiết, tu theo Thiền Tông là Buông - Dừng - Thôi - Dứt chuyện thế gian, thực tế hàng ngày, suy nghĩ, hành động, làm việc, ăn, uống, ngủ nghỉ thế nào cho đúng, cho nhận được Tánh Phật của mình. Cảm ơn nhiêu.

Xin trả lời anh câu hỏi 2

Đạo Phật Pháp môn Thiền tông được dẫn nhập bằng câu: “Thiền tông là Nhất Tự Thiền, Buông – Dừng – Thôi – Dứt hết liền tử sanh”, Nhất Tự Thiền rất quan trọng với Đạo Phật Pháp môn Thiền tông và người tu theo Đạo Phật Pháp môn Thiền tông, nhưng tại sao hiện nay Đức Phật chỉ dạy 12 câu kệ về Nhất Tự Thiền, mà không dạy thực hành Nhất Tự Thiền vào thời kỳ này?

Vì vào thời kỳ này, Đạo Phật Thiền Tông, bị chính người tu theo Thiền tông, muốn tìm cách lấy về làm của riêng, để kiếm Danh và kiếm Tiền, do đó, Đức Phật mới giữ lại và giao lại cho người công bố Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông hai phần: Một là Công thức Giải thoát, hai là Nhất Tự Thiền. Công thức Giải thoát tôi đã phổ biến ra rồi, còn lại Nhất Tự Thiền, chỉ khi nào nhà nước cho phép sinh hoạt Tôn giáo, tức Đạo Phật Thiền Tông được khởi nguồn có tổ chức, thì thực hành Nhất Tự Thiền mới được đưa vào Giáo Lý để phổ biến ra.

Tại sao Đức Phật lại dạy như vậy?

Đức Phật dạy trong Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông và giữ lại cho người công bố Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông hai phần quan trọng nhất của Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông, là Công thức Giải thoát và thực hành Nhất Tự Thiền, là muốn nói nên một điều: Dòng Thiền tông và người nối dòng Thiền tông, là do Đức Phật Thích Ca Văn sắp xếp, chọn và quyết định, không ai khác ngoài Đức Phật Thích Ca Văn, chỉ có người mà Đức Phật Thích Ca Văn chọn nối dòng Thiền tông và công bố Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông, thì mới có và viết ra được hai phần này. Người tu theo Thiền tông, biết và thực hành đúng Nhất Tự Thiền, gia đình sẽ hạnh phúc, xã hội yên ổn và phát triển. Trước khi Nhất Tự Thiền, tức cách thực hành Buông – Dừng – Thôi – Dứt, được phổ biến ra, từ trước tới giờ, hàng ngày, anh đang làm việc gì thì cứ tiếp tục làm việc đó, ăn uống, ngủ nghỉ bình thường, đói thì ăn, mệt thì nghỉ, những việc xấu ác không được làm. Về việc anh muốn nhận ra được Thanh tịnh của Tánh Phật, thì hàng ngày, anh phải tạo ra được Nghiệp Công đức, tới khi đủ Nghiệp Công đức và đủ duyên, anh sẽ được nhận ra, hay còn gọi là cảm ngộ Thiền, hoặc được rơi vào Thanh tịnh của Tánh Phật.

Thiền Tông gia Đức Tịnh

09/01/2024
VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG ĐỜI THỨ NHẤT***       1. Ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa), lớn hơn Đức Phật 1 tuổi, là một trong 10 ...
19/11/2023

VỊ TỔ SƯ THIỀN TÔNG ĐỜI THỨ NHẤT
***
1. Ngài Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa), lớn hơn Đức Phật 1 tuổi, là một trong 10 đệ tử lớn của Đức Phật, con của ông Ẩm Trạch và bà Hương Chí, nước Ma Kiệt Đà. Khi mẹ sinh Ngài ra, Ngài có làn da toàn bằng màu vàng sáng ánh. Khi 22 tuổi, cha mẹ bảo cưới vợ, Ngài không chịu. Cha mẹ ép quá nên Ngài đặt điều kiện với cha mẹ như sau:
- Nếu cha mẹ tìm được cô gái nào có làn da như con, thì con mới bằng lòng cưới vợ.
Cha mẹ ngài liền cho đúc một pho tượng bằng vàng, đẩy đi khắp nơi tìm người nữ nào có làn da giống như pho tượng. Khi pho tượng đẩy đến thị trấn Hàn Thuật Trung, có gia đình ông Phương Thủy Ái và vợ là bà Liễu Ánh Phương, có nàng con gái mới 20 tuổi, tên là Hàn Phương Nga, có làn da y như pho tượng, nên Ngài đành phải chấp nhận cưới nàng.
Khi 2 người cưới nhau, Ngài có trình bày cùng vợ: “Thật tình tôi không muốn cưới vợ nên đặt điều kiện khó này ra, không ngờ tôi gặp được nàng. Vậy, tôi xin nàng hãy cùng làm bạn tri kỷ với tôi thôi, không theo dâm dục thường tình”.
Nàng Hàn Phương Nga đồng ý. Hai người sống chung với nhau được 2 năm, Ngài xin cha mẹ cho Ngài và nàng Hàn Phương Nga xuất gia. Cha mẹ Ngài bằng lòng. Hai người vào núi tu hạnh Đầu Đà, tức tu khổ hạnh.
Ngài xuất gia được 1 năm, một tối nọ, ngài nằm mộng thấy có vị đầu tóc bạc bảo: “Đức Phật Thích Ca Văn đã ra đời, hiện ở tịnh xá Trúc Lâm, ông nên đến đó để xin Đức Phật dạy pháp môn tu Giải thoát”. Ngày sau, Ngài đến tịnh xá Trúc Lâm, chí thành đảnh lễ Đức Phật Thích Ca Văn. Đức Phật Thích Ca Văn bảo:
- Lành thay, này Tỳ kheo Ma Ha Ca Diếp, đến đây, Như Lai nhờ người cạo râu tóc cho ông.
Khi Ngài được những vị trong Tăng đoàn cạo râu tóc xong, Đức Phật cho Ngài thọ giới tỳ kheo và mặc y ca sa. Không bao lâu sau, Ngài tu chứng được quả vị A La Hán. Vì Ngài tu khổ hạnh, nên thân hình tiều tụy, ăn mặc rách rưới, nên trong Tăng đoàn ai ai cũng chê cười Ngài.
Khi Đức Phật giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa xong, Đức Phật đã 78 tuổi, còn ngài 79 tuổi. Cũng là thời cơ truyền “Bí mật Thiền Tông” cho Tổ vị thứ nhất, nên một buổi sáng mùa xuân, trên mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn, Đức Phật tập họp đông đảo đồ chúng, tay phải Đức Phật cầm cành hoa sen đưa lên. Ngài ngó từ phải qua trái, từ gần ra xa, mọi người ai ai cũng ngơ ngác, riêng Ngài Ma Ha Ca Diếp mỉm miệng cười. Đức Phật hỏi ngài Ma Ha Ca Diếp:
- Tất cả mọi người không cười, sao ông lại cười?
Ông Ma Ha Ca Diếp trình thưa với Đức Phật:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, nhờ Đức Thế Tôn tay cầm cành sen đưa lên, nên con đã nhận ra Tánh Thấy chân thật rõ ràng của con, nên con mừng quá, nên con mỉm cười.
Đức Phật hỏi ngài Ma Ha Ca Diếp:
- Ông thấy như thế nào?
Ngài Ma Ha Ca Diếp không trả lời thấy như thế nào, mà Ngài trình thưa cùng Đức Phật bằng bài kệ 44 câu như sau:
Sen xuân nở tại Linh Sơn
Thiền hoa thanh tịnh ơn trên Phật Đà
Ý Phật con đã nhận ra
Tánh Thấy, ý thấy, được qua Luân hồi.
Bao năm khổ hạnh con thôi
Sống với tánh Thấy, Luân hồi màng chi
Hoa sen con nhận tức thì
Niết bàn thanh tịnh tìm chi mệt người.
Phật ôi, Con đã ngộ rồi
Thấy trong thanh tịnh, là nơi quê nhà
Phật tánh, con đã nhận ra
Khi thấy, Ý thấy vượt xa muôn trùng.
Tánh Thấy hết sức lạ lùng
Muôn đời ngàn kiếp, lạ lùng mới hay
Thiền Thanh Đức Phật chỉ bày
Hôm nay thật sự, nhận ngay Tánh mình.
Nhận được, con chỉ lặng thinh
Nở ra nụ cười vui lắm Phật ôi
Trước kia, Phật dạy con "Thôi"
Mà thôi không được, Luân hồi con đi.
Hoa sen con thấy tức thì
Tự nhiên dứt hết, không chi nói lời
Nụ cười thay thế chữ "Thôi"
Để trình Đức Phật, đôi môi thay lời.
Linh Sơn, con đã rõ lời
Thiền Thanh con biết, Luân hồi dứt ngay
Trước huynh đệ, con trình bày
Môn Thiền Thanh tịnh, khó ai nhận liền.
Mấy ngàn người bỏ tu riêng
Dụng công tìm kiếm khắp miền sơn lâm
Nhờ con lặng lẽ âm thầm
Bất ngờ nhận được, không lầm chuyển luân.
Hôm nay, thật sự con mừng
Mừng vì sinh tử đã dừng với con
Linh Sơn con quyết lòng son
Giữ môn thiền học thường còn thế gian.
Hễ ai muốn hết gian nan
Chỉ cần Thanh tịnh, mới sang quê nhà
Lòng con xin nói hết ra
Cám ơn Đức Phật, con xa Luân hồi.
Thiền Thanh kỳ diệu Phật ôi!
Chỉ cần thanh tịnh, Luân hồi bỏ con
Con nay kính nguyện lòng son
Truyền môn thiền học, được còn mai sau.
Ngài Ma Ha Ca Diếp trình lên Đức Thế Tôn bài kệ 44 câu mà Ngài đã đạt được “Bí mật Thiền Tông” nhân ngài nhìn thấy cành hoa sen trên tay Đức Phật.
Đức Phật nói với các vị Tỳ kheo và đại chúng:
- Này các vị Tỳ kheo và đại chúng, hôm nay Như Lai kiểm thiền Thanh tịnh bằng cành hoa sen, 1.250 các ông, duy nhất chỉ có ông Ma Ha Ca Diếp nhận ra được chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm. Đây là pháp môn màu nhiệm mà Như Lai dạy nơi Thế giới này.
Như Lai dạy rõ Pháp môn Thanh Tịnh Thiền này được lưu truyền như sau:
Một, việc truyền Thiền Thanh Tịnh này, đúng 15 ngày sau, Như Lai sẽ làm lễ truyền thiền Thanh tịnh này cho ông Ma Ha Ca Diếp, để thay Như Lai dạy pháp môn thiền Thanh tịnh này, sau khi Như Lai diệt độ.
Hai, ông A Nan Đà và các đệ tử lớn của Như Lai cũng như đại chúng, thiết lập bàn hương và phẩm vật, để Như Lai làm lễ truyền thiền Thanh tịnh, trước sự chứng minh của Mười Phương Chư Phật, các ông hãy tựu hội về cho đầy đủ.
Vì sao các ông phải tựu hội?
- Vì đây là buổi lễ truyền thiền Thanh tịnh đầu tiên, cũng đồng nghĩa dòng chảy của “Mạch nguồn thiền Thanh tịnh” của Như Lai dạy đã khởi đầu tại đây. Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này tiếp theo là 35 đời Tổ nữa, được phân chia như sau:
+ Ở nước Ấn Độ này, có 28 đời Tổ;
+ Nước lớn ở Phương Đông có 5 đời Tổ;
+ Còn nước nhỏ Phương Đông, cũng gọi là nước Rồng, có 3 đời Tổ.
Đến đây, Mạch nguồn thiền Thanh tịnh bị quên lãng, mãi đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng mới có người nhận lại được. Người này cho pháp môn thiền Thanh tịnh phổ biến đi khắp Năm châu.
Ba, ông Ma Ha Ca Diếp, khi ông sắp tịch diệt, ông hãy truyền pháp môn Thanh tịnh thiền này lại cho ông A Nan Đà, để làm Tổ sư Thiền đời thứ hai. Như Lai dạy các ông như sau: Khi ông A Nan Đà nhận Tổ vị thứ hai, phải đổi danh là Thiền Tông.
Vì sao phải đổi danh như vậy?
Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, bắt đầu khởi dòng thiền của nó, tức nó được truyền theo “Tông pháp thiền” rõ ràng. Lần đầu tiên, Như Lai truyền thiền Thanh tịnh, người dự bao nhiêu cũng được, nhưng khi ông Ma Ha Ca Diếp truyền Thiền tông lại cho ông A Nan Đà, chỉ có ông A Nan Đà, ông Xá Lợi Phất, và các đệ tử lớn của Như Lai dự thôi.
Vì sao chỉ có ông Xá Lợi Phất và các đệ tử lớn cũng như những cư sỹ hiểu được thiền Thanh tịnh mới dự?
Vì ông Xá Lợi Phất đã được “Rơi vào Bể tánh Thanh Tịnh Phật tánh”, đồng nghĩa ông này đã vượt hơn cả “Bí mật Thiền Tông”. Nhưng vì ông Xá Lợi Phất chưa nhanh bằng ông Ma Ha Ca Diếp, hơn nữa, ông Xá Lợi Phất đến ngày ông A Nan Đà nhận Tổ vị thứ hai, ông Xá Lợi Phất đã trên 90 tuổi rồi. Còn các đệ tử lớn và những vị cư sỹ, các vị này đã hiểu được căn bản của Pháp môn Thiền Thanh Tịnh. Nếu nói theo Thanh tịnh thiền, các người này chỉ Giác ngộ “Yếu chỉ Thiền Tông” thôi.
Vậy, ngày trăng tròn tháng 2 này, Như Lai sẽ chánh thức hành lễ truyền Thanh tịnh thiền cho ông Ma Ha Ca Diếp. Vậy, các ông mỗi người một việc, lo buổi lễ này cho thật chu đáo, ai lo việc gì cố gắng cho tốt.
Đức Phật vừa nói xong, tất cả giải tán và lo công việc của mình.
Sáng ngày trăng tròn tháng 2, ban sáng, ánh sáng mặt trời nắng gắt chói chang, nhưng khi mặt trời vừa nhô lên đến lưng chừng núi, cũng là lúc Đức Phật và đệ tử của Ngài cũng như tất cả Ưu bà Tắc và Ưu bà di tập họp đông đủ. Bất ngờ, trên không trung mây ngũ sắc bao quanh núi Linh Sơn, làm bầu trời sáng rực và mát dịu.
Đức Phật Thích Ca Văn, mặc áo choàng lấp lánh ánh hào quang, từ từ bước lên lễ đài, và nói:
Kính lạy Đức Phật cổ Nhiên Đăng và Mười Phương Chư Phật đã thành Phật trước tôi. Hôm nay, tại mặt bằng rộng lớn nơi núi Linh Sơn ở cõi Ta bà này, tôi là Bồ tát Hộ Minh, từ cung trời Đâu Suất, xuống trần gian này làm con của vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Da, được Đức vua và hoàng hậu đặt cho cái tên là Thái tử Tất Đạt Đa. Tôi tu đã đạt được đạo Vô thượng Chánh đẳng Chánh Giác, biết được 6 pháp môn tu nơi thế giới Dục giới này. Trong đó, có 5 pháp môn tu theo vật lý, có kết quả theo chiều vật lý, một pháp môn tu phi vật lý, tức tu để được Giác ngộ rồi Giải thoát ra khỏi thế giới Dục giới này.
Ông Ma Ha Ca Diếp, là một trong mười đệ tử lớn của tôi, khi tôi kiểm thiền, ông đã đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền”. Vì vậy, hôm nay tại lễ đài nơi núi Linh Sơn cõi Nam Diêm Phù Đề này, trước sự chứng minh của Đức Phật cổ Nhiên Đăng là vị sư phụ đã thọ ký cho tôi, sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Văn, cũng như Hằng hà sa số Chư Phật Mười Phương, tức những vị đã thành Phật trước tôi từ vô lượng kiếp trước.
Hôm nay, tôi đã hoàn thành dạy 6 pháp môn tu mà các vị Phật xưa cũng đã dạy. Vì còn một thời gian ngắn nữa, tôi sẽ nhập Niết bàn để trở về nguồn cội của chính mình. Cũng như các vị Phật trước, vị Phật nào trước khi rời thế giới vật lý này, đều phải truyền thiền Thanh tịnh lại cho đệ tử nào đạt được “Bí mật Thanh tịnh thiền”, để người đó làm Tổ sư thiền thứ nhất.
Hôm nay, nơi cõi Nam Diêm Phù Đề này, khi tôi kiểm thiền, ông Ma Ha Ca Diếp là người đầu tiên nhận được “Chánh pháp nhãn tạng Niết bàn diệu tâm”, là pháp môn mầu nhiệm không truyền theo kinh điển thông thường, mà phải truyền riêng theo dòng thiền của nó. Do vậy, hôm nay tôi kính trình lên Đức Phật cổ Nhiên Đăng cũng như Chư vị Phật quá khứ Mười Phương. Ông Ma Ha Ca Diếp là người đã đạt “Bí mật Thanh tịnh thiền”, có làm kệ nói lên được chỗ chân thật những thứ trong Bể thánh Thanh tịnh Phật tánh, nên hôm nay, tôi làm lễ truyền Thanh tịnh thiền này. Vậy, kính xin Đức Phật Nhiên Đăng và Mười Phương Chư Phật chứng minh cho tôi.
Trước khi hành đại lễ truyền thiền Thanh tịnh, tôi và những vị có mặt đồng
Dâng hương:
Khói hương bay khắp bầu trời xanh
Rốt ráo chúng tôi bổn nguyện lành
Trên khói hương này Chư vị ngự
Tôi xin hành lễ truyền thiền này.
Khai lễ truyền thiền:
Thiền hoa nở tại Linh Sơn
Thiền Thanh cao quý tuyệt hơn ngọc vàng
Trải qua khắp chốn gian nan
Đi qua khắp nước hiện an nơi này.
Ông hãy nghe dạy của Thầy
Tìm nhiều phương cách, thiền đây lưu truyền
Hôm nay họ Ma có duyên
Nhận được nguồn thiền, chỉ riêng một mình.
Diếp, ông biết được lặng thinh
Chỉ mỉm miệng cười thay lời trình thôi
Như Lai, xác nhận phải rồi
Không theo Luân hồi vật lý phải xa.
Tất cả những vị ngộ ra
Chính tâm thanh tịnh Ta đây lưu truyền
Hôm nay ông có đại duyên
Nhận được Nguồn thiền chánh pháp của Ta.
Y theo lời dạy của Ta
Hễ ai nhận được ý Ta dạy thiền
Vị đó là người đủ duyên
Phải được truyền thiền để làm lòng tin.
Hôm nay, tại núi hiển linh
Chính thức truyền thiền chứng nhận cho ông
Ông nên giữ lấy trong lòng
Truyền cho Nan Đà làm Tổ tiếp theo.
Vượt qua bể khổ hiểm nghèo
Chỉ cần thanh tịnh, giàu nghèo màng chi
Ông phải cố gắng truyền đi
Nan Đà nhận lấy truyền thì dài lâu.
Thiền thanh không cần nguyện cầu
Chỉ cần thanh tịnh, bể dâu không màng
Tâm mình thanh tịnh bình an
Vượt qua bể khổ đề về nhà xưa.
Thiền thanh không cần sớm trưa
Chỉ cần thanh tịnh, không ưa Niết bàn
Được vậy, là được bình an
Ta nay chỉ rõ có đàng này thôi.
Ông nay đã hiểu được rồi
Ta cấp chứng nhận, ngộ rồi thiền Thanh
Các ông không phải đua tranh
Pháp thiền Thanh tịnh, dành người ngộ ra.
Hôm nay, Ta Phật Thích Ca
Chính thức truyền thiền Ma Ha nhận thiền
Ông phải cố gắng giữ riêng
Tâm ông thanh tịnh chỉ riêng từng người.
Buổi lễ hôm nay tươi vui
Mười Phương Chư Phật tươi cười chúc vang
Thế giới vật lý bình an
Vì được an nhàn, nhờ pháp thiền Thanh.
Mười Phương Chư Phật bao quanh
Chúc mừng Ca Diếp là anh ngộ thiền
Thiền Thanh Ta chỉ truyền riêng
Chính thức truyền thiền chứng nhận cho ông.
Đức Phật vừa đọc xong 52 câu kệ truyền thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp, trên hư không, nhạc trời đồng loạt đánh lên. Cùng lúc tiếng pháp của Mười Phương Chư Phật đồng nói vang trùm khắp:
- Chúng tôi là các vị Phật xưa, chúc mừng cho Đức Phật Thích Ca Văn nay đã truyền xong pháp môn thiền Thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca Diếp.
Và các Ngài đồng vang nói:
- Hạnh phúc thay! Thế giới Nam Diêm Phù Đề này đã có người nhận được chánh pháp thiền Thanh tịnh!
- Hạnh phúc thay! Pháp môn thiền Thanh tịnh bắt đầu lưu hành nơi cõi Nam Diêm Phú Đề này!
- Hạnh phúc thay! Đức Phật Thích Ca Văn đã truyền xong pháp môn Thanh tịnh thiền nơi thế giới ta bà này!
ĐẠO PHẬT THIỀN TÔNG

Những vật Hữu hình, Vô hình nơi Trái đất và trong Tam giớiI. Những vật Hữu hình nơi Trái đất:Những vật Hữu hình nơi Trái...
09/08/2023

Những vật Hữu hình, Vô hình nơi Trái đất và trong Tam giới
I. Những vật Hữu hình nơi Trái đất:
Những vật Hữu hình nơi Trái đất này có 4 thứ:
- Một là: Chất cứng, gọi là “Đất”.
- Hai là: Chất ướt chảy, gọi là “Nước”.
- Ba là: Chất không khí, gọi là “Gió”.
- Bốn là: Nhiệt độ, gọi là “Lửa”.
II. Những vật Vô hình nơi Trái đất và trong Tam giới:
Những vật Vô hình nơi Trái đất và Tam giới này, gọi là “điện từ Âm Dương”, có 5 loại:
- Điện từ Âm Dương không màu sắc.
- Điện từ Âm Dương có 2 màu sắc: Đỏ - Đen.
- Điện từ Âm Dương có 3 màu: Đỏ - Đen – Xanh.
- Điện từ Âm Dương có 5 màu sắc: Đỏ - Vàng - Xanh - Trắng – Tím.
- Điện từ Âm Dương có 4 màu sắc: Đỏ - Vàng - Xanh - Trắng. (Bốn màu này từ đậm đến nhạt thành 12 màu).
Công dụng của điện từ Âm Dương như sau:
1. Ở Trái đất:
a) Điện từ Âm Dương hút cứng “Tứ đại”, để thành Thân và Tánh các loài Hữu hình, gồm:
- Thành Thân và Tánh loài Người.
- Thành Thân và Tánh các loài Súc Sanh.
- Thành Thân và Tánh các loài Thực Vật.
b) Hút cứng điện từ Âm Dương, để thành Thân và Tánh các loài mang thân Điện từ hay còn gọi là loài Vô hình, gồm:
- Thành thân và Tánh loài Thần.
- Thành thân và Tánh loài Ngạ Quỷ.
- Thành thân và Tánh loài Địa Ngục.
2. Ở trong Tam giới:
Hút cứng điện từ Âm Dương, để thành Thân và Tánh các loài mang thân Điện từ, gồm:
- Thành Thân và Tánh loài Trời Vô Sắc.
- Thành Thân và Tánh loài Trời Hữu Sắc.
- Thành Thân và Tánh loài Tiên ở nước Cực Lạc.
- Thành Thân và Tánh loài Trời Tứ Thiên Vương.
- Thành Thân và Tánh loài Trời Dục Giới.
- Thành Thân và Tánh loài Trời Thượng Đế, cũng gọi là Ngọc Hoàng.
III. Tánh Người:
1. Tánh của mỗi con Người ai cũng có 16 thứ, gồm: 1- Thọ. 2- Tưởng. 3- Hành. 4- Thức. 5- Tài. 6- Sắc. 7- Danh. 8- Thực. 9- Thùy. 10- Tham. 11- Sân. 12- Si. 13- Mạn. 14- Nghi. 15- Ác. 16- Kiến.
2. Loài Người ai cũng sử dụng 4 thứ tánh mạnh nhất là:
Tưởng - Tham - Ác và Kiến chấp, vì thế nên, không chịu hòa thuận sống chung với nhau, do vậy, sanh ra tranh giành hơn thua và giết hại nhau. Khi loài Người Văn minh lên tột đỉnh, vị lãnh đạo quốc gia nào giàu nhất trên Trái đất này, nếu sử dụng Kiến chấp tối đa, chỉ 1 cái nhấn nút, thì Trái đất này tan rã ra dễ dàng!
Trích trong Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông

Như Lai được mẹ Ma Da sinh ra:Tánh Phật của Như Lai không quên, nên khi mẹ Ma Da sinh Như Lai ra tại vườn Lâm Tỳ Ni, Như...
15/07/2023

Như Lai được mẹ Ma Da sinh ra:
Tánh Phật của Như Lai không quên, nên khi mẹ Ma Da sinh Như Lai ra tại vườn Lâm Tỳ Ni, Như Lai đã nhớ rõ tất cả những gì mà Đức Phật Nhiên Đăng đã dạy và thọ ký cho Như Lai ở Nội viện cung trời Đâu Suất Đà. Như Lai có nhiệm vụ chỉ dạy cho loài người biết 12 con đường tạo Nhân để luân hồi nơi Trái đất và Tam giới này, mà Như Lai đã đi qua không biết là bao nhiêu lần, và một con đường trở về Phật giới thành Phật. Vì vậy nên khi mẹ Ma Da sinh Như Lai ra, Như Lai đã sử dụng năng lực của Người toàn năng toàn giác, dùng điện từ Âm Dương tự nhiên của tam giới để tạo ra bảy bông Hoa Sen và bước chân đi trên bảy bông Hoa Sen đó, tay phải chỉ trời, tay trái chỉ đất và tuyên bố: “Thiên thượng, thiên hạ, duy Ngã, độc Tôn”.
Như Lai dạy rõ:
1. Bước chân đi trên bảy bông Hoa Sen:
a) Từ bông Hoa Sen một đến bông Hoa Sen bốn:
Một – Sinh;
Hai – Lão;
Ba – Bệnh;
Bốn – Tử.
Như Lai muốn nhắc nhở cho loài người biết, con người sống ở nơi thế giới vật lý điện từ Âm Dương này, thì phải sống và chịu theo quy luật: Sinh – Lão – Bệnh – Tử, không ai sống ngoài quy luật này được, kể cả Người toàn năng toàn giác như Như Lai.
b) Từ bông Hoa Sen năm đến bông Hoa Sen bảy:
Năm – Học Phật;
Sáu – Giác ngộ;
Bảy – Giải thoát.
Như Lai có nhiệm vụ chỉ dạy cho loài người thoát ra ngoài: Sinh – Lão – Bệnh – Tử. Người nào muốn thoát ra ngoài: Sinh – Lão – Bệnh – Tử, thì phải: Học Phật, tức học Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông, để Giác ngộ, tìm cách tạo Nhân công đức, để Giải thoát, tức thoát ra ngoài quy luật Nhân luân Quả hồi của Trái đất và Tam giới này, trở về Phật giới, thành Phật.
2. Tuyên bố: “Thiên thượng, thiên hạ, duy Ngã, độc Tôn”:
* Thiên thượng: Là trên trời, tức ba bầu hoàn đạo, gồm:
- Bầu hoàn đạo thứ hai: Có 11 hành tinh, gọi là cõi trời Dục Giới.
- Bầu hoàn đạo thứ ba: Có 17 hành tinh, gọi là cõi trời Hữu Sắc, trong đó có 11 hành tinh trời Hữu Sắc và sáu hành tinh nước Tịnh Độ.
- Bầu hoàn đạo thứ bốn: Có 11 hành tinh, gọi là cõi trời Vô Sắc.
* Thiên hạ: Là ở Trái đất này.
* Duy Ngã: Thân và tánh người gộp chung, gọi là Ta = Ngã.
* Độc Tôn: Là trên tất cả, tức làm được tất cả.
Có nghĩa:
Trên trời, tức ba bầu hoàn đạo, gồm: 33 hành tinh cõi trời và sáu nước Tịnh Độ, có một loài:
- Loài Trời.
Ở Trái đất này, có sáu loài sống chung:
- Loài Thần.
- Loài Người.
- Loài Ngạ quỷ.
- Loài Súc sanh.
- Loài Thực vật.
- Loài Địa ngục.
Duy nhất, chỉ có con người mới làm được tất cả như sau:
- Con người muốn cho Trái đất này tốt tươi, con người sẽ làm cho Trái đất được tốt tươi.
- Con người muốn hủy diệt sự sống trên Trái đất này, con người sẽ làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, sinh vào loài Địa ngục, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, sinh vào loài Thực vật, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, sinh vào loài Súc sanh, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, sinh vào loài Ngạ quỷ, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, tái sinh làm Người, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, sinh vào loài Thần, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên cõi trời Dục Giới, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên trời Thượng Đế, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên trời Tứ Thiên Vương, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên cõi trời Hữu Sắc, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên cõi trời Hữu Sắc, nước Cực Lạc, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, vãng sinh lên cõi trời Vô Sắc, con người làm được.
- Con người muốn sau khi hết duyên sống, trở về Phật giới, thành Phật, con người làm được.
V.v…
Những việc trên đây, duy nhất chỉ có con người mới làm được. Loài Trời, loài Thần, loài Ngạ quỷ, loài Súc sanh, loài Thực vật và loài Địa ngục không làm được, vì thế nên, Như Lai mới tuyên bố như vậy!

Address

My Tho

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giác Ngộ - Giải Thoát posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Giác Ngộ - Giải Thoát:

Share