Pháp giới thiên nhiên danh tự định,
Chí thành trụ xứ đào Tây thiên. Trừng tâm bế mục chiếu Phật tâm
Tác đức hồi quang ngộ thậm thâm. Thiện căn tình ngộ đăng Cực lạc
Dụng giới luật tinh mạc vọng tầm."
Đây là bài kệ cú pháp mà Hòa Thượng Thích Pháp Chí- Người sáng lập chùa Thiên Trì được Tổ hoan hỷ ban cho. Người sáng lập chùa Thiên Trì là Hòa Thượng Thích Pháp Chí, Người làng Bình Đăng, huyện Tân
Phong Hạ, hạt Chợ Lớn, Tỉnh Gia Định (nay là xã Bình Hưng, Bình Chánh, Tp.HCM). Ngài sinh ra nhằm ngày Rằm tháng Chạp năm Giáp Thìn (nhằm 19.01.1904). Lúc nhỏ đã tỏ ra mộ đạo, thích ăn chay, thích tụng kinh, niệm Phật. Năm 21 tuổi, Thầy gặp cụ Trần Phong Sắc là bậc túc nho chuyên tu Tịnh Độ, Thầy rất khâm phục. Kể từ đó Thầy phát tâm niệm Phật, cầu sinh Tịnh Độ. Năm 30 tuổi, Hòa thượng đến cầu pháp với Hòa thượng Huệ Đăng người khai sơn Tổ đình Thiên Thai (Bà Rịa). Tổ khuyên Hòa thượng về trì chú Chuẩn Đề và Ngũ Bộ chú đến 300 vạn biến rồi trở lại gặp Tổ. Ngài vâng lời, quyết chí ngày đêm tu hành không dám biến trể. Sau ba năm, công khóa viên mãn, Ngài trở lại Tổ đình gặp Tổ. Tổ hoan hỹ ban cho Ngài bài kệ phú pháp trên. Theo dòng phái Liễu Quán (dòng Lâm Tế). Ngài thuộc chữ Trừng (Trừng Tác) đời 42 tông Lâm Tế. Năm 1936, (33 tuổi) Ngài thọ Đại giới tại Tổ đình Long Hòa. Sau đó được Phật tử thỉnh về trụ trì chùa Thanh Châu xã An Nhơn, Gò Vấp (nay là Kỳ Quang II, cơ sở nuôi trẻ mồ côi)
Năm 1938 (Mậu Dần), Hòa thượng đến hóa đạo tại chùa Hưng Long (Gò Vấp)
Năm 1946 (Bính Tuất), Ngài được thụ phong Giáo Thọ tại đại giới đàn Long Huê – Gò Công. Năm Đinh Hợi (1947) Thầy về làng Bình Đăng tiếp nhận khai sơn chùa Thiên Trì (chùa xây trước đó 2 năm) vào ngày vía Phật A Di Đà (17.11 al)
Năm Kỷ Sửu (1949) Thầy bị quân đội Cao Đài bắt tra khảo suốt 2 đêm, 3 ngày vì tình nghi Ngài theo những đảng phái đối lập. Ngài bị thương tích nặng nề nhưng không hề than trách. Ngài nói: “Tại kiếp trước tôi gây ân oán với họ nên nay họ đến đòi đó thôi”. Sau đó, Thầy lánh nạn lên Quận 7 ở tạm nhà một cư sĩ. Năm Canh Dần (1950), Ngài cùng Thầy Minh Đức xây dựng chùa Thiên Trường Q.7 (nay là đường Hoài Thanh Q.8).
Đến năm 1956, Hòa thượng trở về chùa Thiên Trì dìu dắt tín đồ. Năm 1962, do chính sách Ấp Chiến Lược của Ngô Đình Diệm, Thầy phải dời chùa ra QL.50 (vị trí hiện nay). Đến năm 1965, Ngài cho xây dựng chùa ở tu hành và hoằng hóa cho đến ngày viên tịch. Năm 1990, Ngài viết di chúc cho thầy Huệ Minh thừa kế trụ trì và giao mọi việc quản lý, điều hành Phật sự để Ngài an tâm tu hành. Năm 1992, Ngài có thỉnh Thiền sư Thích Duy Lực về thuyết giảng tại chùa Thiên Trì. Hai vị Hòa Thượng đã đàm luận nhiều vấn đề liên quan giữa Thiền và Tịnh Độ. Thường ngày, Ngài hay niệm Phật và trì chú Đại Bi 50 biến. Dù ngoài 90, nhưng Ngài vẫn lạy sám hối Hồng Danh đầy đủ. Tâm trí vẫn minh mẫn, thần sắc tươi tốt, an nhiên, đôn hậu.
Đến đầu năm Kỷ Mão (1999), Ngài không lạy Sám hối, tụng kinh mà chỉ niệm Phật. Đến khoảng giữa tháng Sáu âm lịch, Ngài có chút bệnh. Đến cuối tháng 6, Ngài bệnh nặng phải đi nằm bệnh viện và đến 3 giờ 45 phút ngày 1.7 al năm ấy Ngài nhẹ nhàng ra đi trong tiếng niệm Phật. Ngài trụ thế 96 năm, 66 Hạ lạp. Ngài ra đi để lại vô vàn quý tiếc của hàng đệ tử xuất gia và tại gia, cũng như quý Tăng Ni trong sơn môn. Chùa từ đó đến nay do Thượng tọa Thích Huệ Minh trụ trì. Thầy là thư ký của tông môn Tổ Sư Thiền. Mỗi chủ nhật đầu và cuối tháng al, Thầy có tổ chức 1 ngày tu thiền cho hành giả.