TÂM AN LẠC 1989

TÂM AN LẠC 1989 PHỤNG SỰ CHÚNG SANH LÀ CÚNG DƯỜNG TAM BẢO... Kính chúc Quý Đạo Hữu thân tâm thường an lạc ! Luôn TINH TẤN trên con đường Đạo !!!

44. CHÙA DIỆU VIÊN - NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA XỨ HUẾĐịa chỉ: Số 4 kiệt 126 Đường Nguyễn Hữu Cảnh, Phường Thanh Thủy, Th...
19/06/2026

44. CHÙA DIỆU VIÊN - NGÔI CHÙA NI ĐẦU TIÊN CỦA XỨ HUẾ

Địa chỉ: Số 4 kiệt 126 Đường Nguyễn Hữu Cảnh, Phường Thanh Thủy, Thành phố Huế

Tại vùng đất thanh bình dưới chân núi Ngũ Phong, nơi thiên nhiên còn lưu giữ nét trầm mặc của xứ Huế, Chùa Diệu Viên hiện lên như một đóa sen thanh khiết tỏa hương giữa cuộc đời. Không chỉ là ngôi chùa sư nữ đầu tiên của đất Cố đô, Diệu Viên còn là biểu tượng của lòng từ bi, của tinh thần nhập thế phụng sự nhân sinh và là chiếc nôi đào tạo nhiều thế hệ Ni giới cho Phật giáo Việt Nam.

Trước khi trở thành danh lam nổi tiếng, nơi đây vốn là cơ sở thờ tự của một vị quan lớn dưới triều vua Tự Đức. Đến cuối triều Khải Định, khu đất được giao cho cụ bà Ưng Dinh (nhũ danh Hồ Thị Thế Anh) quản lý và phát tâm xây dựng thành nơi tu học dành riêng cho Ni giới. Năm Giáp Tý (1924), với sự trợ duyên của cụ bà Ưng Dinh, bà Nguyễn Thị Khương cùng đông đảo cư sĩ Phật tử, Ni Trưởng Trừng Thành Thích Nữ Hướng Đạo được cung thỉnh về khai sơn, trở thành vị trú trì đầu tiên của chùa. Từ một am tranh nhỏ giữa núi rừng hoang sơ, Diệu Viên dần trở thành trung tâm tu học của Ni giới Huế.

Nhờ giới đức trang nghiêm và hạnh nguyện hoằng pháp của Ni Trưởng Hướng Đạo, chỉ hai năm sau, vào cuối năm Bính Dần (1926), vua Bảo Đại đã ban sắc phong "Sắc tứ Diệu Viên Sư Nữ Tự". Đây là dấu mốc lịch sử quan trọng, khẳng định vị thế của ngôi chùa sư nữ đầu tiên trên đất Huế. Để đáp ứng nhu cầu tu học ngày càng đông của Ni chúng và Phật tử, chùa liên tục được trùng tu, mở rộng qua các năm Kỷ Tỵ (1929), Quý Tỵ (1953) và đại trùng tu toàn diện vào năm Tân Tỵ (2001).

Điều làm nên giá trị đặc biệt của Diệu Viên không chỉ nằm ở kiến trúc cổ kính mà còn ở tinh thần "Phật pháp bất ly thế gian pháp". Từ cuối thập niên 1950, chùa đã tiên phong thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội:

Năm Mậu Tuất (1958), mở cơ sở sản xuất tương chao, nhang trầm, bánh in để tự túc kinh tế và tạo việc làm cho người dân nghèo.

Năm Kỷ Hợi (1959), thành lập bệnh xá khám bệnh, cấp thuốc miễn phí.

Năm Canh Tý (1960), sáng lập Viện Dưỡng lão Diệu Viên, cưu mang các cụ già neo đơn, tàn tật.

Năm Nhâm Dần (1962), mở lớp học tình thương xóa mù chữ và cơ sở dạy may.

Năm Ất Tỵ (1965), thành lập Trường mẫu giáo Lâm Tỳ Ni.

Năm Bính Ngọ (1966), xây dựng cổng Thanh Trúc Động Quán Thế Âm - công trình kiến trúc độc đáo còn tồn tại đến ngày nay.

Suốt hơn một thế kỷ, biết bao phận đời khó khăn đã tìm thấy hơi ấm tình người nơi mái chùa thanh tịnh ấy. Diệu Viên không chỉ là chốn thiền môn mà còn là mái nhà của lòng nhân ái. Từ ngày khai sơn đến nay Chùa Diệu Viên trãi qua các đời trú trì:

1. Ni trưởng Trừng Thành Thích Nữ Hướng Đạo (1905 - 1974): Là vị khai sơn và trú trì đầu tiên của chùa Diệu Viên từ năm Giáp Tý (1924). Ni trưởng đã đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển của Ni giới Huế trong thời kỳ hiện đại. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, chùa được vua Bảo Đại ban sắc tứ năm Bính Dần (1926) và nhanh chóng trở thành trung tâm tu học nổi tiếng của Ni giới miền Trung.

2. Ni trưởng Tâm Huyền Thích Nữ Chơn Thông (1923 - 1990): Kế thừa đạo nghiệp của Tổ khai sơn, Ni trưởng Chơn Thông tiếp tục giữ gìn đạo phong, phát triển Ni chúng và duy trì các hoạt động Phật sự trong giai đoạn đất nước còn nhiều biến động.

3. Ni trưởng Tâm Yến Thích Nữ Chơn Nguyên (1928 - 2004): Là bậc Ni trưởng giới đức, từng đảm nhiệm trú trì chùa Phò Quang trước khi kế nhiệm tại Diệu Viên. Trong thời gian đảm trách trú xứ, Ni trưởng đã góp phần ổn định và phát triển đạo tràng, tiếp nối truyền thống tu học của chư Ni nơi đây.

4. Ni trưởng Tâm Đức Thích Nữ Chơn Hiền (1930 - 2023): Là một trong những vị trú trì có nhiều công lao nổi bật nhất đối với chùa Diệu Viên. Dưới sự lãnh đạo của Ni trưởng, các hoạt động từ thiện xã hội được phát triển mạnh mẽ; Viện Dưỡng lão Diệu Viên trở thành mái ấm của hàng trăm cụ già neo đơn. Cuộc đời của Ngài là biểu tượng đẹp của tinh thần từ bi cứu khổ trong đạo Phật.

5. Ni trưởng Tâm Hiếu Thích Nữ Chơn Toàn (1931 - 2024): Ni trưởng Chơn Toàn đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp hoằng pháp và phụng sự cộng đồng. Ngài tiếp tục chăm sóc Viện Dưỡng lão Diệu Viên, duy trì các hoạt động từ thiện và giữ gìn cảnh quan già lam ngày càng trang nghiêm thanh tịnh. Năm Giáp Thìn (2024), Ni trưởng thuận thế vô thường, viên tịch tại chùa trong niềm tiếc thương vô hạn của môn đồ pháp quyến và Phật tử gần xa.

Sau khi Ni trưởng Chơn Toàn viên tịch, chư Ni tại trú xứ Diệu Viên tiếp tục đồng lòng gìn giữ và phát triển ngôi già lam hơn một thế kỷ. Các hoạt động tu học, an cư kiết hạ, giáo dục và từ thiện xã hội vẫn được duy trì ổn định dưới sự điều hành của chư Tôn đức Ni trong bổn tự. Ngày nay, Chùa Diệu Viên không chỉ là ni viện tiêu biểu của Phật giáo Huế mà còn là điểm tựa tinh thần cho biết bao người dân nghèo, người già neo đơn và những ai đang tìm kiếm sự bình yên giữa cuộc sống bộn bề.

Hơn một trăm năm trôi qua, từ một am tranh nhỏ dưới triền núi Ngũ Phong, Diệu Viên đã trở thành biểu tượng của Ni giới xứ Huế, nơi ánh sáng từ bi và trí tuệ vẫn không ngừng được truyền trao qua từng thế hệ. Nguyện cho ngọn đèn Chánh pháp nơi Sắc tứ Diệu Viên Sư Nữ Tự mãi tỏa sáng, tiếp tục soi đường cho muôn người trên hành trình hướng thiện và phụng sự nhân sinh.

*********
Chúng con tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu hoan hỷ từ bi - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

50. LÂM TẾ LIỄU QUÁN: TỪ THIỀN SƯ TÁNH THIÊN NHẤT ĐỊNH ĐẾN NI TRƯỞNG TRỪNG THÀNH THÍCH NỮ HƯỚNG ĐẠO39. Thiền sư Tánh Thi...
19/06/2026

50. LÂM TẾ LIỄU QUÁN: TỪ THIỀN SƯ TÁNH THIÊN NHẤT ĐỊNH ĐẾN NI TRƯỞNG TRỪNG THÀNH THÍCH NỮ HƯỚNG ĐẠO

39. Thiền sư Tánh Thiên Nhất Định (1784 - 1847): Trú trì thứ 6 Tổ Đình Báo Quốc - Khai sơn Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

40. Hòa thượng Hải Thiệu Cương Kỷ (1810 - 1898): Trú trì thứ 2 Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

41. Hòa thượng Thanh Thái Huệ Minh (1861 - 1939): Trú trì thứ 5 Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

*********
Hòa thượng Thanh Thái Huệ Minh có những vị đệ tử xuất gia tài năng như:

1. Hòa thượng Trừng Ngoạn Thích Chơn Nguyên (1880 - 1968): Trú trì thứ 4 Chùa Thiên Hòa (Huế) - Khai Sơn Chùa Thiên Hòa (Khánh Hòa)

2. Hòa thượng Trừng Nguyên Thích Chơn Như (1889 - 1948): Khai sơn chùa Đông Lâm - Chùa Báo Ân (Huế)

3. Hòa thượng Trừng Pháp Thích Chơn Không: Trú trì Chùa Đại Bi, Phường Hạc Thành (Thanh Hóa)

4. Hòa thượng Trừng Liên Thích Chơn Tánh (1915 - 1968): Khai sơn Chùa Từ Phong Lan Nhã, Phường An Cựu (Huế)

5. Hòa thượng Trừng Mẫn Thích Ân Cần (1914 - 1991): Trú trì thứ 20 Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang, Xã Triệu Phong (Quảng Trị)

6. Ni trưởng Trừng Thành Thích Nữ Hướng Đạo (1905 - 1974): Khai sơn Chùa Diệu Viên, Phường Thanh Thủy (Huế)

7. Ni trưởng Trừng Khương Thích Nữ Diệu Trí (1907 - 2010): Trú trì thứ 2 Chùa Diệu Nghiêm, Phường Thủy Xuân (Huế).

*********
42. NI TRƯỞNG TRỪNG THÀNH THÍCH NỮ HƯỚNG ĐẠO (1905 - 1974)

- Thiền phái Lâm Tế đời pháp thứ 42, Dòng thiền Liễu Quán đời pháp thứ 8.

- Khai sơn Chùa Diệu Viên, Phường Thanh Thủy, Thành phố Huế.

Ni trưởng thế danh Phan Thị Huệ, sinh năm Ất Tỵ (1905) tại làng Phú Lương, xã An Thành, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Sinh trưởng trong một gia đình thuần thành kính tín Tam bảo, từ thuở nhỏ Người đã sớm gieo duyên lành với cửa Phật. Đặc biệt, khi đọc sự tích Đức Bồ-tát Quán Thế Âm, cảm phục hạnh nguyện đại từ đại bi cứu độ chúng sinh, Người đã phát tâm xuất trần, nguyện dấn thân trên con đường giải thoát.

Bước đầu trên hành trình tu học, Người được Hòa thượng Thanh Thái Huệ Minh, trú trì Tổ đình Từ Hiếu (Huế) truyền trao Ngũ giới và ban pháp danh Trừng Thành, theo bài kệ dòng Lâm Tế Liễu Quán. Với chí nguyện xuất gia ngày càng kiên cố, năm Quý Hợi (1923), Người tìm đến chùa Thiên Hưng (Huế) cầu xuất gia với Hòa thượng Thanh Tú Huệ Pháp. Tại đây, Người được ban pháp tự Hướng Đạo, hiệu Kim Sa. Trong bối cảnh bấy giờ, Ni giới tại Huế còn rất ít cơ sở tu học, nên sau khi xuất gia, Người trở về Tổ đình Từ Hiếu tiếp tục nương tựa tu hành và trau dồi giới đức.

Năm Giáp Tý (1924) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hành đạo của Ni trưởng. Khi bà Ưng Dinh cùng nhiều thiện tín phát tâm xây dựng một ngôi Ni tự tại làng Thanh Thủy Thượng, xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy (nay là Phường Thanh Thủy, Thành phố Huế) ngôi chùa được đặt tên là Diệu Viên. Chư vị sáng lập đã cung thỉnh Ni trưởng Diệu Hương làm Tọa chủ và giao cho Ni trưởng Hướng Đạo đảm nhiệm chức vụ Tự trưởng. Từ đây, cuộc đời của Người gắn bó mật thiết với sự hình thành và phát triển của chùa Diệu Viên, một trong những trung tâm Ni giới tiêu biểu nhất miền Trung.

Năm Bính Dần (1926), dưới triều vua Bảo Đại, chùa được sắc phong danh hiệu “Sắc Tứ Diệu Viên Ni Tự”, trở thành ngôi Ni tự đầu tiên tại Huế được triều đình ban sắc tứ. Sự kiện ấy không chỉ khẳng định vị thế của chùa Diệu Viên trong đời sống Phật giáo đương thời mà còn ghi nhận những đóng góp to lớn của chư Ni tiền bối trong việc xây dựng nền tảng cho Ni giới Việt Nam.

Là người có tầm nhìn xa và trái tim chan chứa tình thương, Ni trưởng Hướng Đạo không chỉ quan tâm đến việc đào tạo Ni tài mà còn đặc biệt chú trọng các hoạt động xã hội và từ thiện. Ngay trong khuôn viên chùa Diệu Viên, Người đã từng bước xây dựng nhiều cơ sở phúc lợi như cô nhi viện, nhà dưỡng lão, trường sơ học miễn phí, phòng y tế và nhiều chương trình hỗ trợ người nghèo khó.

Đối với Ni chúng, Ni trưởng là người thầy nghiêm từ, hết lòng dìu dắt đàn hậu học. Trong những năm tháng khó khăn của đất nước, dù điều kiện vật chất còn nhiều thiếu thốn, Người vẫn mở rộng vòng tay tiếp nhận và giáo dưỡng đông đảo Ni sinh trẻ tuổi. Nhiều vị đệ tử được Người trực tiếp thế độ sau này đã trở thành những bậc Ni trưởng đức hạnh, tiếp tục đảm nhận trọng trách hoằng dương Phật pháp và phát triển Ni giới Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ hành đạo là hơn nửa thế kỷ Người sống trọn vẹn với lý tưởng phụng sự. Từ ngôi chùa Diệu Viên đơn sơ ngày nào, Ni trưởng đã góp phần xây dựng nên một đạo tràng thanh tịnh, một trung tâm giáo dục Ni giới và một mái nhà từ bi dành cho biết bao mảnh đời bất hạnh. Tinh thần của Người luôn thể hiện rõ qua lời dạy của Đức Phật: “Phục vụ chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật.”

Suốt 50 năm hoằng pháp lợi sinh, Ni trưởng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng Tăng Ni và Phật tử khắp nơi. Cuộc đời của Người là sự kết hợp hài hòa giữa đạo hạnh giải thoát và hạnh nguyện nhập thế, giữa tinh thần thiền môn thanh tịnh và trái tim rộng mở với cuộc đời.

Ngày mùng 7 tháng 3 năm Giáp Dần (1974) nhằm ngày 30 tháng 3 năm 1974 tây lịch, sau một đời tận tụy vì đạo pháp và chúng sinh, Ni trưởng thuận thế vô thường, an nhiên xả báo thân trong chánh niệm. Người trụ thế 70 năm, hạ lạp 45 năm. Kim quan được môn đồ pháp quyến phụng nhập bảo tháp tại chùa Diệu Viên, nơi Người đã dành trọn cuộc đời để vun bồi đạo nghiệp.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Ni trưởng viên tịch, nhưng hình ảnh vị Ni trưởng khả kính vẫn luôn hiện hữu trong ký ức của nhiều thế hệ Ni chúng và Phật tử. Cuộc đời của Người là ngọn đèn trí tuệ soi sáng con đường tu học, là biểu tượng của lòng từ bi vô ngã và là tấm gương cao quý về tinh thần phụng sự không mệt mỏi. Tên tuổi Ni trưởng Trừng Thành Thích Nữ Hướng Đạo mãi mãi được trân trọng ghi vào lịch sử Ni giới Phật giáo Việt Nam như một trong những vị khai sáng, xây dựng và phát triển nền móng vững chắc cho Ni bộ xứ Huế, để lại cho hậu thế một gia tài vô giá về đạo hạnh, giáo dục và tình thương yêu đối với chúng sanh.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Lâm Tế Liễu Quán Tứ Thập Nhị Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Tôn Phong, Diệu Viên Tự Khai Sơn, Húy TRỪNG THÀNH, Tự HƯỚNG ĐẠO, Hiệu KIM SA Ni Trưởng !!!

*********
Suốt quãng đời hoăng pháp độ sanh thâu khiếp đồ chúng, Ni Trưởng Hướng Đạo có những vị đệ tử xuất gia tài năng như:

1. Ni trưởng Tâm Huyền Thích Nữ Chơn Thông (1923 - 1990): Trú trì thứ 2 Chùa Diệu Viên, Phường Thanh Thủy (Huế)

2. Ni trưởng Tâm Yến Thích Nữ Chơn Nguyên (1928 - 2004): Trú trì thứ 2 Chùa Phò Quang - Trú trì thứ 3 Chùa Diệu Viên (Huế)

3. Ni trưởng Tâm Đức Thích Nữ Chơn Hiền (1930 - 2023): Trú trì Chùa Diệu Hỷ - Trú trì thứ 4 Chùa Diệu Viên (Huế)

4. Ni trưởng Tâm Hiếu Thích Nữ Chơn Toàn (1931 - 2024): Trú trì thứ 5 Chùa Diệu Viên, Phường Thanh Thủy (Huế)

5. Ni trưởng Tâm Hảo Thích Nữ Chơn Tịnh (1935 - 1984): Trú trì thứ 2 Chùa Hoa Nghiêm, Phường Thanh Thủy (Huế)

6. Ni trưởng Thích Nữ Chơn Viên (1935 - 2016) : Trú trì thứ 3 Chùa Hoa Nghiêm, Phường Thanh Thủy (Huế)

7. Ni trưởng Thích Nữ Chơn Diệu (? - 2012): Trú trì Chùa Đàm Hoa, Phường Thuận Hóa (Huế)

8. Ni trưởng Thích Nữ Chơn Định (? - 2026): Khai sơn Chùa Liên Hương, Phường Thủy Xuân (Huế).

*********
Chúng con tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu hoan hỷ từ bi - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

49. LÂM TẾ LIỄU QUÁN: TỪ THIỀN SƯ TÁNH THIÊN NHẤT ĐỊNH ĐẾN HÒA THƯỢNG TÂM HUỆ THÍCH THIỆN THẮNG39. Thiền sư Tánh Thiên N...
19/06/2026

49. LÂM TẾ LIỄU QUÁN: TỪ THIỀN SƯ TÁNH THIÊN NHẤT ĐỊNH ĐẾN HÒA THƯỢNG TÂM HUỆ THÍCH THIỆN THẮNG

39. Thiền sư Tánh Thiên Nhất Định (1784 - 1847): Trú trì thứ 6 Tổ Đình Báo Quốc - Khai sơn Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

40. Hòa thượng Hải Thiệu Cương Kỷ (1810 - 1898): Trú trì thứ 2 Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

41. Hòa thượng Thanh Thái Huệ Minh (1861 - 1939): Trú trì thứ 5 Tổ Đình Từ Hiếu (Huế)

42. Hòa thượng Trừng Mẫn Thích Ân Cần (1914 - 1991): Trú trì thứ 20 Tổ Đình Sắc Tứ Tịnh Quang (Quảng Trị)

*********
Hòa thượng Ân Cần có những vị đệ tử xuất gia tài năng như:

1. Hòa thượng Tâm Huệ Thích Thiện Thắng (1932 - 2002): Khai sơn chùa Bửu Phước (Vĩnh Long) - Chùa Pháp Hoa (Đồng Nai)

2. Hòa thượng Thích Tâm Hậu: Trú trì thứ 4 chùa Phước Ninh, Phường Hải Châu (Đà Nẵng)

3. Hòa thượng Thích Tâm Hiệp: Trú trì Am Thụy Ứng, Xã Vĩnh Định (Quảng Trị)

4. Thượng tọa Tâm Thiệt Thích Khánh Chơn: Trú trì chùa Đâu Kênh, xã Ái Tử (Quảng Trị)

5. Thượng tọa Thích Tâm Hòa (Đã viên tịch)

*********
43. HÒA THƯỢNG TÂM HUỆ THÍCH THIỆN THẮNG (1932 - 2002)

- Thiền phái Lâm Tế đời pháp thứ 43, dòng thiền Liễu Quán đời pháp thứ 9

- Khai sơn Chùa Bửu Phước (Vĩnh Long) - Chùa Pháp Hoa (Đồng Nai)

Hòa thượng thế danh Nguyễn Trí Tài, sinh ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Thân (1932) tại làng Lam Thủy, xã Hải Hưng, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Ngài sinh ra trong một gia đình Nho phong đạo hạnh, nhiều đời kính tín Tam Bảo. Vùng đất Quảng Trị đầy nắng gió, giàu truyền thống yêu nước và tâm linh đã nuôi dưỡng nơi Ngài một tâm hồn thuần hậu, sớm hướng về con đường giác ngộ.

Năm Canh Thìn (1940), khi mới lên tám tuổi, Ngài đã phát tâm xuất gia với chí nguyện vượt ngoài lẽ thường của một đứa trẻ. Được Hòa thượng Trừng Mẫn Thích Ân Cần - Trú trì Tổ đình Sắc Tứ Tịnh Quang (Quảng Trị), từ bi tiếp độ, Ngài được ban pháp danh Tâm Huệ theo dòng kệ Lâm Tế Liễu Quán. Từ đó, cuộc đời Ngài gắn liền với tiếng chuông chùa, lời kinh kệ và những tháng năm miệt mài học đạo dưới mái già lam cổ kính.

Năm Bính Thân (1956) lúc 24 tuổi, mang trong lòng hoài bão phụng sự chúng sinh, Ngài rời quê hương vào Nam cầu học. Tại Linh Quang Tịnh Xá (Sài Gòn), Ngài được Hòa thượng Nhuận Tắc Thích Phổ Ứng nhận làm đệ tử y chỉ. Nhờ tinh thần cầu học không mệt mỏi và hạnh tu tinh nghiêm, Ngài thọ đại giới được ban pháp tự Từ Thật, pháp hiệu Thiện Thắng. Từ đây, đạo hiệu Thích Thiện Thắng gắn liền với cuộc đời hành đạo đầy đạo vị và công hạnh của Ngài.

Suốt cuộc đời tu tập, Hòa thượng lấy Kinh Pháp Hoa làm kim chỉ nam cho mọi hành trạng. Ngài luôn tin tưởng rằng giáo nghĩa Pháp Hoa là con đường đưa người học Phật trở về với Phật tánh thanh tịnh nơi chính mình. Không chỉ chuyên tâm nghiên cứu và thọ trì, Ngài còn đem tinh thần Pháp Hoa ứng dụng vào từng việc làm, từng bước chân hoằng hóa.

Đặc biệt, Ngài phát nguyện noi theo hạnh Khất sĩ Đại thừa của Hòa thượng Quảng Thạnh Thích Huệ Nhật. Hình ảnh vị tăng sĩ giản dị, tay ôm bình bát, sống đời thanh bần nhưng tâm hồn luôn tự tại giữa nhân gian đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng hàng Phật tử. Chính thân giáo của Ngài đã trở thành bài pháp sống động, cảm hóa biết bao người quay về với nếp sống hướng thiện.

Năm Kỷ Dậu (1969), Ngài khai sơn Chùa Bửu Phước tại Huyện Thạnh Phú, Tỉnh Bến Tre (nay là Xã Thạnh Phú, Tỉnh Vĩnh Long). Giữa vùng quê sông nước còn nhiều thiếu thốn, ngôi chùa đã trở thành nơi nương tựa tâm linh cho đông đảo người dân địa phương.

Đến năm Nhâm Tý (1972), nhân duyên đưa Ngài về Xã An Phước (Đồng Nai) khai sơn Chùa Pháp Hoa. Bằng nghị lực phi thường và tâm nguyện kiên định, Ngài đã biến vùng đất hoang sơ ngày nào thành một già lam trang nghiêm, nơi đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni và là trung tâm sinh hoạt Phật giáo quan trọng của địa phương. Ngôi chùa không chỉ là kết tinh của công sức xây dựng vật chất mà còn là kết quả của cả một đời tâm huyết dành cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.

Không chỉ tận tụy với công tác xây dựng tự viện, Hòa thượng còn dành nhiều tâm lực cho công tác giáo dục Tăng tài. Từ năm Kỷ Tỵ (1989) đến năm Canh Thìn (2000), Ngài đảm nhiệm chức vụ Trưởng ban Đời sống Tăng Ni tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Đồng Nai trong ba khóa liên tiếp. Với tấm lòng của một người cha trong đạo, Ngài luôn quan tâm từ bữa cơm, manh áo đến đời sống tu học của từng Tăng Ni sinh. Nhiều thế hệ học tăng sau này vẫn luôn nhắc đến Ngài với lòng kính trọng và tri ân sâu sắc.

Với uy tín và giới đức của mình, Hòa thượng còn được Giáo hội giao trọng trách trong Ban Kiểm soát GHPGVN tỉnh Đồng Nai. Ở bất cứ cương vị nào, Ngài cũng thể hiện tinh thần công tâm, trách nhiệm và hết lòng vì sự ổn định, phát triển của Giáo hội.

Tinh thần nhập thế của Hòa thượng được thể hiện rõ nét qua các hoạt động từ thiện xã hội. Trong giai đoạn từ năm Ất Mão (1975) đến năm Canh Thân (1980), Ngài đã thành lập phòng thuốc Nam để khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Bằng những thang thuốc dân tộc và tấm lòng từ bi vô điều kiện, Ngài đã giúp đỡ biết bao hoàn cảnh khó khăn vượt qua bệnh tật. Mỗi khi đồng bào miền Trung hay miền Tây gặp thiên tai lũ lụt, Hòa thượng đều trực tiếp dẫn đầu các đoàn cứu trợ đến tận nơi chia sẻ khó khăn với người dân. Dù tuổi tác ngày càng cao, Ngài vẫn không quản ngại đường xa hay gian khổ. Đối với Ngài, cứu giúp người hoạn nạn chính là thực hành hạnh nguyện của người con Phật giữa cuộc đời.

Những đóng góp to lớn ấy đã được Nhà nước ghi nhận bằng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất. Tại phòng tưởng niệm của Ngài hiện vẫn còn lưu giữ tấm lịch vạn niên do Tổng Bí thư Lê Duẩn trao tặng. Đó không chỉ là một kỷ vật quý giá mà còn là minh chứng cho sự kính trọng của xã hội đối với một bậc cao tăng luôn đồng hành cùng dân tộc.

Sau hơn bảy thập niên hiện hữu giữa cuộc đời và hơn sáu mươi năm phụng sự Đạo pháp, vào lúc 4 giờ ngày mùng 4 tháng 3 năm Nhâm Ngọ (2002), Hòa thượng đã an nhiên thu thần thị tịch trong niềm kính tiếc vô hạn của môn đồ pháp quyến và Phật tử gần xa. Ngài trụ thế 71 năm - 47 hạ lạp, bảo tháp tại khuôn viên Chùa Pháp Hoa.

Dẫu nhục thân đã trở về với cát bụi, nhưng đạo hạnh và công đức của Hòa thượng vẫn còn mãi với thời gian. Những ngôi chùa Ngài trú trì - khai sơn, những thế hệ Tăng Ni được Ngài dưỡng dục, những người nghèo được Ngài cứu giúp và những giá trị đạo đức mà Ngài để lại vẫn đang tiếp tục lan tỏa trong đời sống hôm nay.

Cuộc đời của Ngài tựa như một đóa sen thanh khiết vươn lên giữa cuộc đời nhiều biến động; như cây đại thụ che mát cho bao thế hệ người con Phật. Dẫu bóng hạc đã khuất nơi trời Tây phương, nhưng hương giới đức và ánh sáng từ bi của Ngài vẫn mãi là ngọn đèn soi đường cho hàng hậu học trên bước đường phụng sự Đạo pháp và nhân sinh.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Lâm Tế Liễu Quán Tứ Thập Tam Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Tôn Phong - Trừng Mẫn Ân Cần Pháp Phái, Bửu Phước - Pháp Hoa Nhị Tự Khai Sơn, Húy TÂM HUỆ, Tự TỪ THẬT, Hiệu THIỆN THẮNG Hòa Thượng !!!

*********
Chúng con tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu hoan hỷ từ bi - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

43. CHÙA CHÁNH GIÁC DIÊM PHỤNG - HƠI THỞ TÂM LINH CỦA LÀNG ĐÔI DIÊM TRƯỜNG VÀ PHỤNG CHÁNHĐịa chỉ: Thôn Diêm Trường 2, Xã...
18/06/2026

43. CHÙA CHÁNH GIÁC DIÊM PHỤNG - HƠI THỞ TÂM LINH CỦA LÀNG ĐÔI DIÊM TRƯỜNG VÀ PHỤNG CHÁNH

Địa chỉ: Thôn Diêm Trường 2, Xã Vinh Lộc, Thành phố Huế

Tại vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai mênh mang sóng nước, nơi những cồn cát trắng trải dài ôm lấy làng quê ven phá, có hai ngôi làng cổ đã cùng nhau viết nên một câu chuyện đặc biệt suốt hàng trăm năm qua: làng Diêm Trường và làng Phụng Chánh. Người dân nơi đây vẫn thân thương gọi đó là "làng đôi" bởi từ thuở khai canh lập làng cho đến hôm nay, hai ngôi làng luôn chung một nguồn cội, chung những giá trị văn hóa và chung cả đời sống tâm linh.

Lịch sử ghi nhận Diêm Trường và Phụng Chánh là hai trong số những làng cổ xuất hiện từ rất sớm trên vùng đất Thuận Hóa, được nhắc đến trong bộ sách nổi tiếng Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An vào thế kỷ 16. Trải qua hơn bốn thế kỷ hình thành và phát triển, biết bao thế hệ cư dân đã bám biển, bám phá để mưu sinh, dựng xây nên một vùng quê giàu truyền thống nghĩa tình.

Điều đặc biệt hiếm thấy trong văn hóa làng xã Việt Nam là suốt nhiều thế kỷ, hai làng Diêm Trường và Phụng Chánh cùng chung một ngôi đình làng, thường được gọi là Đình Đôi. Nơi đó không chỉ là trung tâm sinh hoạt cộng đồng mà còn là biểu tượng cho tình đoàn kết keo sơn của người dân hai làng. Không dừng lại ở đó, họ còn cùng chung một mái chùa cổ mang tên Từ Duyên tọa lạc trên đất làng Phụng Chánh để gửi gắm niềm tin tâm linh và đạo lý tổ tiên.

Bước sang thế kỷ 20, cùng với sự phát triển của phong trào chấn hưng Phật giáo tại miền Trung, nhu cầu tu học của Phật tử địa phương ngày càng lớn. Từ nguyện vọng chung của bà con hai làng, năm Đinh Hợi (1947), Khuôn hội Phật giáo Diêm Phụng được thành lập. Một ngôi niệm Phật đường đơn sơ bằng tranh tre nứa lá được dựng lên trên đất làng Diêm Trường, trở thành nơi quy tụ tín đồ Phật tử và là trung tâm sinh hoạt tâm linh mới của cả vùng.

Từ nền tảng ấy, năm Bính Thân (1956) đánh dấu một cột mốc quan trọng khi ngôi chánh điện đầu tiên được khởi công xây dựng dưới sự chứng minh của cố Hòa thượng Tâm Như Thích Mật Nguyện. Ngài đã đặt danh hiệu cho ngôi già lam là Chùa Chánh Giác, với ý nghĩa hướng con người đến sự tỉnh thức và giác ngộ. Tuy nhiên, trong lòng người dân địa phương, cái tên “Chùa Diêm Phụng” vẫn được lưu giữ như một cách nhắc nhớ về nguồn gốc hình thành từ tình nghĩa keo sơn của hai làng Diêm Trường và Phụng Chánh.

Không lâu sau ngày thành lập, chùa Chánh Giác Diêm Phụng đã trở thành trung tâm sinh hoạt Phật giáo quan trọng của khu vực ven phá. Nơi đây sớm hình thành các tổ chức thanh thiếu niên Phật tử, tạo điều kiện để thế hệ trẻ được học tập giáo lý, rèn luyện nhân cách và nuôi dưỡng lý tưởng sống đẹp. Nhiều thế hệ đoàn sinh Gia đình Phật tử đã trưởng thành dưới mái chùa này, trong đó có những người sau này trở thành chư tôn đức tăng ni, tiếp tục phụng sự đạo pháp và dân tộc ở nhiều nơi trong và ngoài nước.

Trải qua những biến động của chiến tranh và thiên tai, chùa nhiều lần hư hại, xuống cấp. Có những giai đoạn ngôi già lam gần như chỉ còn lại dấu tích thời gian, nhưng ngọn lửa tín tâm trong lòng người dân Diêm Trường và Phụng Chánh chưa bao giờ tắt. Bằng tất cả lòng thành kính, các thế hệ Phật tử vẫn gìn giữ hương khói, bảo tồn ngôi chùa như gìn giữ một phần hồn thiêng của quê hương.

Một trang sử mới được mở ra vào năm Nhâm Thìn (2012) khi Đại đức Thích Hồng Nghĩa về đảm nhận Phật sự tại chùa. Với tâm nguyện khôi phục và phát triển đạo tràng quê hương, Thầy đã cùng tăng chúng và Phật tử gần xa tiến hành công cuộc đại trùng tu quy mô lớn. Từ ngôi chánh điện trang nghiêm, tam quan bề thế, tổ đường, nhà tăng cho đến đại hồng chung và nhiều công trình phụ trợ khác lần lượt được xây dựng, tạo nên diện mạo mới cho chùa Chánh Giác Diêm Phụng.

Năm Giáp Ngọ (2014), chùa vinh dự cung nghinh và tôn trí Xá-lợi Đức Phật cùng chư vị Thánh Tăng. Hai năm sau, Đại đức Thích Hồng Nghĩa được GHPGVN tỉnh Thừa Thiên Huế chính thức bổ nhiệm làm Trú trì. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định sự phát triển ổn định và bền vững của ngôi già lam vùng đầm phá.

Ngày nay, chùa Chánh Giác Diêm Phụng không chỉ là nơi lễ bái và tu học mà còn là trung tâm văn hóa, giáo dục đạo đức của địa phương. Các khóa tu mùa hè, chương trình sinh hoạt Gia đình Phật tử, hoạt động từ thiện xã hội, trao học bổng và giúp đỡ người khó khăn đã góp phần lan tỏa tinh thần từ bi, phụng sự cộng đồng đến khắp vùng quê ven phá.

Hơn nửa thế kỷ hiện diện tại quê hương Diêm Trường - Phụng Chánh, chùa Chánh Giác Diêm Phụng đã trở thành biểu tượng của niềm tin, sự đoàn kết và truyền thống hướng thiện. Tiếng chuông ngân vang mỗi sớm chiều không chỉ nhắc nhớ về giáo lý từ bi của Đức Phật mà còn gợi lên hình ảnh của hai ngôi làng đã cùng nhau đi qua bao thăng trầm lịch sử.

Dẫu thời gian vẫn không ngừng trôi, dẫu quê hương từng ngày đổi mới, nhưng tình nghĩa làng đôi Diêm Trường - Phụng Chánh vẫn còn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Bên bờ vùng đầm phá Tam Giang - Cầu Hai mênh mang, chùa Chánh Giác Diêm Phụng vẫn lặng lẽ tỏa sáng như một ngọn đèn tâm linh, lưu giữ hồn quê, hồn đạo và những giá trị tốt đẹp đã được bao thế hệ người dân nơi đây gìn giữ suốt hàng trăm năm.

*********
Làng Diêm Trường và Phụng Chánh ngày nay bao gồm 4 thôn: Diêm Trường 1, Diêm Trường 2, Phụng Chánh 1 và Phụng Chánh 2 thuộc Xã Vinh Lộc, Thành phố Huế.

Chúng con tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu hoan hỷ từ bi - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

42. CHÙA THANH DƯƠNG - MÁI CHÙA CHUNG CỦA HAI LÀNG CỔ PHÚ CƯỜNG VÀ PHÚ XUYÊNĐịa chỉ: Thôn Phú Cường Xuyên, Xã Chân Mây L...
18/06/2026

42. CHÙA THANH DƯƠNG - MÁI CHÙA CHUNG CỦA HAI LÀNG CỔ PHÚ CƯỜNG VÀ PHÚ XUYÊN

Địa chỉ: Thôn Phú Cường Xuyên, Xã Chân Mây Lăng Cô, Thành phố Huế.

Giữa vùng đất bán sơn địa thanh bình của Thôn Phú Cường Xuyên, xã Chân Mây Lăng Cô, thành phố Huế, Chùa Thanh Dương từ lâu đã hiện diện như một điểm tựa tâm linh vững bền của bao thế hệ cư dân địa phương. Trải qua nhiều biến thiên của lịch sử, ngôi cổ tự không chỉ chứng kiến hành trình khai hoang lập làng của cha ông mà còn đồng hành cùng sự hình thành, phát triển của hai làng cổ Phú Cường và Phú Xuyên trước khi hòa chung thành thôn Phú Cường Xuyên ngày nay.

Lịch sử của làng Phú Cường và Phú Xuyên bắt nguồn từ các đợt di dân của người Việt vào vùng Thuận Hóa trong công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Những lưu dân từ Thanh Hóa, Nghệ An và các vùng phía Bắc đã vượt qua muôn vàn khó khăn để tìm đến vùng đất dưới chân núi này, khai khẩn ruộng vườn, dựng nhà lập ấp và tạo dựng nên những cộng đồng dân cư đầu tiên.

Làng Phú Cường hình thành trên vùng đất tương đối bằng phẳng, màu mỡ, thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp. Nơi đây sớm trở thành một trong những khu dân cư trù phú. Các dòng họ khai canh đã góp phần xây dựng nên nền tảng văn hóa, tín ngưỡng và phong tục tập quán đặc sắc còn được lưu giữ đến ngày nay.

Trong khi đó, Làng Phú Xuyên được hình thành ở khu vực gần chân núi hơn. Địa hình nhiều đồi gò và rừng núi khiến công cuộc mở đất của những cư dân đầu tiên trở nên gian nan hơn. Tuy vậy, bằng sự cần cù và ý chí bền bỉ, các thế hệ tiền nhân đã biến vùng đất hoang sơ thành một ngôi làng trù mật, mang đậm bản sắc riêng của cư dân miền sơn cước.

Trong tiến trình hình thành làng xã, đời sống tâm linh luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Cùng với đình làng, miếu thờ và nhà thờ họ tộc, Chùa Thanh Dương được hình thành trên vùng đất làng Phú Cường như một trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng của người dân địa phương. Suốt nhiều thế hệ, tiếng chuông chùa đã trở thành âm thanh quen thuộc của làng quê. Những ngày sóc vọng, lễ Phật Đản, Vu Lan hay các dịp cầu an đầu năm, bà con trong làng lại cùng nhau quy tụ về mái chùa để lễ Phật, cầu nguyện cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa. Dù tọa lạc trên đất làng Phú Cường, nhưng từ rất sớm Chùa Thanh Dương đã không chỉ phục vụ riêng cho cư dân trong làng. Người dân theo đạo Phật ở làng Phú Xuyên cũng thường xuyên tìm đến đây lễ bái, tạo nên sự gắn kết tự nhiên giữa hai cộng đồng dân cư láng giềng.

Trước đây Chùa Thanh Dương không có vị trụ trì thường trú. Khi ấy, Ban Hộ tự cùng các bậc cao niên trong làng đã thay nhau chăm lo hương khói, gìn giữ ngôi cổ tự giữa bao khó khăn của thời cuộc. Bằng lòng thành kính đối với Tam bảo và tình yêu dành cho di sản của cha ông, các thế hệ Phật tử địa phương đã chung tay bảo vệ mái chùa làng, để ngọn đèn Phật pháp nơi đây chưa bao giờ tắt.

Sau này, Đại đức Thích Hạnh Trung được cung thỉnh về đảm nhiệm trọng trách trụ trì Chùa Thanh Dương. Từ đó, ngôi chùa từng bước được chấn hưng, các hoạt động Phật sự được tổ chức nền nếp hơn, đời sống tâm linh của bà con ngày càng khởi sắc. Trong quá trình trùng tu và tôn tạo chùa, nhiều dấu tích vật liệu cổ cùng các hiện vật lịch sử đã được phát hiện dưới lòng đất, mở ra thêm những giá trị nghiên cứu đáng quý về lịch sử lâu đời của vùng đất này.

Năm Canh Tý (2020), hai thôn Phú Cường và Phú Xuyên chính thức được sáp nhập thành thôn Phú Cường Xuyên. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển mới trong công tác quản lý hành chính, đồng thời mở ra giai đoạn phát triển chung cho cộng đồng dân cư trên địa bàn. Dẫu vậy, trong tâm thức người dân, ký ức về hai ngôi làng cổ vẫn được gìn giữ nguyên vẹn. Những ngôi đình làng, nhà thờ họ tộc, phong tục lễ nghi và truyền thống văn hóa của mỗi làng vẫn tiếp tục được bảo tồn như một phần không thể tách rời của lịch sử quê hương.

Ngày nay, Chùa Thanh Dương đã trở thành ngôi chùa chung của toàn thể nhân dân thôn Phú Cường Xuyên. Mái chùa ấy không chỉ là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của Phật tử mà còn là biểu tượng cho sự đoàn kết, hòa hợp và gắn bó giữa những người con của hai làng Phú Cường và Phú Xuyên. Trải qua bao thế hệ, Chùa Thanh Dương vẫn lặng lẽ hiện diện giữa quê hương như một chứng nhân lịch sử. Từ buổi đầu khai hoang lập làng, qua những năm tháng chiến tranh khốc liệt cho đến thời kỳ đổi mới và phát triển hôm nay, ngôi cổ tự đã cùng người dân đi qua mọi thăng trầm của cuộc sống.

Tiếng chuông chùa ngân vang mỗi sớm chiều không chỉ nhắc nhớ về đạo lý hướng thiện của nhà Phật mà còn gợi nhớ công lao của những bậc tiền nhân đã đổ biết bao mồ hôi, công sức để dựng xây nên vùng đất Phú Cường - Phú Xuyên năm xưa và thôn Phú Cường Xuyên hôm nay. Đó chính là sợi dây vô hình kết nối quá khứ với hiện tại, kết nối truyền thống với tương lai, để những giá trị văn hóa và tâm linh tốt đẹp của quê hương mãi được gìn giữ và trao truyền cho các thế hệ mai sau.

*********
Làng Phú Cường và Phú Xuyên ngày nay là Thôn Phú Cường Xuyên thuộc Xã Chân Mây Lăng Cô, Thành phố Huế.

Chúng con tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu hoan hỷ từ bi - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

Address

Trang Nhà Tâm An Lạc 1989
Hue

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TÂM AN LẠC 1989 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share