TÂM AN LẠC 1989

TÂM AN LẠC 1989 Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật... Hòa Thượng Chứng Minh: TÂM LƯỢNG THÍCH THIỆN TÁNH - Trú trì Thiên Thai An Tĩnh Tự, Phường An Cựu (Huế).

2. TỔ ĐÌNH XUÂN TRUNG (NAM ĐỊNH) - CÁC ĐỜI TRÚ TRÌĐịa chỉ: Thôn Trà Lũ Trung, xã Xuân Hưng (Nam Định)Tổ đình Xuân Trung,...
21/08/2026

2. TỔ ĐÌNH XUÂN TRUNG (NAM ĐỊNH) - CÁC ĐỜI TRÚ TRÌ

Địa chỉ: Thôn Trà Lũ Trung, xã Xuân Hưng (Nam Định)

Tổ đình Xuân Trung, còn được gọi là chùa Linh Quang hay Chùa Trà Lũ Trung, tọa lạc tại thôn Trung, Xã Trà Lũ, Huyện Xuân Trường (nay thuộc xã Xuân Hưng, Nam Định). Chùa được Hòa thượng Vô Vi Đào Canh cải gia vi tự vào khoảng giữa thế kỷ 18. Thuở ban đầu, chùa có quy mô nhỏ, mái lợp cỏ bổi, tường bao quanh được đắp bằng đất. Đến năm Ất Tỵ 1785, chùa được xây dựng khang trang hơn bằng gạch ngói. Sang năm Quý Hợi 1803, ngôi chùa tiếp tục được mở rộng với quy mô bề thế.

Đây chính là chốn tổ khai sáng của Sơn môn Phật giáo Linh Quang Trà Lũ Trung thuộc dòng thiền Lâm Tế Trí Bản Đột Không, có ảnh hưởng sâu rộng tại Nam Định, Thái Bình và nhiều địa phương tại miền Bắc. Từ nơi đây, dòng mạch Phật pháp được tiếp nối qua nhiều thế hệ cao tăng như Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ, Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê, Hòa thượng Tâm Thi Tuệ Tạng, Hòa thượng Thích Nguyên Thái Hoằng Nhẫn, Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức, Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm... Và đặt biệt là Hòa Thượng Thích Quảng Độ bậc xuất trần thượng sĩ Phật giáo Việt Nam.

Từ khi khai sơn đến nay, danh sách chư vị trú trì Tổ đình Xuân Trung vẫn chưa được chúng con sưu tầm và ghi nhận đầy đủ. Dưới đây là danh sách những vị trú trì mà chúng con hiện biết được qua các nguồn tư liệu đã sưu tầm.

1. Hòa thượng Vô Vi Đào Canh (1734 - 1818): Là đệ tử Hòa thượng Tính Chúc Bản Lai - Chùa Bình Vọng (Hà Nội). Trên cơ sở một gian nhà nhỏ, Ngài đứng ra cải gia vi tự làm nơi thờ Phật, đặt hiệu là chùa Linh Quang, còn gọi là chùa Trà Lũ Trung hay Tổ đình Xuân Trung ngày nay. Sau đó, Ngài tiếp tục chủ trì xây dựng Tổ đình Xuân Trung ngày càng khang trang, bề thế. Năm Mậu Dần 1818, Ngài viên tịch.

2. Thầy Khoan Bình Đào Phú (1779 - 1820): Thầy là con của cụ Đào Canh (Hòa thượng Vô Vi Đào Canh). Sau khi đắc pháp theo dòng thiền Tào Động và được triều đình sắc phong chức Tăng chính, Thầy trực tiếp gánh vác việc duy trì đạo mạch, hành đạo tại Tổ đình Xuân Trung, kế thế trú trì đời thứ hai. Do nhân duyên nên Thầy hoàn tục kết duyên với một Phật tử họ Trần và là thân sinh của cụ Trần Đào Kế (Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ).

3. Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ (1800 - 1874): Là đệ tử Hòa Thượng Giác Viên - Chùa Bà Đá (Hà Nội). Trú trì khoảng năm 1820 - 1874. Sau khi Thầy Khoan Bình Đào Phú mất, Ngài kế thế đảm nhiệm tự trưởng Tổ Đình Xuân Trung vào năm Canh Thìn 1820, hành hạnh cư sĩ: Mở trường dạy học, bốc thuốc cứu người, lập gia thất và nuôi dạy con cái, vun bồi nhiều thiện duyên giữa đời. Năm Tân Sửu 1841, Ngài thế phát xuất gia, đắc pháp với Hòa thượng Giác Viên. Sau những năm tháng du phương hoằng pháp, đến năm Kỷ Mùi 1859, Ngài trở về Tổ đình Xuân Trung. Đây là giai đoạn Ngài đặt nền móng và khai sáng Sơn môn Phật giáo Linh Quang Trà Lũ Trung, từng bước phát triển mạnh mẽ và tiếp nối cho đến ngày nay. Năm Giáp Tuất 1874 Ngài viên tịch.

4. Ni Trưởng Quang Tuệ Cần Khác (1834 - 1910): Là đệ tử Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ - Tổ Đình Xuân Trung (Nam Định). Trú trì khoảng năm 1874 - 1910. Sau khi Hòa thượng Phổ Liên viên tịch năm Giáp Tuất 1874, Ni trưởng kế thế trú trì Tổ đình Xuân Trung. Trong thời gian đảm nhiệm trú trì, Ni trưởng tiếp tục gìn giữ đạo mạch và truyền thống của chốn Tổ. Năm Canh Tuất 1910 Ni Trưởng viên tịch. Trong khoảng thời gian 1910 - 1914, hiện chúng con chưa tìm được tư liệu xác định rõ vị trú trì.

5. Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức (1889 - 1954): Là đệ tử Hòa thượng Thích Nguyên Thái Hoằng Nhẫn - Chùa Lãng Lăng (Nam Định). Trú trì khoảng năm 1914 - 1954. Sau khi Ni trưởng Quang Tuệ viên tịch năm Canh Tuất 1910, đến năm Giáp Dần 1914 Ngài trở về đảm nhiệm trú trì Tổ đình Xuân Trung, tiếp tục gìn giữ và phát huy tông phong của chốn Tổ cho đến khi viên tịch năm Giáp Ngọ 1954.

6. Hòa thượng Thích Thanh Châu (Đã viên tịch): Là đệ tử Hòa thượng Thích Quảng Quyết - Tổ Đình Xuân Trung (Nam Định). Trú trì khoảng năm 1954 - 1965. Sau khi Hòa thượng Quảng Quyết viên tịch năm Giáp Ngọ 1954, Hòa thượng Thanh Châu kế thế trú trì, tiếp quản việc chăm lo, gìn giữ chốn Tổ trong bối cảnh đất nước có nhiều biến động lịch sử. Đến năm Ất Tỵ 1965, Ngài cùng sơn môn cung thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Hiền, lúc bấy giờ đang trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình), trở về Tổ đình Xuân Trung đăng tòa trú trì, tiếp nối sự nghiệp hoằng dương tông phong.

7. Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm (1918 - 2001): Là đệ tử Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức - Tổ Đình Xuân Trung (Nam Định). Trú trì khoảng năm 1965 - 2001. Năm Ất Tỵ 1965, khi đang trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình), Ngài được sơn môn cung thỉnh trở về đảm nhiệm cương vị trú trì Tổ đình Xuân Trung. Từ đây, Hòa thượng đồng thời gánh vác Phật sự tại chùa Nguyệt Quang và Tổ đình Xuân Trung, hết lòng gìn giữ tông phong, chấn chỉnh nề nếp thiền môn, đào tạo Tăng tài và phát huy truyền thống của chốn Tổ. Ngài viên tịch năm Tân Tỵ 2001. Trong khoảng thời gian sau khi Hòa thượng Thanh Hiền viên tịch đến khi Đại đức Thích Thanh Thụy kế thế trú trì, chúng con chưa tìm được thêm vị trú trì nào khác.

8. Đại đức Thích Thanh Thụy (Trú trì hiện nay): Dưới sự trú trì và hướng dẫn tu học của Thầy, Tổ đình Xuân Trung tiếp tục được gìn giữ và phát huy truyền thống đạo pháp; chú trọng bảo tồn ngôi cổ tự, duy trì sinh hoạt Phật sự, tích cực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội, đồng thời tiếp nối mạch truyền thừa và tri ân công đức chư vị Tổ sư tiền bối.

Trải qua gần ba thế kỷ, Tổ đình Xuân Trung vẫn là nơi gìn giữ và tiếp nối mạch nguồn Phật pháp của Sơn môn Linh Quang Trà Lũ Trung (Nam Định). Dẫu tư liệu về các đời trú trì còn chưa đầy đủ, công hạnh của chư vị tiền bối vẫn được hậu thế trân trọng gìn giữ. Nguyện cho tông phong chốn Tổ luôn hưng long, đạo mạch mãi được tiếp nối, để các thế hệ Tăng Ni, Phật tử tiếp tục nương tựa tu học, phụng sự Tam bảo và truyền trao ngọn đèn Phật pháp đến mai sau.

*********
Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

82. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÔNG VĨNH KIM KHÊ39. Hòa thượng Phổ ...
20/08/2026

82. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÔNG VĨNH KIM KHÊ

39. Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ (1800 - 1874): Trú trì Chùa Quan Xuyên (Hưng Yên) - Chùa Liêu Đông - Chùa Linh Quang An Cư - Chùa Phúc Khê - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa An Đạo - Chùa Tiên Quang Trà Đông (Nam Định)

Suốt quãng đời hoằng pháp độ sanh thâu nhiếp đồ chúng, Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ có các môn đồ pháp tử tiếp nối tông phong như:

1. Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê (1832 - 1892): Khai sơn Chùa An Lạc Trà Thủy, Xã Xuân Hưng (Nam Định).

2. Hòa thượng Thông Thạch: Trú trì Chùa Lương, Xã Hải An (Nam Định)

3. Hòa thượng Thông Định: Trú trì chùa Linh Quang An Cư, xã Xuân Hưng (Nam Định)

4. Ni trưởng Quang Tuệ Cần Khác (1834 - 1910): Trú trì Chùa Từ Châu (Thái Bình) - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa Tiên Quang Trà Đông (Nam Định)

*********
40. HÒA THƯỢNG THÔNG VĨNH KIM KHÊ (1832 - 1892)

- Thiền phái Lâm Tế Trí Bản Đột Không, đời pháp thứ 40 (Thông)

- Khai sơn Chùa An Lạc Trà Thủy, xã Xuân Hưng (Nam Định)

Hòa thượng họ Nguyễn, tự Hòa, danh Quang, pháp danh Thông Vĩnh, pháp hiệu Kim Khê, sinh năm Nhâm Thìn (1832), là con trai thứ năm của cụ Đồ Quế, trong gia đình có sáu anh em. Quê Ngài ở làng Trà Thủy, xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường (nay thuộc xã Xuân Hưng, Nam Định). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống học vấn, Ngài sớm bộc lộ tư chất thông minh, đĩnh ngộ và có chí hướng học hành, tu học.

Thuở đầu xuất gia, Ngài tu học tại chùa Cảnh Linh (Nam Định), sau đó tham học tại chùa Sùng Ninh (Nam Định). Về sau, Ngài theo học và đắc pháp với Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ, bậc tôn túc tại Tổ đình Xuân Trung (Nam Định). Dưới sự chỉ dạy của bậc thầy, Ngài chuyên tâm tu học, tinh cần hành trì và từng bước trưởng dưỡng đạo hạnh. Sau thời gian tham học, Ngài trở về quê nhà, đem sở học phụng sự Tam bảo và hoằng hóa nơi quê hương.

Trở về Trà Thủy, Ngài nổi tiếng là người có thân hạnh nghiêm cẩn, giới đức tinh chuyên, được dân chúng và môn đồ kính trọng. Nhận thấy quê nhà cần có một nơi để nhân dân nương tựa tinh thần, Ngài cùng thân tộc và dân làng phát tâm dựng chùa trên mảnh đất từ đường của dòng họ, tạo tượng, đúc chuông, từng bước gây dựng cảnh già-lam làm nơi lễ Phật, tu học và hoằng hóa.

Chùa An Lạc, còn gọi là Chùa Trà Thủy, được kiến lập. Tại đây, Ngài không chỉ chuyên tâm tu hành mà còn mở trường dạy học. Đối với tăng ni, Ngài lấy giới luật làm nền tảng giáo dưỡng; đối với sĩ tử, Ngài dùng thi thư, kinh sử để truyền trao học vấn. Người tìm đến theo học ngày càng đông, việc giáo học vì thế ngày càng hưng thịnh. Ảnh hưởng của Ngài không chỉ giới hạn trong chốn thiền môn mà còn lan rộng đến hàng sĩ phu và nhân dân trong vùng.

Hòa thượng là người có học vấn uyên bác, thông hiểu nhiều lĩnh vực đương thời như Nho học, y thuật, lý số, phù chú và phong thủy. Tuy có khả năng giáo hóa cả người xuất gia và tại gia, Ngài trước sau vẫn một lòng hướng về Phật pháp. Việc dạy học đối với Ngài không đơn thuần là truyền trao chữ nghĩa, mà còn là phương tiện vun bồi đạo đức, hướng con người đến điều thiện và đời sống tỉnh thức.

Đối với gia tộc, Ngài đứng ra trùng tu từ đường của dòng họ để kế thừa truyền thống hiếu học, gìn giữ và bồi đắp gia phong. Không chỉ vậy, Ngài còn phát tâm kiến lập Văn Đàn nhằm phụng thờ Đức Khổng Tử cùng Thất Thập Nhị Hiền, biểu trưng cho đạo học và lễ nghĩa. Tiếc thay, hạnh nguyện ấy vẫn còn dang dở khi Ngài viên tịch.

Ngày 11 tháng 3 năm Nhâm Thìn 1892 (nhằm 7/4/1892), Hòa thượng an nhiên thị tịch, hưởng thọ 60 tuổi. Kim thân Ngài được phụng nhập bảo tháp tại Chùa An Lạc Trà Thủy trong niềm kính tiếc của môn đồ và Phật tử.

Hơn một thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Hòa thượng viên tịch, nhưng đạo phong và công hạnh của Ngài vẫn còn được hậu thế nhắc nhớ. Từ mảnh đất Trà Thủy, Ngài đã gây dựng đạo tràng, mở trường giáo học, dìu dắt tăng ni và sĩ tử, khuyến thiện, hướng dẫn con người trở về với đời sống tâm linh thanh tịnh, góp phần hoằng truyền Phật pháp và làm rạng danh thiền phái Lâm Tế Trí Bản Đột Không - môn phái Tổ đình Linh Quang Trà Lũ Trung (Nam Định). Công đức của Ngài như tiếng chuông xưa vẫn còn ngân vọng, truyền trao ánh sáng Phật pháp, nhắc người hậu học giữ vững đạo tâm, tinh tấn tu hành và phụng sự chúng sinh.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Lâm Tế Trí Bản Đột Không Tứ Thập Thế, Linh Quang Trà Lũ Trung Tổ Đình Tôn Phong, An Lạc Trà Thủy Tự Khai Sơn, Húy THÔNG VĨNH, Hiệu KIM KHÊ Hòa Thượng !!!

*********
Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê có những vị đệ tử xuất gia tiếp nối đạo nghiệp hoằng dương Chánh pháp như:

1. Hòa thượng Tâm Uẩn: Trú trì Chùa Bái Lân, Xã Minh Thọ (Thái Bình)

2. Hòa thượng Tâm Đăng: Trú trì Chùa An Đạo, Xã Xuân Giang (Nam Định)

3. Hòa thượng Tâm Nhị: Không rõ trú xứ và nơi hành đạo

4. Hòa thượng Tâm Trường: Không rõ trú xứ và nơi hành đạo

5. Hòa thượng Tâm Tín Thận Ngôn (1867 - ?): Trú trì Chùa Cổ Chất - Chùa Thọ Vực - Chùa An Lạc Trà Thủy - Chùa Phúc Khê - Chùa Hoành Quán - Chùa Xuân Hy (Nam Định) - Chùa Sùng Nghiêm (Thái Bình)

*********
Do không có Hình ảnh, Bảo Tháp hay Long Vị của Ngài nên chúng con tự tạo "bài vị" để minh họa. Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

1. CHÙA AN LẠC TRÀ THỦY (NAM ĐỊNH) - CÁC ĐỜI TRÚ TRÌĐịa chỉ: Thôn Trà Thủy, Xã Xuân Hưng (Nam Định).Chùa An Lạc còn được...
20/08/2026

1. CHÙA AN LẠC TRÀ THỦY (NAM ĐỊNH) - CÁC ĐỜI TRÚ TRÌ

Địa chỉ: Thôn Trà Thủy, Xã Xuân Hưng (Nam Định).

Chùa An Lạc còn được gọi là chùa Trà Thủy, được Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê khai sơn vào khoảng cuối thế kỷ 19, trên mảnh đất từ đường của dòng họ tại thôn Trà Thủy, xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường (nay thuộc Xã Xuân Hưng, Nam Định). Tại đây, Ngài không chỉ chuyên tâm tu hành mà còn mở trường dạy học. Đối với tăng ni, Ngài lấy giới luật làm nền tảng giáo dưỡng; đối với sĩ tử, Ngài dùng thi thư, kinh sử để truyền trao học vấn. Người tìm đến theo học ngày càng đông, việc giáo học vì thế ngày càng hưng thịnh. Ảnh hưởng của Ngài không chỉ giới hạn trong chốn thiền môn mà còn lan rộng đến hàng sĩ phu và nhân dân trong vùng.

Từ khi khai sơn đến nay, danh sách các đời trú trì tại chùa An Lạc Trà Thủy chưa được ghi nhận đầy đủ. Dưới đây là những vị hiện được biết đến qua các tư liệu còn lưu truyền.

1. Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê (1832 - 1892): Là đệ tử Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ - Tổ Đình Xuân Trung (Nam Định). Ngài là vị khai sơn trú trì chùa An Lạc Trà Thủy, năm Nhâm Thìn 1892 Ngài viên tịch

2. Hòa thượng Tâm Tín Thận Ngôn (1867 - ?): Là đệ tử Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê - Chùa An Lạc Trà Thủy (Nam Định). Sau khi Hòa thượng Thông Vĩnh viên tịch năm Nhâm Thìn 1892, Ngài kế thế bổn sư trú trì Chùa An Lạc Trà Thủy.

*********
Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

81. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG QUYẾT PHÚC ĐỨC39. Hòa thư...
19/08/2026

81. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG QUYẾT PHÚC ĐỨC

39. Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ (1800 - 1874): Trú trì Chùa Quan Xuyên (Hưng Yên) - Chùa Liêu Đông - Chùa Linh Quang An Cư - Chùa Phúc Khê - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa An Đạo - Chùa Tiên Quang Trà Đông (Nam Định)

40. Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê (1832 - 1892): Khai sơn Chùa An Lạc Trà Thủy, Xã Xuân Hưng (Nam Định).

41. Hòa thượng Tâm Đăng: Trú trì Chùa An Đạo, Xã Xuân Giang (Nam Định)

42. Hòa thượng Thích Nguyên Thái Hoằng Nhẫn: Trú trì Chùa Lãng Lăng, Xã Xuân Giang (Nam Định)

*********
Suốt quãng đời hoằng pháp độ sanh thâu nhiếp đồ chúng, Hòa thượng Thích Nguyên Thái có các môn đồ pháp tử tiếp nối tông phong như:

1. Hòa thượng Thích Quảng Lãm (Đã viên tịch): Trú trì Chùa Lãng Lăng, Xã Xuân Giang (Nam Định)

2. Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức (1889 - 1954): Trú trì Chùa Vĩnh Quang - Chùa Thanh Châu (Thái Bình) - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa Kiên Hành - Khai sơn Chùa Tùng Lâm - Chùa Vạn Linh (Nam Định)

*********
43. HÒA THƯỢNG THÍCH QUẢNG QUYẾT PHÚC ĐỨC (1889 - 1954)

- Thiền phái Lâm Tế Trí Bản Đột Không đời pháp thứ 43 (Quảng).

- Trú trì Chùa Vĩnh Quang - Chùa Thanh Châu (Thái Bình) - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa Kiên Hành - Khai sơn Chùa Tùng Lâm - Chùa Vạn Linh (Nam Định)

Hòa thượng thế danh Trần Đào Quyết, pháp danh Quảng Quyết, pháp hiệu Phúc Đức, sinh năm Kỷ Sửu (1889) tại thôn Trung, Xã Trà Lũ, Huyện Xuân Trường (nay thuộc xã Xuân Hưng, Nam Định), là con trai cụ Trần Đào Xuyến, cháu nội cụ Trần Đào Sản, chắt nội cụ Trần Đào Kế (Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ). Ngài là bậc cao tăng có nhiều công hạnh đối với Phật giáo vùng Nam Định - Thái Bình, được tăng ni, Phật tử và hàng trí thức đương thời kính trọng bởi nếp sống thanh bần, đạo hạnh nghiêm trì, trí tuệ uyên thâm và chí nguyện hoằng pháp.

Thuở đầu trên con đường tu học, Hòa thượng sơ tâm xuất gia với Ni trưởng Quang Tuệ Cần Khác tại Tổ đình Xuân Trung (Nam Định). Dưới sự chỉ dạy của bậc Thầy khả kính, Ngài được vun bồi nền tảng giới hạnh, đạo tâm và chí nguyện phụng sự Phật pháp. Sau đó, Ngài tiếp tục tham học và đắc pháp với Hòa thượng Thích Nguyên Thái Hoằng Nhẫn tại chùa Lãng Lăng (Nam Định), từng bước thâm nhập giáo pháp và trưởng dưỡng đạo phong. Qua quá trình tham học với các bậc tôn túc, Hòa thượng không ngừng vun bồi đạo tâm, giới hạnh và sở học, đặt nền tảng cho quá trình hành đạo và hoằng pháp về sau.

Hòa thượng Quảng Quyết được biết đến với nếp sống giản dị, thanh bần và khổ hạnh. Ngài thường mặc quần áo vải mộc nhuộm sồng; mùa đông chỉ khoác thêm một chiếc bao tải bên ngoài. Suốt đời, Ngài không dùng chăn bông, gối đệm, không nằm màn mà chỉ trải chiếu trên sàn gác. Ngài ăn chay trường, bữa cơm thường chỉ có gạo hẩm, tương, cà, vừng, lạc, không màng đến cao lương mỹ vị. Với Ngài, vật chất chỉ là phương tiện tối thiểu để duy trì thân mạng; điều cốt yếu của đời người là tu hành, phụng sự Phật pháp và làm những việc có ích cho xã hội.

Ngài thường dạy: “Ăn để mà sống, sống để tu hành, làm việc có ích cho xã hội. Sống để mà ăn thì con người ta chỉ là cái giá áo túi cơm.” Lời dạy ấy cũng chính là hình ảnh phản chiếu cuộc đời Ngài. Nếp sinh hoạt của Hòa thượng cũng thể hiện rõ tinh thần tinh tấn: thời gian chủ yếu được dành cho tụng kinh, niệm Phật, học pháp và lao động, xây dựng cảnh chùa. Nếp sống ấy thể hiện rõ tinh thần lấy hành trì làm gốc, lấy lao động phụng sự làm phương tiện và lấy hoằng pháp lợi sinh làm chí nguyện.

Không chỉ nổi bật bởi nếp sống khổ hạnh, Hòa thượng Quảng Quyết còn được kính trọng bởi trí tuệ và học vấn uyên bác, tinh thông Kinh, Luật, Luận. Nhờ đạo hạnh và sở học uyên thâm, danh tiếng của Ngài ngày càng được nhiều người biết đến. Tăng ni trong và ngoài sơn môn, hàng trí thức cùng Phật tử thập phương tìm về lễ bái, quy y, tham học và thỉnh giáo.

Bên cạnh công phu tu học và hoằng pháp, Hòa thượng còn tinh thông nghề đúc đồng và xây dựng. Ngài trực tiếp vận dụng sức lao động, trí tuệ và kỹ nghệ của mình vào việc kiến tạo nhiều công trình Phật giáo, qua đó góp phần phụng sự Tam bảo và tạo dựng cơ sở tu học cho hậu thế. Những việc làm ấy cho thấy ở Ngài sự kết hợp giữa đạo hạnh, trí tuệ và hành động thực tiễn, biến tâm nguyện phụng sự Tam bảo thành những giá trị cụ thể còn lưu dấu đến hôm nay.

Trong quá trình hành đạo, Hòa thượng từng có thời gian tu hành và hoằng pháp tại chùa Vĩnh Quang (Thái Bình). Sau khi Ni trưởng Quang Tuệ viên tịch năm Canh Tuất 1910, Ngài trở về kế tục trú trì Tổ đình Xuân Trung vào năm Giáp Dần 1914, tiếp nối đạo nghiệp của bậc Thầy, chăm lo việc tu học và duy trì sinh hoạt của tăng ni, Phật tử.

Năm 1938, Hòa thượng khai sáng chùa Tùng Lâm (Nam Định), tạo dựng một đạo tràng để quần chúng có nơi nương tựa Tam bảo, tu học và hành trì. Đến khoảng năm 1947 - 1948, trong hoàn cảnh đất nước còn nhiều khó khăn, Ngài tiếp tục khai sơn chùa Vạn Linh (Nam Định). Ngoài ra Ngài còn trú trì Chùa Thanh Châu (Thái Bình) và Chùa Kiên Hành (Nam Định). Những ngôi già lam do Ngài khai sơn - Trú trì không chỉ là nơi thờ phụng và tu học, mà còn trở thành những đạo tràng duy trì sinh hoạt Phật giáo, gìn giữ đạo mạch và tạo dựng nơi nương tựa tinh thần cho nhiều thế hệ.

Suốt cuộc đời hành đạo, Hòa thượng Quảng Quyết đã dành trọn tâm lực cho đạo pháp, sơn môn và sự nghiệp kiến tạo những nơi nương tựa tâm linh cho hậu thế. Ngày mùng 6 tháng 6 năm Giáp Ngọ 1954 (nhằm 5/7/1954), Hòa thượng thuận theo quy luật vô thường, xả báo thân, viên tịch, hưởng thọ 66 tuổi. Kim thân Ngài được phụng nhập bảo tháp tại Tổ đình Xuân Trung.

Cuộc đời Hòa thượng Quảng Quyết là hình ảnh tiêu biểu của một bậc chân tu sống thanh bần, nghiêm trì, lấy tu học và phụng sự làm sự nghiệp. Từ công phu hành trì, trí tuệ hoằng pháp đến việc trực tiếp kiến tạo những ngôi già lam, Ngài đã để lại dấu ấn sâu đậm trong đời sống Phật giáo địa phương. Những đóng góp ấy góp phần gìn giữ và tiếp nối mạch đạo Lâm Tế Trí Bản Đột Không - Môn phái Tổ đình Linh Quang Trà Lũ Trung, để lại một di sản đáng trân trọng cho hậu thế trên quê hương Nam Định - Thái Bình.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Lâm Tế Trí Bản Đột Không Tứ Thập Tam Thế, Linh Quang Trà Lũ Trung Tổ Đình Tôn Phong, Tùng Lâm - Vạn Linh Nhị Tự Khai Sơn, Vĩnh Quang - Thanh Châu - Xuân Trung - Kiên Hành Tứ Tự Trú Trì, Húy QUẢNG QUYẾT, Hiệu PHÚC ĐỨC Hòa Thượng !!!

*********
Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức có những vị đệ tử xuất gia tiếp nối đạo nghiệp hoằng dương Chánh pháp như:

1. Hòa thượng Thích Đức Hải (? - 1945): Trú trì Chùa Thanh Sam, Xã Ứng Thiên (Hà Nội)

2. Hòa thượng Thích Đại Hải (? - 1954): Trú trì Chùa Dâu (Bắc Ninh) - Chùa Bàng Long, Quận Chanthabouly, Thành phố Vientiane (Lào)

3. Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm (1918 - 2001): Trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình) - Tổ đình Xuân Trung (Nam Định)

4. Hòa thượng Thích Thanh Quang (Đã viên tịch): Trú trì Chùa Phổ Chiếu, Phường Lê Chân (Hải Phòng)

5. Hòa thượng Thích Tâm Cẩn (1914 - 1996): Trú trì Chùa Một Cột, Phường Ba Đình (Hà Nội). Ngài là đệ tử sơ tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức

6. Ni trưởng Thích Đàm Kính (1902 - 1984): Trú trì Chùa Thanh Châu, Xã Nam Cường (Thái Bình)

*********
HÌNH ẢNH: Tôn tượng Hòa Thượng Quảng Quyết tại tổ đường Chùa Thanh Châu (Thái Bình).

Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

1. CHÙA NGUYỆT QUANG (THÁI BÌNH) - ÁNH ĐẠO VÀNG GIỮA MIỀN QUÊ NGUYỆT LŨĐịa chỉ: Thôn Nguyệt Lũ, Xã Ái Quốc (Thái Bình)Tọ...
18/08/2026

1. CHÙA NGUYỆT QUANG (THÁI BÌNH) - ÁNH ĐẠO VÀNG GIỮA MIỀN QUÊ NGUYỆT LŨ

Địa chỉ: Thôn Nguyệt Lũ, Xã Ái Quốc (Thái Bình)

Tọa lạc tại vùng quê ven biển thôn Nguyệt Lũ, xã Ái Quốc (Thái Bình), chùa Nguyệt Quang vẫn trầm mặc qua gần bốn thế kỷ, như một nét son bền bỉ trong đời sống của bao thế hệ người dân nơi đây. Không chỉ là chốn thiền môn, ngôi cổ tự còn lưu giữ những lớp trầm tích văn hóa, tín ngưỡng và dấu ấn của quá trình hình thành, phát triển Phật giáo trên vùng đất này.

Theo truyền tích địa phương, chùa được dựng nên từ những buổi đầu cư dân về khai khẩn, tạo lập xóm làng. Từ một nơi nương tựa tâm linh thuở sơ khai, qua thời gian và sự bồi đắp của nhiều thế hệ, Nguyệt Quang dần trở thành một già-lam mang đậm phong vị Phật giáo Bắc Bộ, là nơi lễ Phật, tu học và gửi gắm niềm tin của cộng đồng. Những tư liệu về thuở đầu dựng chùa và các bậc tiền nhân nay không còn đầy đủ, nhưng dấu vết còn lại trong kiến trúc, tượng thờ, pháp khí cùng những câu chuyện được truyền qua dân gian vẫn góp phần nối dài ký ức về một ngôi cổ tự có chiều sâu lịch sử và giá trị văn hóa, tâm linh đáng trân trọng.

Bước sang thế kỷ 20, lịch sử chùa Nguyệt Quang nổi bật với một vị cao Tăng có dấu ấn đặc biệt là Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm. Ngài thế danh Phạm Thanh Huyên, sinh năm Mậu Ngọ 1918 tại Thái Bình. Năm Giáp Tuất 1934, Ngài xuất gia tại Tổ đình Xuân Trung (Nam Định), cầu pháp với Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức. Sau quá trình tu học và hành đạo, năm Ất Dậu 1945, khi mới 27 tuổi, Ngài vâng mệnh Bổn sư về đảm nhiệm trú trì chùa Nguyệt Quang. Đây chính là một trong những dấu mốc quan trọng nhất của lịch sử cận đại Nguyệt Quang.

Tại Nguyệt Quang, Hòa thượng đặc biệt chú trọng việc giảng dạy Kinh - Luật - Luận, giáo dưỡng Tăng Ni, sách tấn Phật tử và duy trì nề nếp thiền môn. Ngài cũng trực tiếp vận động, chỉ đạo việc trùng tu, kiến thiết, từng bước phục hồi diện mạo ngôi chùa sau những năm tháng chiến tranh nhiều biến động. Không chỉ là nơi hoằng pháp, Nguyệt Quang còn gắn với sự nghiệp đào tạo Tăng tài của Hòa thượng. Bởi vậy, dấu ấn của Ngài đối với ngôi chùa không chỉ nằm ở công việc xây dựng Tam Bảo, mà còn ở việc đặt nền móng cho sinh hoạt Phật giáo có chiều sâu tu học và truyền thừa.

Sau khi Hòa thượng Thanh Hiền viên tịch năm Tân Tỵ 2001, Thượng tọa Thích Thanh Bản kế thế Bổn sư, tiếp nhận trọng trách trụ trì chùa Nguyệt Quang. Trên nền tảng truyền thống được các bậc tiền nhân gây dựng, Thượng tọa từng bước chăm lo đạo tràng, duy trì nếp tu học, hoằng pháp và các sinh hoạt Phật giáo, đồng thời đưa đời sống tâm linh của Nguyệt Quang ngày càng gắn bó với cộng đồng địa phương. Đặc biệt, công cuộc đại trùng tu vào đầu thế kỷ 21 đã trở thành một dấu son quan trọng, mở ra chặng đường mới trong việc bảo tồn giá trị cổ tự và kiến thiết diện mạo chùa ngày càng khang trang, phù hợp với nhu cầu tu học của Tăng Ni, Phật tử trong thời đại mới.

Ngày mùng 8 tháng 9 năm Giáp Ngọ 2014 (nhằm 1/10/2014), chùa Nguyệt Quang tổ chức lễ động thổ xây dựng Nhà Tổ và giảng đường Trường hạ. Từ đây, một công cuộc xây dựng quy mô được triển khai với sự phát tâm của Phật tử, nhân dân, các nhà hảo tâm cùng sự hỗ trợ của Giáo hội và chính quyền địa phương. Đến ngày mùng 6 tháng 11 năm Kỷ Hợi 2019 (nhằm 1/12/2019), sau hơn năm năm xây dựng, Chùa Nguyệt Quang long trọng tổ chức lễ khánh thành các hạng mục lớn như Đại hùng bảo điện, Nhà Tổ, giảng đường, nhà khách, Tam quan và các công trình phụ trợ. Qua đó tạo dựng một không gian rộng rãi phục vụ tu học giảng pháp, an cư và sinh hoạt Phật giáo.

Một dấu ấn quan trọng của Nguyệt Quang trong giai đoạn hiện nay là vai trò trường hạ. Năm Kỷ Hợi 2019, trường hạ Nguyệt Quang tổ chức lễ Tạ pháp khóa An cư kiết hạ với sự tham dự của chư tôn đức Giáo hội và các hành giả an cư tại Thái Bình. Từ một ngôi chùa làng nơi người dân tìm về lễ Phật, cầu nguyện và gửi gắm tâm nguyện, Nguyệt Quang ngày nay đã trở thành nơi Tăng Ni thúc liễm thân tâm, trau dồi giới đức, học pháp và hành trì. Đây chính là sự tiếp nối có ý nghĩa của một ngôi già-lam: kiến trúc có thể đổi thay, nhưng cốt lõi của đời sống Phật giáo vẫn được giữ gìn.

Từ ngày khai sơn đến nay, trải qua nhiều biến thiên lịch sử, tư liệu về các đời trụ trì không còn lưu giữ đầy đủ. Theo những ghi chép hiện còn, các đời trụ trì được ghi nhận tại Chùa Nguyệt Quang gồm có:

1. Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm (1918 - 2001): Là đệ tử Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức - Tổ đình Xuân Trung (Nam Định). Trú trì khoảng năm 1945 - 2001. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với Nguyệt Quang, Ngài để lại dấu ấn sâu đậm trong việc hoằng pháp, giáo dưỡng Tăng Ni, sách tấn Phật tử và trùng hưng Tam Bảo.

2. Thượng tọa Thích Thanh Bản (Trú trì hiện nay): Là đệ tử Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm - Chùa Nguyệt Quang (Thái Bình). Kế thế Bổn sư trú trì Chùa Nguyệt Quang từ năm Tân Tỵ 2001, Thầy đã có công lớn trong sự nghiệp phục hưng, phát triển ngôi chùa, đặc biệt là đại trùng tu giai đoạn 2014 - 2019, kiến tạo diện mạo khang trang như ngày nay, đồng thời duy trì tu học Phật sự và tổ chức trường hạ tại chùa.

Gần bốn thế kỷ trôi qua, Chùa Nguyệt Quang vẫn lặng lẽ hiện diện giữa miền quê Nguyệt Lũ như một chứng nhân của lịch sử và một điểm tựa tâm linh cho bao thế hệ. Bao đổi thay của đất trời, bao thăng trầm của thời cuộc đã đi qua, nhưng đạo mạch và tiếng chuông chùa vẫn bền bỉ được gìn giữ và tiếp nối. Hôm nay, diện mạo khang trang của ngôi chùa là kết tinh từ công đức của chư Tổ, các đời trụ trì, cùng biết bao tấm lòng của nhân dân và Phật tử gần xa. Đó không chỉ là sự tiếp nối của một ngôi già-lam, mà còn là sự truyền thừa của niềm tin, đạo mạch và ánh sáng Phật pháp trên quê hương Thái Bình.

*********
Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

80. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH THANH HIỀN MINH TÂM39. Hòa thượ...
18/08/2026

80. LÂM TẾ TRÍ BẢN ĐỘT KHÔNG: TỪ HÒA THƯỢNG PHỔ LIÊN HƯ TÂM KHẤT SĨ ĐẾN HÒA THƯỢNG THÍCH THANH HIỀN MINH TÂM

39. Hòa thượng Phổ Liên Hư Tâm Khất Sĩ (1800 - 1874): Trú trì Chùa Quan Xuyên (Hưng Yên) - Chùa Liêu Đông - Chùa Linh Quang An Cư - Chùa Phúc Khê - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa An Đạo - Chùa Tiên Quang Trà Đông (Nam Định)

40. Hòa thượng Thông Vĩnh Kim Khê (1832 - 1892): Khai sơn Chùa An Lạc Trà Thủy, Xã Xuân Hưng (Nam Định).

41. Hòa thượng Tâm Đăng: Trú trì Chùa An Đạo, Xã Xuân Giang (Nam Định)

42. Hòa thượng Thích Nguyên Thái Hoằng Nhẫn: Trú trì Chùa Lãng Lăng, Xã Xuân Giang (Nam Định)

43. Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức (1889 - 1954): Trú trì Chùa Vĩnh Quang - Chùa Thanh Châu (Thái Bình) - Tổ Đình Xuân Trung - Chùa Kiên Hành - Khai sơn Chùa Tùng Lâm - Chùa Vạn Linh (Nam Định)

*********
Suốt quãng đời hoằng pháp độ sanh thâu nhiếp đồ chúng, Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức có các môn đồ pháp tử tiếp nối tông phong như:

1. Hòa thượng Thích Đức Hải (? - 1945): Trú trì Chùa Thanh Sam, Xã Ứng Thiên (Hà Nội)

2. Hòa thượng Thích Đại Hải (? - 1954): Trú trì Chùa Dâu (Bắc Ninh) - Chùa Bàng Long, Quận Chanthabouly, Thành phố Vientiane (Lào)

3. Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm (1918 - 2001): Trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình) - Tổ đình Xuân Trung (Nam Định)

4. Hòa thượng Thích Thanh Quang (Đã viên tịch): Trú trì Chùa Phổ Chiếu, Phường Lê Chân (Hải Phòng)

5. Hòa thượng Thích Tâm Cẩn (1914 - 1996): Trú trì Chùa Một Cột, Phường Ba Đình (Hà Nội). Ngài là đệ tử sơ tâm xuất gia với Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức

6. Ni trưởng Thích Đàm Kính (1902 - 1984): Trú trì Chùa Thanh Châu, Xã Nam Cường (Thái Bình)

*********
44. HÒA THƯỢNG THÍCH THANH HIỀN MINH TÂM (1918 - 2001)

- Thiền phái Lâm Tế Trí Bản Đột Không đời pháp thứ 44 (Tục)

- Trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình) - Tổ đình Xuân Trung (Nam Định)

Hòa thượng thế danh Phạm Thanh Huyên, sinh ngày mùng 8 tháng 10 năm Mậu Ngọ 1918 (nhằm 11/11/1918) tại thôn Năng Tĩnh, xã Nam Chính, huyện Tiền Hải (nay thuộc xã Nam Cường, Thái Bình). Ngài sinh trưởng trong một gia đình nhiều đời kính tin Tam bảo. Thân phụ là cụ ông Phạm Văn Tụy, tự Phúc Hòa; thân mẫu là cụ bà Trần Thị Thơm, hiệu Diệu Phúc. Ngài là người con trai út trong gia đình có ba anh chị em, người chị gái cũng xuất gia và viên tịch tại Tổ đình Xuân Trung (Nam Định)

Mồ côi thân phụ từ năm lên bốn tuổi, Hòa thượng sớm trải nghiệm những biến thiên của cuộc đời, từ đó dần cảm nhận sâu sắc lẽ vô thường và sự tạm bợ của kiếp nhân sinh. Đến năm Giáp Tuất 1934, khi vừa tròn mười sáu tuổi, được sự hoan hỷ chấp thuận của thân mẫu, Ngài phát tâm xuất gia tu học tại Tổ đình Xuân Trung, cầu pháp với Hòa thượng Thích Quảng Quyết Phúc Đức, bậc cao tăng danh đức của sơn môn.

Trong những năm đầu chốn thiền môn, Ngài một lòng chuyên cần tu học, phụng Phật kính Sư, nghiêm trì thời khóa và tận tụy chấp sự. Sau hai năm tinh tấn hành trì, Ngài thông đạt quy củ thiền gia và được đăng đàn thọ Sa-di giới vào năm Bính Tý 1936, khi mười tám tuổi. Được Bổn sư ban pháp tự Thanh Hiền, theo dòng Lâm Tế Trí Bản Đột Không, môn phái Tổ đình Linh Quang Trà Lũ Trung (Nam Định)

Đến năm Mậu Dần 1938, khi hai mươi tuổi, được Bổn sư cho phép, Ngài đăng đàn thọ Tỳ-kheo giới tại Tổ đình Xuân Trung. Giới đàn do Hòa thượng Thích Nguyên Thái - Chùa Lãng Lăng (Nam Định) làm Đàn đầu, Hòa thượng Thích Thanh Nghị làm Yết-ma và Hòa thượng Thích Quảng Lãm - Chùa Lãng Lăng (Nam Định) làm Giáo thọ. Cũng trong giới đàn này, Bổn sư ban pháp hiệu Minh Tâm, từ đó Ngài chính thức gánh vác sứ mệnh của một vị Tỳ-kheo, lấy giới luật làm nền tảng và đạo nghiệp làm chí hướng suốt đời.

Sau khi thọ Cụ túc giới, được sự cho phép của Bổn sư, Ngài tiếp tục tham học tại nhiều danh lam, đạo tràng như chùa Hoằng Ân, Trung Hậu (Hà Nội), chùa Lãng Lăng, chùa Cồn (Nam Định)... Nhờ gần gũi các bậc tôn túc, Ngài lĩnh hội giáo pháp, trau dồi Kinh - Luật - Luận, ngày càng viên mãn về giới hạnh, học hạnh và đạo phong. Sự tinh tấn cùng đức tính khiêm cung của Ngài khiến Bổn sư và chư tôn đức đều đặt nhiều kỳ vọng vào con đường hoằng dương Phật pháp sau này.

Đến năm Ất Dậu 1945, khi hai mươi bảy tuổi, vâng mệnh Bổn sư, Ngài đảm nhiệm cương vị trú trì chùa Nguyệt Quang (Thái Bình). Đây cũng là thời kỳ đất nước bước vào những năm tháng đầy biến động, nhân dân phải đối diện với nạn đói và chiến tranh. Trên cương vị trụ trì, Ngài luôn lấy tinh thần từ bi, bình đẳng và vị tha làm nền tảng giáo hóa, khuyến hóa Phật tử đoàn kết, tương trợ lẫn nhau và cùng vượt qua cảnh khốn khó của thời cuộc.

Trong hai cuộc kháng chiến của dân tộc, Hòa thượng cùng chư Tăng, Ni và Phật tử tỉnh Thái Bình tích cực tham gia các hoạt động yêu nước, che chở, đùm bọc bộ đội, thương binh và nhân dân trong tinh thần từ bi cứu khổ. Ngài là thành viên Phật giáo Tăng già Cứu quốc tỉnh Thái Bình. Đến năm Canh Tý 1960, Ngài được tín nhiệm cử giữ chức Thư ký Chi hội Phật giáo Cứu quốc tỉnh Thái Bình, tiếp tục gánh vác Phật sự và phụng sự quê hương, đất nước.

Năm Ất Tỵ 1965, trước tuổi cao sức yếu của Hòa thượng Thích Thanh Châu, bậc kế đăng Tổ đình Xuân Trung, Ngài được sơn môn cung thỉnh về đảm nhiệm cương vị trú trì Tổ đình. Từ đây, Hòa thượng đồng thời gánh vác Phật sự tại Nguyệt Quang và Xuân Trung, hết lòng duy trì tông phong, chấn chỉnh nề nếp thiền môn, đào tạo Tăng tài và phát huy truyền thống của chốn Tổ.

Năm Ất Mão 1975, Hòa thượng được suy cử làm Phó Hội trưởng Chi hội Phật giáo Thống nhất tỉnh Thái Bình. Đến năm Đinh Tỵ 1977, Ngài được tín nhiệm giữ cương vị Hội trưởng Chi hội Phật giáo Thống nhất tỉnh Thái Bình. Cũng trong giai đoạn này, Ngài được nhân dân bầu làm Đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình (khóa tám và chín, nhiệm kỳ 1977 - 1985).

Năm Canh Thân 1980, khi Ban Vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam được thành lập, Hòa thượng tham gia với tư cách thành viên Ban Vận động Phật giáo thống nhất miền Bắc, góp phần vào tiến trình thống nhất Phật giáo trong cả nước.

Năm Tân Dậu 1981, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất tổ chức tại Hà Nội, Hòa thượng được suy cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương GHPGVN, đồng thời đảm nhiệm Trưởng ban Hướng dẫn Nam nữ Cư sĩ Phật tử Trung ương. Cũng trong năm ấy, Ngài được bầu làm Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Thái Bình và Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Tiền Hải.

Đến năm Nhâm Tuất 1982, Hòa thượng được cung cử giữ chức Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thái Bình. Tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ hai năm Mậu Thìn 1988, Ngài tiếp tục được suy cử làm Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương, kiêm Ủy viên Ban Kiểm soát GHPGVN.

Bên cạnh trọng trách lãnh đạo Giáo hội, Hòa thượng luôn xem hoằng pháp và đào tạo Tăng tài là bổn hoài của người xuất gia. Từ năm Ất Tỵ 1965 cho đến những năm cuối đời, Ngài là bậc mô phạm của Tăng Ni tỉnh Thái Bình và Nam Định. Tại chùa Nguyệt Quang, Hòa thượng thường xuyên giảng dạy Kinh - Luật - Luận, sách tấn Tăng Ni tinh chuyên giới học và đạo hạnh. Khi Trường hạ Tổ đình Xuân Trung được khai mở, Ngài nhiều lần được cung thỉnh làm giảng sư trong các mùa An cư Kiết hạ, góp phần đào luyện nhiều thế hệ Tăng tài kế thừa mạng mạch Phật pháp.

Tại các Giới đàn được tổ chức trong tỉnh Thái Bình, Hòa thượng nhiều lần được cung thỉnh đảm nhiệm các ngôi vị Đường đầu, Giáo thọ, Yết-ma và Giới sư, trực tiếp truyền trao giới pháp, giáo giới và sách tấn hàng giới tử trên bước đường xuất gia học đạo. Với uy đức, giới hạnh và sở học uyên thâm, mỗi khi các đạo tràng, giới đàn và pháp hội lớn được thiết lập trong và ngoài tỉnh, Ngài đều được chư Tôn đức cung thỉnh quang lâm thuyết giới, giảng kinh và hoằng dương Chánh pháp, đem lợi lạc đến đông đảo Tăng Ni và Phật tử.

Song hành với sự nghiệp hoằng pháp, Hòa thượng còn dành trọn tâm lực cho việc kiến thiết và trùng hưng Tam bảo. Với tâm nguyện “kiến tự độ tăng, hoằng dương Chánh pháp”, Ngài đã cùng thiện tín, Phật tử và nhân dân nhiều nơi chung sức khôi phục, tôn tạo các ngôi già lam sau những năm tháng chiến tranh. Tại chùa Nguyệt Quang, Hòa thượng trực tiếp chỉ đạo nhiều đợt trùng tu, kiến thiết, từng bước xây dựng ngôi phạm vũ trở nên trang nghiêm, khang tịnh. Đối với Tổ đình Xuân Trung, Ngài góp phần tu bổ Tam bảo, tôn tạo Phật tượng, xây dựng Tam quan, đào hồ bán nguyệt và hoàn thiện cảnh quan thiền môn, gìn giữ diện mạo của chốn Tổ truyền đăng.

Không chỉ tận tâm với hai ngôi bản tự, Hòa thượng còn phát tâm trợ duyên trùng tu, kiến thiết nhiều tự viện tại Thái Bình và Nam Định. Mỗi công trình tuy quy mô khác nhau, nhưng đều ghi dấu bước chân hoằng hóa và tấm lòng hộ trì Tam bảo của Ngài. Những ngôi già lam ấy không chỉ là nơi lễ bái, tu học mà còn trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng Phật tử địa phương, góp phần gìn giữ và tiếp nối mạng mạch Phật pháp.

Suốt một đời hành đạo, Hòa thượng luôn lấy phương châm “Đạo pháp - Dân tộc” làm kim chỉ nam phụng sự, đồng thời gìn giữ giới luật, hoằng dương Chánh pháp và tận tụy giáo hóa quần sinh. Dù ở cương vị trụ trì, giáo phẩm hay lãnh đạo Giáo hội, Ngài vẫn giữ nếp sống thanh bần, khiêm cung và gần gũi với Tăng Ni, Phật tử. Với những cống hiến bền bỉ ấy, Hòa thượng được GHPGVN trao tặng Bằng Tuyên dương Công đức, được Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân, cùng nhiều bằng khen và phần thưởng cao quý của các cấp Giáo hội và chính quyền.

Những năm cuối đời, tuy tuổi cao pháp lạp, Hòa thượng vẫn an nhiên gìn giữ thời khóa, chuyên tâm tu trì và không ngừng quan tâm đến Phật sự của sơn môn. Thân tuy hiện bệnh duyên nhưng đạo tâm vẫn sáng ngời, dung nghi tự tại. Đến 22 giờ 30 phút, ngày 16 tháng 3 năm Tân Tỵ 2001 (nhằm 9/4/2001), Hòa thượng an nhiên thâu thần thị tịch tại chùa Nguyệt Quang trong niềm kính tiếc vô hạn của môn đồ pháp quyến cùng Tăng Ni, Phật tử gần xa. Ngài trụ thế 83 năm, hạ lạp 62 năm, Kim quan phụng nhập bảo tháp tại Tổ đình Xuân Trung. Viên mãn một đời phạm hạnh, xứng danh bậc long tượng của chốn thiền lâm.

Hơn tám mươi ba năm hiện thân giữa cuộc đời, Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm, đã trọn vẹn một hành trình phụng sự Đạo pháp và Dân tộc. Từ người thiếu niên phát tâm xuất gia nơi Tổ Đình Xuân Trung, Ngài trở thành bậc long tượng của sơn môn, suốt đời tận tụy hoằng pháp, đào tạo Tăng tài, kế thừa tông phong và kiến thiết già lam. Cuộc đời của Hòa thượng không được ghi dấu bởi những điều lớn lao nơi ngôn từ, mà được lưu truyền bằng chính giới hạnh, đức độ và hạnh nguyện lợi sinh. Những gì Ngài để lại không chỉ là những ngôi chùa được trùng hưng hay những thế hệ Tăng Ni được giáo dưỡng, mà còn là tấm gương sáng về một bậc chân tu thanh bần, từ hòa và kiên định với lý tưởng phụng sự và giác ngộ.

NHẤT TÂM ĐẢNH LỄ: Nam Mô Lâm Tế Trí Bản Đột Không Tứ Thập Tứ Thế, Linh Quang Trà Lũ Trung Tổ Đình Tôn Phong, Nguyệt Quang - Xuân Trung Nhị Tự Trú Trì, Tự THANH HIỀN, Hiệu MINH TÂM Hòa Thượng !!!

*********
Hòa thượng Thích Thanh Hiền Minh Tâm có những vị đệ tử xuất gia tiếp nối đạo nghiệp hoằng dương Chánh pháp như:

1. Thượng tọa Thích Thanh Bản (1973 - nay): Trú trì Chùa Nguyệt Quang, Xã Ái Quốc (Thái Bình)

*********
Bài viết này không mang tính chất nghiên cứu học thuật, tư liệu được tổng hợp lại theo sự tìm hiểu của chúng con ! Sẽ không tránh khỏi thiếu sót... Kính mong Chư Tôn Đức và Quý Đạo Hữu từ bi hoan hỷ - chỉ dạy góp ý để chúng con ngày hoàn thiện hơn ! Chúng con thành kính tri ân !!!

Address

Trang Nhà Tâm An Lạc 1989
Hue

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when TÂM AN LẠC 1989 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share