Giữ gìn chánh pháp-Dhammam

Giữ gìn chánh pháp-Dhammam Phật pháp không phân biệt

Tân Đại biểu Quốc Hội Úc tuyên thệ lời thề trên kinh Phật. 🌷------------------------------------------------------------...
29/07/2022

Tân Đại biểu Quốc Hội Úc tuyên thệ lời thề trên kinh Phật. 🌷
---------------------------------------------------------------------

1 sự việc chưa từng có trong lịch sử Quốc Hội nước Úc.

Sam Lim, tân đại biểu Quốc hội Úc châu khóa 47, đã làm được một bước lịch sử: Sam Lim hôm Thứ Ba 26/7/2022 đã trở thành người đầu tiên tuyên thệ vào Quốc hội Úc bằng lời thề đặt tay trên kinh Phật. Đó là cuốn kinh được đọc nhiều nhất - Kinh Pháp Cú (Dhammapada)

Lim nói rằng Phật giáo luôn là động lực tích cực trong cuộc sống của ông và mang lại cho ông “sức mạnh nội tâm to lớn”. Sam Lim nói: “Phật giáo giúp tôi giữ trung đạo và cân bằng, tử tế và quan tâm, biết ơn và đánh giá cao những món quà của cuộc sống. Tôi thậm chí cũng mang theo tấm thảm thiền của mình trong chuyến đi tới Canberra nhận nhiệm vụ quốc hội.”

Báo The West Australian ghi rằng Sam Lim chỉ mới thấy tuần trước rằng chưa bao giờ có một buổi lễ tuyên thệ nào sử dụng kinh Phật: “Càng nghĩ về điều đó, tôi càng thấy vinh dự hơn. Tôi không phải là một nhà truyền giáo và tôi tin rằng mọi người nên đi theo hành trình của riêng mình, nhưng Phật giáo đã là một động lực tích cực mạnh mẽ trong cuộc sống của tôi. Tôi trở thành một người tốt hơn vì điều đó và tôi rất biết ơn vì điều đó”.

Dân biểu Sam Lim đã tự kể về ông trong những ngày gian nan vận động tranh cử. Lời ông tự kể:

"Tôi sinh ra ở Johor, Malaysia, vào năm 1961 với cha mẹ làm việc rất cần mẫn và tôi là con cả trong gia đình có 8 người con. Tôi đã phục vụ trong hai năm với tư cách cảnh sát trong Lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Malaysia, trước khi rời đi để trở thành một người huấn luyện cá heo, và sau đó tiếp tục điều hành một số doanh nghiệp nhỏ ở Malaysia và sau đó là ở Úc.

Tôi định cư vào Úc cùng vợ và ba con vì tôi muốn chúng nhận được một nền giáo dục đẳng cấp thế giới. Tôi gia nhập Học viện Cảnh sát WA vào năm 2006 và từ đó đã làm việc trên khắp Perth và khu vực WA.

Tôi luôn trân trọng và nâng niu di sản Trung Quốc/Mã Lai của mình. Kỹ năng ngôn ngữ đa dạng của tôi đã khiến tôi được bổ nhiệm làm Cảnh sát Đa văn hóa của Cảnh sát WA, nơi tôi làm việc với các cộng đồng đa văn hóa trên khắp Perth. Năm 2020, tôi được trao giải Cảnh Sát Của Năm vì công việc của tôi với các cộng đồng đa văn hóa trong đại dịch COVID-19.

Tôi và gia đình rất biết ơn những cơ hội mà Úc đã mang lại cho chúng tôi. Điều này thúc đẩy tôi cống hiến cho cộng đồng của mình với tư cách là Cảnh sát, và bây giờ là Dân biểu Quốc Hội Úc châu, đại diện khu vực Tangney."

https://www.samlim.com.au/
Sam Lim becomes first person to be sworn into Australian Parliament on Buddhist scriptures

https://www.perthnow.com.au/local-news/south/sam-lim-becomes-first-person-to-be-sworn-into-australian-parliament-on-buddhist-scriptures-c-7656826

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)  1) ...  2) -- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám...
25/07/2022

46. VI. Hắc Ám (S.v,454)

1) ...

2) -- Có một hắc ám giữa các thế giới không có trần che, tạo ra tối tăm, tạo ra hắc ám; ở đấy ánh sáng của mặt trăng, mặt trời, những vật có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy cũng không hiện ra.

3) Ðược nghe nói như vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:

-- Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Thật là to lớn, bạch Thế Tôn, tối tăm ấy! Bạch Thế Tôn, có một tối tăm nào khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-- Này Tỷ-kheo, có một tối tăm khác, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy.

-- Bạch Thế Tôn, sự tối tăm khác ấy là gì, còn to lớn hơn, còn đáng sợ hãi hơn tối tăm ấy?

-4) -- Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết,... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào tối tăm sanh, họ rơi vào tối tăm già, họ rơi vào tối tăm chết, họ rơi vào tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.

5) Và này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào tối tăm sanh; họ không rơi vào tối tăm già; họ không rơi vào tối tăm chết; họ không rơi vào tối tăm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.

6) Do vậy, này Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
Cr: Facebook Tâm Pháp Sư

19/06/2022
𝗣𝗛𝗔̣̂𝗧 𝗚𝗜𝗔́𝗢 𝗡𝗚𝗨𝗬𝗘̂𝗡 𝗧𝗛𝗨̉𝗬 𝗩𝗜𝗘̣̂𝗧 𝗡𝗔𝗠                     𝗦𝗨̛̉ 𝗟𝗨̛𝗢̛̣𝗖                      (TẬP I)Tỳ-khưu Giới Đức - Sī...
12/06/2022

𝗣𝗛𝗔̣̂𝗧 𝗚𝗜𝗔́𝗢 𝗡𝗚𝗨𝗬𝗘̂𝗡 𝗧𝗛𝗨̉𝗬 𝗩𝗜𝗘̣̂𝗧 𝗡𝗔𝗠
𝗦𝗨̛̉ 𝗟𝗨̛𝗢̛̣𝗖
(TẬP I)
Tỳ-khưu Giới Đức - Sīlaguṇa Bhikkhu
(Minh Đức Triều Tâm Ảnh)
--------
PHẦN D
PHẬT GIÁO THERAVĀDA
LAN TỎA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
---------
Chương II
THẾ HỆ CHƯ VỊ TRƯỞNG LÃO KẾ TỤC
(𝘛𝘪𝘦̂́𝘱 𝘬𝘺̀ 8)


###V- Trưởng lão Hộ Pháp (1967)
(Bhikkhu Dhammarakkhito) (H.77, H.78)
Tư liệu cũ trong hồ sơ Tăng tịch: Có 233 vị thọ đại giới từ năm 1937 đến năm 1984 ghi ngài là số 86.
Pháp danh: Hộ Giới (Bhikkhu Sīlarakkhito)
Thế danh: Nguyễn Văn Thanh.
Ngày và nơi sanh: 5/11/1943, làng Khuê Bắc, quận Hòa Vang, Quảng Nam.
Tờ khai căn cước: 008896, 10/9/1962, Đà Nẵng.
Ngày và nơi cấp giấy phép xuất gia tỳ-khưu: 18/6/1967, chùa Bửu Long, Thủ Đức, Gia Định.
Cha: Nguyễn Văn Đa; Mẹ: Trần Thị Hi.
Thầy Tế độ: Ht. Hộ Tông.
Thầy Yết-ma: Ht. Giới Nghiêm.
Địa chỉ: chùa Bửu Long, Thủ Đức, Gia Định.
Gia nhập hội viên ngày 6/7/1967.
Chú thích: Theo Tăng tịch thì Trưởng lão có pháp danh là Hộ Giới (Bhikkhu Sīlarakkhito), nhưng sau du học Thái, Miến đổi thành Hộ Pháp (Dhammarakkhito).
Thế danh Nguyễn Văn Thanh, sinh ngày 5/11/1943 tại làng Khuê Bắc, quận Hoà Vang, Quảng Nam. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Đa, thân mẫu là cụ bà Trần Thị Hi. Trưởng lão thọ đại giới năm 1967, thầy Thế độ là Ht. Hộ Tông, thầy Yết-ma là Ht. Giới Nghiêm. Năm 1969, Trưởng lão du học Thái rồi du học Myanmar. Chính thức năm 1995 mới về nước, sau 26 năm du học. Nghe kể rằng, Đại đức chỉ tập trung học Tam Tạng Pāḷi và Pāḷi - Miến và còn đi sâu vào Chú giải và cả hậu Chú giải nên kiến thức Phật học của ngài rất thâm sâu và là thuần Nguyên thủy không có tư tưởng ngoại lai nào xen tạp vào được.
Trưởng lão có đời sống giới luật thanh tịnh và sở học kiệt xuất mà các vị Tam Tạng cũng nể trọng. Vừa mới đây thôi, Trưởng lão đón nhận danh hiệu cao quý do chính phủ Myanmar trao tặng.
“Nhận lời mời danh dự của Nhà nước Cộng hòa Liên Bang Myanmar, vừa qua, ngài Đại Trưởng lão Hộ Pháp - Dhammarakkhito đã có chuyến thăm và đón nhận danh hiệu cao quý Bậc Đại Thiện Trí Cao Thượng - Āggamahāpaṇḍita do Chính phủ và Bộ Tôn giáo Myanmar trao tặng. Chuyến đi này cũng là dịp để ngài ghé thăm và đảnh lễ những bậc Thầy, những vị Trưởng lão đã từng đồng học, đồng tu với ngài trước kia, đã mấy mươi năm chưa có dịp gặp lại. Vì thế chuyến đi có rất nhiều niềm hoan hỷ, xúc động. Đây không chỉ là vinh dự cho Tổ đình Bửu Long, thiền viện Viên Không nói riêng mà còn là niềm vui chung cho Phật giáo Nguyên thủy cũng như Phật giáo Việt Nam”.
Ý nghĩa của các danh hiệu:
Những danh hiệu và giải thưởng cao quý này được Chính phủ và Bộ Tôn giáo Miến Điện dâng tặng cho những bậc tài đức và những người đã có nhiều đóng góp to lớn trong việc hoằng dương chánh pháp. Hội đồng xét duyệt do các vị Đại Trưởng lão Tăng-già Myanmar trực tiếp xét duyệt, đã lựa chọn ra được trên 150 vị để trao danh hiệu, trong đó có 104 vị tăng, cả trong nước và ngoài nước như Việt Nam, Sri-Laṅka, Thái Lan, Anh…
Những danh hiệu được dâng tặng cho chư Tăng lần này như:
Abhidhaja Mahā Raṭṭhaguru (Bậc Đại Quốc sư Cao thượng).
Abhidhaja Aggamahā Saddhammajotika (Bậc Xiển dương chánh pháp Cao thượng).
Aggamahā Paṇḍita (Bậc Đại thiện trí cao thượng).
Aggamahā Gandhavācaka (Đại Giảng sư cao thượng).
Mahā Gandhavācaka (Đại Giảng sư).
Ganthavacaka (Giảng sư).
Aggamahā Kammaṭṭhānācariya (Đại Thiền sư cao thượng).
Mahā Kammaṭṭhānācariya (Đại Thiền sư).
Kammaṭṭhānācariya (Thiền sư).
Aggamahā Dhammakathika (Đại Pháp sư cao thượng).
Mahā Dhammakathika (Đại Pháp sư).
Dhammakathika (Pháp sư).
Aggamahā Saddhammajotika (Bậc Đại xiển dương chánh pháp cao thượng).
Mahā Saddhammajotika (Bậc Đại xiển dương chánh pháp).
Saddhammajotika (Bậc Xiển dương chánh pháp).
Ngoài ra còn nhiều danh hiệu khác dành cho tu nữ, nam nữ cư sĩ nhờ những thành tựu về hộ trì giáo pháp, hoằng pháp…(H.79)
Tại Myanmar, danh hiệu Aggamahā Paṇḍita (Bậc Đại thiện trí cao thượng) mà ngài Trưởng lão Hộ Pháp được trao tặng có thể được xem như danh hiệu Đệ nhị Tăng (danh hiệu đệ nhất Tăng chỉ dành cho các vị Tăng thống - tương đương danh hiệu Quốc sư). Đây là lần đầu tiên, một vị Sư Việt được trao danh hiệu này và cũng là trường hợp đặc biệt, phong tặng thăng bậc lên thẳng danh hiệu Aggamahā Paṇḍita mà không cần qua các danh hiệu khác. Ngay với rất nhiều vị Đại Trưởng lão nổi tiếng ở Miến Điện, đây cũng là điều hết sức hy hữu, vì không dễ gì có được danh hiệu tôn quý ấy (Ở Myanmar, một vị Aggamahā Paṇḍita được nhận rất nhiều những quyền lợi đặc cách do Chính phủ trao tặng như cấp đất xây chùa, cấp chi phí sinh hoạt, miễn phí trọn đời đối với giao thông liên lạc trong nước…) (H.80).
Tác phẩm của Trưởng lão:
1- Bài kinh cho người bệnh.
2- Gương bậc xuất gia.
3- Cẩm nang quy y Tam Bảo.
4- Con đường giải thoát khổ.
5- Hạnh Phúc An Lành - Tập I.
6- Hạnh Phúc An Lành - Tập II.
7- Hạnh Phúc An Lành - Tập III.
8- Lễ Dâng Y Kaṭhina.
9- Nền Tảng Phật giáo - Quyển I: Tam Bảo.
10- Nền Tảng Phật giáo - Quyển II: Quy Y Tam Bảo.
11- Nền Tảng Phật giáo - Quyển III: Hành Giới.
12- Tám sự tích Phật lực.
13- Hạnh phúc an lành Tâm Từ.
14- Thực hành pháp hành Thiền Tuệ: Đối tượng Tứ oai nghi.
15- Tìm hiểu pháp hành Thiền Tuệ.
16- Tìm hiểu pháp môn niệm Phật theo Nguyên thủy.
17- Tìm hiểu phước bố thí.
18- Ý Nghĩa đêm Rằm tháng Tư.
Hiện Trưởng lão đang sống tại một liêu thất nơi Viên Không Tăng trên núi Dinh, miệt mài dịch thuật, biên soạn kinh sách, tĩnh lặng tu tập như một ẩn sĩ thâm sơn (H.81).

###VI- Trưởng lão Hộ Chơn (1967)
(Bhikkhu Saccapāla) (H.82, H.83)
Tư liệu cũ trong hồ sơ Tăng tịch: Có 233 vị thọ đại giới từ năm 1937 đến năm 1984 ghi ngài là số 87.
Pháp danh: Hộ Chơn (Bhikkhu Saccapāla)
Thế danh: Hồ Ngọc Châu.
Ngày và nơi sanh: 9/9/1937, làng Phước Hưng, quận Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
Tờ khai căn cước: 271322, 12/11/1962, quận Tân Bình, Gia Định.
Ngày và nơi cấp giấy phép xuất gia tỳ-khưu: 17 giờ, 22/7/1967, chùa Bửu Quang, Thủ Đức, Gia Định.
Thầy Tế độ: Ht. Giới Nghiêm.
Địa chỉ: chùa Phật Bảo, Phú Thọ Hòa, Tân Bình, Gia Định.
Gia nhập hội viên ngày 4/8/1967.
Trưởng lão là đệ tử ngài Giới Nghiêm, xuất gia tỳ-khưu năm 1967 có pháp danh là Hộ Chơn rồi cùng ở chùa Phật Bảo với Bổn sư. Vốn tính tình cẩn trọng, đoan nghiêm và trì chí trong mọi công việc nên Trưởng lão không từ nan bất cứ khó khăn, chướng ngại nào.
Tại chùa Phật Bảo, Trưởng lão sống với giới luật nghiêm minh, ít nói làm nhiều; và ngài đã một thân một mình xây dựng một bảo tháp để tôn trí tro cốt của cố Ht. Giới Nghiêm như tri ân thầy tổ.
Thời gian sau, Trưởng lão đã vâng lời chỉ dạy của thầy ra Bình Định chủ trì chùa Phước Quang để hướng dẫn Phật tử tu học.
Năm 1987 Trưởng lão về lại Sài Gòn và đến chủ trì chùa Bửu Thắng do Ht. Bửu Thắng đã viên tịch. Trưởng lão ở đây, xây dựng chùa cảnh, viết sách, làm thơ cùng hướng dẫn Phật tử tu học.
Năm 2007, Trưởng lão đã xả bỏ báo thân với sự thương tiếc của đông đảo chư Tăng và tín đồ…
Kính Viếng Điếu
Cố Giác Linh Trưởng lão Hộ Chơn
Hỡi ôi!
Chiếc thân tứ đại
Trăm năm nào mấy khắc
Đất nước lửa gió
Rã tan trong chớp mắt
Như một bóng lóe ngang mày
Như một đốm vỡ trên tay
Hốt tụ, hốt tan
Chợt sinh, chợt diệt
Đời người là mộng ảo
Kiếp tử sinh là sầu bi ưu não
Từ ngàn xưa, khổ đế vẫn ngàn sau!

Hỡi ôi!
Sư huynh đã ra đi
Không chậm, không mau
Khi nghiệp duyên đời này đã hết
Đệ hay tin, bàng hoàng, sửng sốt
Thương tiếc vô cùng,
Hỡi đóa u lan!
Một đóa u lan
Mà mùi hương kín đáo, dịu dàng
Phảng phất qua những câu thơ
Giới nghi, đạo hạnh
Sư huynh là một ông già khó tánh
Nhưng lại là một người bạn khó tìm
Nan hiểu, nan tri!
Đời người là cái chi chi
Mà phải trái, trắng đen
Là trò chơi sấp ngửa
Mà xấu ác, tốt lành
Cùng ngồi chung một cửa
Cùng cỡi thuyền thập độ sang sông!

Hỡi ôi!
Sư huynh đã cô đơn
Đã ẩn nhẫn tận lòng
Lo xây dựng,
Lo ươm mầm Bồ-đề
Cho thế gian xanh lá
Sống lặng lẽ thi kinh, thiền tọa
Vài ba người hiền thanh thản tới lui
Ai bụi bám
Thì cố lau chùi
Hơi đâu mà đa ngôn cho lắm chuyện!

Ôi!
Đệ nhớ sư huynh
Lắm lao đao,
Nhiều lận đận
Bạc tóc rồi mới có chỗ yên thân
Kể từ khi với thầy tổ chung gần
Bao khổ nhọc:
Lại dã tràng xe cát
Bao công đức:
Trồng hoa, nở rác!
Lại cặm cụi làm,
Cặm cụi đúc xây
Khi ra đi tay trắng cầm tay
Không lợi dưỡng,
Chẳng cầu danh
Không xun xoe ngồi trên, ăn trước
Sống dị giản, thanh bần, đạm bạc
An lạc tự lòng
An lạc tự mình hay!

Ôi!
Nhớ giác linh xưa
Trí rắn rỏi
Dáng khô gầy
Với bản chất nông dân chất phác hiền hòa
Của quê hương xứ “nẫu”
Tuy hay cãi, hay tranh
Nhưng chẳng luận sai, bàn ẩu
Lại còn biết lắng nghe
Học hỏi chữ câu
Chỉ một nghĩa không thông
Là soạn lục, tầm cầu
Rồi nhả kén
Sợi tơ vàng thi kệ
Chuộng sự thật
Kính trọng bạn vàng, huynh đệ
Với nghĩa tình mây trắng non cao!

Ôi!
Cỗ xe đã mỏi mòn qua trăm dốc trần lao
72 tuổi, cổ lai hy, vừa đủ
Đã phụng sự một đời
Cái thân này đã cũ
Thay huyễn thân
Đổi thân mới mà đi
Không trệ hữu vi
Chẳng nệ vô vi
Cứ nhắm hướng chánh chân mà bước
Thêm mật độ
Thêm nghiệp lành duyên phước
Trăng trời soi
Mà đuốc sáng cũng tự soi
Hoa trắng con đường xưa
Hoa nở đã lâu rồi
Pháp bất diệt
Chẳng mong cầu cũng hái được!

Thôi nhé sư huynh,
Tiễn người đi trước
Đời sa-môn cánh nhạn sông dài
Không cần lưu chiếc bóng cho ai
Cũng chẳng cần giữ
Chút khói sương đầu cánh
Chỉ xót thương chúng đồ
Còn trẻ tâm, non tánh
Mà khói bụi mù
Chẳng vị nể thiền môn
Nhưng trí lực chúng ta,
Hạt cát cỏn con
Sánh với Tu Di sơn
Tuệ minh chư Phật
Chỉ quý cái lương tâm trong sạch
Và ngước lên
Không hổ thẹn với trời cao
Và cặp mắt xanh
Thanh thản ngắm trần lao
Thương ghét, buồn vui
Xoa tay phủi tận
Nở nụ cười trong veo
Như trăng thu cửa động
Hiện sáng ngời, hạt ngọc vô danh
Nguyện cầu sư huynh
Đạo quả viên thành
Non đại định
Và suối sông dòng lặng!
Hỡi giác linh!
Hãy chứng tri, minh giám!
Lời điếu thi này
Là hơi thở, con tim!
Lời điếu thi này
Là ngôn ngữ lặng chìm
Mặc cho mấy ngàn trùng dương sóng vỗ

Không ô hô
Chẳng ai tai!
Chẳng van xin cứu độ!
Pháp đã chuyển rồi, cứ thế mà đi
Có tuệ hồng dẫn lối đến vô nghì
Để tao ngộ chánh tri, giải thoát!
Pháp đệ nghiêng mình
Kinh cầu khấp bái!

(Pháp đệ Giới Đức kính bút)
+++
Cre: fanpage Huyền Không Sơn Thượng

THÔNG BÁOKhoá Tu Xuất Gia Gieo Duyên và Khoá Tu Mùa Hè 2022. Thiền viện Phước Sơn tổ chức khoá tu   Xuất gia gieo duyên ...
08/06/2022

THÔNG BÁO

Khoá Tu Xuất Gia Gieo Duyên và Khoá Tu Mùa Hè 2022.

Thiền viện Phước Sơn tổ chức khoá tu Xuất gia gieo duyên và Khoá tu Mùa hè cho học sinh, sinh viên.

- Thời gian : 1 tháng, từ ngày 13.6.2022 đến 13.7.2022.

- Liên lạc đăng ký: văn phòng thiền viện hoặc số điện thoại 0345029763

Có thể tham dự thời gian ngắn hơn nếu không sắp xếp được đủ thời gian 1 tháng của toàn khoá tu.

Ban tổ chức cần nhân sự điều phối,
Xin mời chư tăng ni và cư sĩ tham gia ban điều phối khoá tu xuất gia gieo duyên và khoá tu mùa hè từ ngày 13.6.2022 đến ngày 13.7.2022 .

Các vị phát tâm xin đăng ký tại văn phòng thiền viện hoặc số điện thoại 0972253767
0345029763
0944868050

Ban Tổ Chức kính thông báo !

-SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ-Minh Đức Triều Tâm Ảnh          ------------CÁC BỘ PHÁI ĐƯƠNG THỜINhư chúng ta đã biết, sự phân phái...
31/05/2022

-SỬ PHẬT GIÁO ẤN ĐỘ-
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
------------
CÁC BỘ PHÁI ĐƯƠNG THỜI

Như chúng ta đã biết, sự phân phái manh nha từ lần kết tập thứ I, qua lần thứ II thì đã đâm rễ, mọc mầm; và qua lần thứ III thì đã đâm cành, mọc nhánh...
Tuy nhiên, sau gần hai ngàn năm, chúng ta muốn tìm hiểu về lịch sử, tư tưởng của từng bộ phái quả thật là khó khăn, phức tạp. Tư liệu lịch sử thì Tích Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Tây Tạng… chẳng ai giống ai. Lần dò theo truyền thuyết của từng bộ phái thì phái nào cũng muốn suy tôn mình lên, kể cả phần sắp xếp hệ thống cũng như kiến giải tư tưởng.
Sau đây là những nguồn tư liệu khác nhau về sự phân chia và sắp xếp các bộ phái thuộc thời kỳ thứ I:
- Truyền thống Tích Lan.
- Truyền thống Kashmire.
- Truyền thống Chánh lượng bộ (Sammatīyavāda).
- Truyền thống Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda).
- Truyền thống của Trưởng lão bộ (Sthāviravāda).
Rồi còn sự phân chia thời kỳ thứ II, khoảng thế kỷ 6-7 TL; sự phân chia thứ III từ tư liệu Trung Quốc và Tây Tạng…
Theo truyền thống Tích Lan thì chỉ có hai phái chính là Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Các bộ phái khác khởi từ hai bộ phái chính này mà tách ra.
Các tư liệu khác, dù Ấn Độ, Trung Quốc hay Tây Tạng đều không tìm thấy Thượng tọa bộ, mà dường như một phái gần như chính thống lại được đề cập, đó là Trưởng lão bộ. Nói cách khác, ở đây cũng có hai bộ phái chính là Trưởng lão bộ và Đại chúng bộ; các bộ phái khác thì được tách ra từ hai phái này.
Từ những chứng lý ấy, ta có thể đưa ra kết luận:
- Hệ phái Theravāda là một dòng đi riêng biệt, không liên hệ gì đến 18 bộ phái được tách ra từ Trưởng lão bộ và Đại chúng bộ của Ấn Độ, Trung Quốc hoặc Tây Tạng. Vậy thì các Kinh, Luật và Luận xuất xứ từ Ấn Độ, Trung Quốc hoặc Tây Tạng có nhắc đến 18 bộ phái Tiểu thừa hoặc Đại chúng – cũng không liên hệ gì đến Theravāda - mà do người ta nhầm lẫn Thượng tọa bộ với Trưởng lão bộ.
- Phái Theravāda phát xuất từ Tích Lan, có nguồn gốc từ phái đoàn truyền giáo của Trưởng lão Mahinda và Trưởng lão ni Saṅghanimitta (con trai và con gái vua A-dục), lập cơ sở ở Mahāvihāra (Đại tự hay Đại tịnh xá), rồi sau đó đi sang Myanmar, Thailand, Campuchia và Lào. Các sử gia cũng ghi nhận rằng, nguồn tư liệu có từ kinh điển Pāḷi, các biên niên sử được tìm thấy ở Tích Lan thời đại đế Asoka là nguồn tư liệu phong phú, đáng tin cậy hơn cả.
Do vậy, chúng ta chẳng có cách gì khác hơn là dựa vào truyền thống Tích Lan để tìm hiểu về các bộ phái đương thời.
I. Thượng tọa bộ (Theravāda).
Hiện nay, kinh điển Pāḷi văn của phái này được phổ biến lan tràn khắp thế giới do giá trị văn học, lịch sử cũng như tư tưởng chính thống được xem là gần gũi nhất so với lời dạy nguyên thủy của đức Phật.
Tam Tạng kinh điển của Theravāda gồm có: Kinh, Luật và Abhidhamma được lưu hành thống nhất ở các quốc độ Tích Lan, Myanmar, Thailand, Lào, Campuchia và Việt Nam. Cũng nhờ bộ Kathavatthu (trong 7 bộ Abhidhamma) của phái này, trong lần kết tập thứ III, do ngài Moggallīputta Tissa chủ trì kết tập, cho ta biết được tình trạng giáo pháp rối ren của các bộ phái thời bấy giờ. Chính Theravāda đã đứng ra phủ bác cả 18 bộ phái có tư tưởng lệch lạc để giữ gìn sự trong sáng cho giáo pháp nguyên thủy.
Tuy nhiên, do thời này còn truyền khẩu, lại còn do sự hòa trộn giáo pháp của các bộ phái nên chúng ta khó tìm ra chân tướng nguyên thủy của Phật ngôn. Ngay Theravāda được xem là chính thống nhưng cũng có nhiều học giả nghi ngờ là xuất thân từ Trưởng lão bộ hay có vay mượn của Hóa địa bộ(1). Những kết luận như vậy thật là khó xác chứng, nhưng dẫu sao cũng cho chúng ta một cái nhìn khách quan hơn lúc nghiên cứu sử để khỏi bị rơi vào quan kiến cục bộ hoặc tự tôn hệ phái rất nguy hiểm vậy.
Các bộ phái Phật giáo được tách ra từ Thượng tọa bộ(2); sau đây, cũng trong một chừng mực nào đó khá tương đối. Nó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khái quát hơn là một tư liệu chính xác. Có một điều mà các sử gia đều thừa nhận là những bộ phái này còn giữ được ít nhiều căn bản của giáo pháp truyền thống. Lại nữa, đa phần họ không chấp nhận 5 điều của Mahādeva (Đại Thiên ngũ sự); chỉ Kinh và Luật có sai khác chút ít. Phái nào có người thông bác, biện tài, phân tích ngữ nghĩa sâu sắc thì được truyền bá rộng rãi, có uy tín trong quảng đại quần chúng, nhiều đệ tử, lắm tín đồ, phát triển mạnh. Trái lại thì co cụm dần, suy tàn rồi mất hẳn.
1. Nhất thiết hữu bộ (Sarvāstivāda)
Phái này gần với Thượng tọa bộ nhất, có một đôi nơi người ta đã lầm tưởng các kinh A-hàm của Nhất thiết hữu bộ tương đồng với các Nikāya của Thượng tọa bộ. Lại còn đôi nơi, ví như André Bareau(3) xem Nhất thiết hữu bộ thuộc phái chính thống. Theo tư liệu này họ nói rằng Nhất thiết hữu bộ được tách ra từ Trưởng lão bộ. Lý do Trưởng lão bộ chú trọng Kinh còn Nhất thiết hữu bộ chú trọng Abhidhamma.
Dẫu thế nào, sau khi Theravāda ra khỏi Ấn Độ, rồi hưng thịnh ở Tích Lan thì Nhất thiết hữu bộ lại phát triển rất mạnh ở Kashmire, Mathura, Sthanesvara, Peshawer, Sravasti.
Mặc dầu Thượng tọa bộ đả phá tư tưởng “nhất thiết hữu” của phái này; nhưng chính họ lại là kẻ đứng đầu để luận chiến với một vài bộ phái của Đại chúng bộ với quan niệm “nhất thiết không”. Nổi bật nhất của phái này là luận sư Thế Thân (Vasubandhu), người viết cuốn Abhidhamma Kosa (A-tì-đạt-ma Câu-xá) để minh định lập trường của Hữu bộ. Luận thư quan trọng này đã đả phá kịch liệt các quan niệm không - những tư tưởng manh nha thời của ông – sau này phát triển cao độ thành tư tưởng của Đại thừa (Mahāyāna) bởi luận sư xuất sắc của họ là Long Thọ (Nāgārjuṇa).
Phái Nhất thiết hữu bộ còn xuất hiện nhiều bậc long tượng khác nữa như ngài Thế Hữu (Vasumitra), Upayutta, Hiếp Tôn giả (Par’sva) đều là những học giả kỳ tài, uyên thâm cả. Lại còn có sử liệu nói rằng, ngài Mã Minh (Aśvaghoṣa)(4) cũng là chân truyền Y Bát của phái này, đã trước tác những soạn phẩm nổi danh như:
- Đại thừa khởi tín luận (Mahāyānas’raddotpada’ śāstrā)(5).
- Phật sở hành tán (Buddhacarata-kavāya).
- Đại trang nghiêm kinh luận (Mahālaṅkāra-sūtra-śāstrā)
Một vài bộ sách của ông, người đương thời đánh giá là ngang hàng với nhiều kiệt tác bất hủ của Ấn Độ như Ramayana của Walmiki và Meghadūta của Raghavamsa...
Thời cực thịnh của Nhất thiết hữu bộ là vào thời vua Kanishka II, nó chiếm ngự vùng Tây Bắc Ấn, Punjab sang tới Java, Malayu...
Trong du ký của Huyền Tráng, vào thế kỷ thứ 7 có ghi nhận vào khoảng 16.000 tu sĩ Hữu bộ sống trong 300 tu viện ở nhiều xứ, nhiều vùng. Trong số ấy, tại Ấn Độ chỉ có khoảng 5.000 tu sĩ sống trong 50 tu viện. Như vậy, là Hữu bộ phát triển rực rỡ ở các xứ Tiểu Á, Trung Á và các nước xứ Tây vực – trên “Con đường tơ lụa”.
Lúc Nghĩa Tịnh sang đây, Hữu bộ vẫn còn phát triển rực rỡ ở Kashmire, Māgadha, Bengal, Gujerat, Malva, Dekkhan, đảo Sonde, Champā và toàn miền nam Trung Quốc.
Tam Tạng kinh điển của Hữu bộ gồm có: Tạng Luật (10 bộ), Tạng Kinh (4 A-hàm – không có Tiểu A-hàm), Tạng Luận (7 bộ - khác với Thượng tọa bộ).
Sau này, tai Ấn Độ còn xuất hiện phái Tân nhất thiết Hữu bộ (Mula-Sarvativāda) nữa và phát triển cũng mạnh. Cả Hữu bộ và Tân Hữu bộ đều sử dụng ngôn ngữ Saṅskrit (có người đề nghi – ban đầu là ngôn ngữ Parkrit).
2. Tuyết sơn bộ (Hemavantavāda)
Rất nhiều sử gia cho rằng Tuyết sơn bộ được tách ra từ Trưởng lão bộ để vào ẩn tu ở Himalaya, không tiếp xúc với bên ngoài. Họ là học phái cực lực lên án “Đại thiên ngũ sự”, chỉ muốn giữ lại nguyên vẹn giáo pháp cổ xưa của đức Phật.
Theo tư liệu của Tích Lan - Dīpavaṃsa (Đảo sử) – thì phái này có mặt sau lần kết tập Phật ngôn lần thứ III dưới thời đại đế Asoka. Thế Hữu (Vasumitra) luận sư của Hữu bộ cũng xác nhận như vậy.
Tuy nhiên, các học giả đi sau đều có vẻ lúng túng, không xác định rõ Tuyết sơn bộ có nền tảng giáo pháp gần với chính thống, gần với Hữu bộ hay có điểm gần giống với Đại chúng bộ?
Tam Tạng của Tuyết sơn bộ không còn giống với Theravāda mà gần giống với Pháp Tạng bộ, nhất là Tạng Luật. Còn Tạng Kinh thì Thế Hữu (Vasumitra) cho là gần giống với Hữu bộ vừa giống với Đại chúng bộ vì những quan điểm sau đây:
- Có thân trung ấm (Antarabhava).
- Vô dư Niết-bàn là thực hữu.
- Ý nghĩa của Niết-bàn là thực hữu.
3. Hóa địa bộ (Mahisāsakavāda)
Học phái này được xem như tách ra từ Trưởng lão bộ gần như đồng thời với Hữu bộ, Tuyết sơn bộ và Độc tử bộ.
Theo tên gọi của phái này thì có nhiều giải thích khác nhau:
- Người cai quản, dạy dỗ và tu chỉnh đất (Mahisāsaka).
- Người học tập nhiều (Mahāsāsaka).
- Người có thức ăn của trâu (Mahisāsaka)...
Có người thì cho rằng, giáo chủ phái này là một vị vua, cai trị một lãnh thổ nên được gọi là “cai quản đất” (Mahisasaka); sau đó, ông từ bỏ vương vị, xuất gia, đi khắp nơi truyền bá giáo pháp. Vì muốn cho lãnh thổ mình cai trị được thấm nhuần chánh pháp nên nhà vua được mọi người gọi là “người chỉnh hóa đất” (Hóa địa)
Chân đế (Paramattha) lại nói vị sáng lập Hóa địa bộ là một Bà-la-môn cải đạo, đã tô điểm văn học Phật giáo bằng văn phong Vệ-đà và văn phạm Saṅskrit.
Phái này rất gần với Thượng tọa bộ. Dưới thời Đại đế Asoka, Hóa địa bộ sống trong vùng đồng bằng Narbada cạnh người của Thượng tọa bộ (trước khi chưa có phân biệt). Ngoài ra, tại Tích Lan, Pháp Hiển lại tìm thấy Tạng Luật của Hóa địa bộ.
Hiện tại, Tạng Luật của Hóa địa bộ được dịch ra Hán tạng, rất gần giống với Luật Pāḷi của Theravāda. Về Kinh, họ cũng có 5 bộ A-hàm, nhưng lạ lùng là không có Tạng Abhidhamma. Thế Hữu có biết đến Hóa địa bộ miền Bắc, và Phật Âm (Buddhaghosa) thì biết đến Hóa địa bộ miền Nam. Và giáo thuyết của họ gần giống với Theravāda, lại còn có vẻ cổ xưa hơn. Người ta còn tìm thấy họ có những điểm tư tưởng giống với Hữu bộ:
- Quá khứ và vị lai đều thực hữu.
- Có thân trung ấm.
- Chỉ có ý nghiệp (cetanā), không có thân nghiệp và ngữ nghiệp...
Phái này khá hưng thịnh tại các xứ Avantī, Vānavasī, Mahisamandala, Kerala và lan sang tận Tích Lan.
4. Ẩm quang bộ (Kassapapikavāda)
Phái này rất gần với Theravāda, ra đời từ sau lần kết tập Phật ngôn vào cuối thế kỷ III sau Phật Niết-bàn.
Theo Đại Tạng Kinh Nhật Bản và tư liệu của Rhyds David thì người sáng lập ra phái này chính là Trưởng lão Kassapagotta mà ngài Moggallīputta Tissa cử đi truyền giáo trong khu vực Himalaya sau lần kết tập thứ III. Vài nhà nghiên cứu cũng xác nhận điều này.
Về Tam Tạng, thì Kinh và Abhidhamma của Ẩm quang bộ rất gần giống với Pháp tạng bộ, còn Luật thì rất gần với Tuyết sơn bộ.
Phái này không phát triển được. Vào khoảng thế kỷ 7-8, Huyền Tráng và Nghĩa Tịnh sang đây thấy họ đã suy tàn, một số hậu duệ của họ đã sáp nhập vào các chi phái của Đại thừa ở Uddiyana, Kharachar và Khotan...
5. Kinh lượng bộ (Sotratikavāda, Suttantikavāda, Suttavāda)
Theo các tư liệu Saṅskrit thì phái này đi ra từ Nhất thiết hữu bộ. Các tư liệu Pāḷi thì bảo họ bắt nguồn từ Ẩm quang bộ.
Theo các tư liệu miền Kashmire thì đây là phái cuối cùng trong số các học phái cổ xưa nhất được tìm thấy vào thế kỷ thứ 4 sau Phật Niết-bàn.
Vì họ chuyên trì Kinh nên người ta gọi là Kinh lượng bộ (Sotratika-Sautrantika); và vì học phái này quan niệm 5 uẩn đều chuyển trú từ thân này sang thân khác, nên còn có tên là “thuyết chuyển trú” (Sankranti).
Đạo Sư của phái này có người nói là Ānanda (họ tôn xưng ngài làm Tổ), có người nói là Utara – là vị sáng lập sau khi ly khai với Hữu bộ.
Ngài Huyền Tráng khi sang đây, ở Srughna, gần Sthanesvara đã theo học một năm với vị Trưởng lão của Kinh lượng bộ. Ngoài ra, các sử liệu đều không rõ biết sự thịnh suy và các trú xứ của phái này.
6. Độc tử bộ (Vajjiputtavāra)
Theo tư liệu Tích Lan thì đúng như tên gọi, gốc tích của phái này rõ ràng là từ nhóm tỳ-kheo xứ Bạt-kỳ (Vajji) tách ra trong lần kết tập Phật ngôn lần II do thọ trì 10 điều sai phạm về giới luật. Vì bất đồng quan điểm nên họ chủ trương chỉ kế thừa Abhidhamma của tôn giả Sāriputta rồi giải thích, bổ sung thêm một số tư tưởng phóng khoáng hơn.
Độc tử bộ chia Abhidhamma ra làm 5 thời: Quá khứ, hiện tại, vị lai (thuộc hữu vi pháp), vô vi (vô vi pháp) và bất khả thuyết. Tư tưởng “bất khả thuyết” này dễ rơi vào “bản thể luận” hoặc “duy tâm siêu hình”.
Theo tư liệu khác – Saṅskrit, Độc tử bộ là lấy tên vị Đạo Sư sáng lập môn phái, ông là một Bà-la-môn có tên là Vatsīputra (Vatsa: Độc tử) – nên gọi phái này là Vatsīputiya; do vậy, tư tưởng của họ về “thực ngã, tự ngã" chính là quan điểm của Bà-la-môn giáo; một vài quan điểm khác lại tương tợ Kỳ-na và Ấn Độ giáo sau này.
Họ có phát triển mạnh một thời gian, lập cước ở Māgadha, qua miền Tây Ấn sau lan xuống cả Tích Lan – mặc dầu rất nhiều bộ phái xem họ như ngoại đạo.
7. Pháp tạng bộ (Dhammaguptavāda)
Phái này tách ra khỏi Hóa địa bộ chỉ do một điểm khác biệt đơn giản thôi, đó là: Cúng dường Phật và Tăng, ở đâu có công đức, phước báu nhiều hơn? Pháp tạng bộ bảo là Phật, Hóa địa bộ nói là Tăng.
Theo tư liệu Pāḷi và cả Saṅskrit thì phái này vừa ảnh hưởng Hữu bộ vừa ảnh hưởng Hóa địa bộ.
Tổ sư của phái này, do bởi tên gọi, người ta đề nghi là Trưởng lão Dhammagupta. Theo học giả Suzuki, vị trưởng lão này người Hy Lạp nên người ta gọi là Yonakadhammarakkhita (Yonaka là chỉ dân Hy Lạp), chính là đệ tử của trưởng lão Moggallīputta Tissa, cử đi hoằng pháp tại xứ Aparanta (Bombay ngày nay).
Cũng bởi nghĩa của tên: Dhammarakkhita hay Dharmagupta – đều có nghĩa là “giữ gìn Pháp, hộ trì Pháp” – mà các tư liệu còn tồn nghi là tên của một vài vị nổi danh vào thế kỷ 5, 6 hay 7... khá phức tạp. Và ngay thầy của ngài, Trưởng lão Moggallīputta Tissa, chủ tọa kết tập Phật ngôn lần thứ III, mà một vài học giả lại lầm với ngài Moggallāna thời đức Phật; rồi bảo là vì vậy mà phái này chú trọng pháp thuật!
Pháp tạng bộ ban đầu chỉ có ba Tạng, sau họ phát triển dần thành 5 Tạng: Kinh, Luật, Abhidhamma, Đà-la-ni Tạng và Bồ-tát tạng. Sau này, Mật tông ảnh hưởng Đà-la-ni tạng; và lý tưởng Bồ-tát của Đại thừa ảnh hưởng Bồ-tát tạng của phái này.
Căn cứ địa của Pháp tạng bộ có thể là vùng Khương Cư (Sogdian), An Tức (Parthia) và Kế Tân (Kashmire).
8. Mật lâm sơn bộ (Sannagarikavāda)
Nhiều học giả cho rằng phái này được đi ra từ Độc tử bộ, chuyên nghiên cứu Abhidhamma, cụ thể là Sāriputtabhidhamma (Thắng pháp Xá-lợi-phất) hay Dhammalakkhaṇabhidhamma (Pháp tướng A-tì-đàm).
Dị bộ tông luận của Bắc truyền thì nói rằng, vì giải thích một câu kệ với lý nghĩa khác nhau mà Độc tử bộ phải phân chia thành 4 phái: Mật lâm sơn bộ, Chính lượng bộ, Hiền trụ bộ và Pháp thượng bộ.
Về tên của học phái, vì có chữ Sanna, Sanda (sâu, dày) và Giri (rừng, núi) nên người ta cho là họ ở ẩn trong rừng sâu, rừng rậm nên y cứ trú xứ mà đặt tên cho bộ phái.
9. Chính lượng bộ (Sammatīyavāda)
Học phái này cũng đi ra từ Độc tử bộ sau lần kết tập kinh điển lần III, cũng do sự tranh cãi từ một câu kệ mà ra.
Theo Thế Hữu (Vasumitra) và Khuy Cơ, câu kệ ấy tương ưng 4 quả vị và 6 hạng người sau đây:
- Hạng Dự Lưu: Đã giải thoát được các tham muốn liên hệ cõi dục.
- Hạng hướng đến quả vị thứ hai: Còn đi từ “gia tộc” này sang “gia tộc” khác – tức là sau quả Dự Lưu.
- Hạng thứ ba: Người đạt quả Nhất Lai.
- Hạng thứ tư: Chỉ người còn ở giai đoạn trung gian giữa Nhất Lai và Bất Lai.
- Hạng thứ năm: Không còn trở lại đời này nữa, gọi là Bất Lai.
- Hạng thứ sáu: A-la-hán.
Do người ta không đồng ý với nhau ở các hạng người và các cấp độ - nên họ phân thành 4 phái với 4 cách hiểu khác nhau.
Vào khoảng thế kỷ VII, phái này phát triển rực rỡ bởi có những pháp nghĩa rất sâu sắc.
Năm 423, lúc Phật Âm (Buddhaghosa) sang Tích Lan để dịch Tam Tạng chú giải ngôn ngữ Tích Lan sang Pāḷi thì tại Ấn Độ - Chính lượng bộ đang phát triển mạnh, đã lấn át tất cả các học phái khác – kể cả Độc tử bộ (phái mẹ) và Hữu bộ (phái chiếm ưu thế nhiều thời đại).
Huyền Tráng bảo rằng, các thung lũng lớn nhỏ thuộc lưu vực sông Hằng, họ có 12.000 tu sĩ sống trong 80 tu viện. Ở hạ lưu sông Hằng, họ có 5.000 tu sĩ sống trong 15 tu viện. Ở vùng Malava, họ có 20.000 tu sĩ sống trong 100 tu viện. Ở vùng Valabhi, họ có 6.000 tu sĩ sống trong 100 tu viện. Và tại đồng bằng sông Indus, họ có 20.000 tu sĩ sống trong 100 tu viện. Theo đúc kết của nhà du ký – thì nếu Tăng sĩ Ấn Độ có chừng 220.000 tu sĩ thì Chính lượng bộ đã chiếm hết 60.000.
Nghĩa Tịnh đến Ấn Độ sau đó cũng xác nhận là Chính lượng bộ rất mạnh, họ phát đạt nhất so với những học phái khác. Họ chiếm cứ Māgadha, miền đông Ấn, đông nhất là ở Lāta và Sindhu miền Tây Ấn. Ở Nam Ấn, họ có số lượng ít hơn; và không có mặt ở Tích Lan và Bắc Ấn. Họ còn chiếm ưu thế ở Champā.
Cũng theo Nghĩa Tịnh, ba Tạng giáo điển của Chính lượng bộ có khoảng 200.000 bài tụng. Do giáo nghĩa sâu sắc nên từ vua chúa, quí tộc, xứ nào, vùng nào cũng sùng mộ họ một cách đặc biệt. Chính lượng bộ có hai phái – gọi tên theo địa danh. Một phái thì mất dạng ở cuối thế kỷ thứ 7; một phái thì còn tồn tại đến thế kỷ 9 - 10, rồi dần dần bị ảnh hưởng bởi các học phái Đại thừa.
10. Hiền trụ bộ (Bhadrayaniyavāda)
Học phái này cũng đi ra từ Độc tử bộ. Họ cũng thọ trì Abhidhamma, thuộc nhóm trú xứ ở rừng sâu, có thể là vùng rừng núi Nasik và Kamheri ở Bombay.
Rất ít tư liệu nhắc đến bộ phái này vì có lẽ họ không được phát triển. Họ kiến giải câu kệ khác với những phái trên, ví dụ, hạng cuối họ cho là bậc Chánh Đẳng Giác.
11. Pháp thượng bộ (Dhammamotriyavāda)
Đây cũng là phái ẩn tu trong núi lớn, rừng rậm và cũng đi ra từ Độc tử bộ do bất đồng tri kiến tư một câu kệ (đã dẫn).
Tên học phái lấy tên của vị Trưởng lão sáng lập là Dhammamottara, nguyên là một luật sư uy tín.
Các tư liệu biết rất ít về học phái này, người ta thấy họ có mặt ở Karle và Soparaka, gần Bombay.
Tóm lại, như vậy là có 11 học phái được đi ra từ Trưởng lão bộ hay Thượng tọa bộ - nếu gọi cuộc kết tập Phật ngôn thứ III là của Thượng tọa bộ. Ta có thể biểu thị sự phân chia ấy thành họa đồ như sau (H.1):..
(Còn kỳ sau)
-------------
*𝐶ℎ𝑢́ 𝑇ℎ𝑖́𝑐ℎ:
(1)- Tạng Luật của Theravāda rất giống với Hóa địa bộ (Mahisasakavāda).
(2)- Đây là Trưởng lão bộ tại Ấn Độ mà người ta hay gộp chung với Thượng tọa bộ và lưu ý rằng, Trưởng lão bộ ở Ấn Độ đã bị đồng hóa hoặc bị xen tạp với các hệ phái khác.
(3)- Xem “ Các bộ phái Phật giáo tiểu thừa” của André Bareau - Pháp Hiển dịch - NXB Tôn giáo, năm 2003.
(4)- Có nơi kê khai có 6 Mã Minh cả thảy!
(5)- Nếu có tác phẩm này thì không phải là Mã Minh của Hữu bộ.
+++

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Giữ gìn chánh pháp-Dhammam posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Giữ gìn chánh pháp-Dhammam:

Share