Long Môn

Long Môn Toàn Chân Diễn Giáo Thiên Tôn

THÁNG TƯ KÍNH CHU LĂNGTháng Tư nhằm quẻ Bát Thuần Càn, đánh dấu thời điểm Dương khí đi đến tột cùng, chí Dương chí Cương...
26/05/2026

THÁNG TƯ KÍNH CHU LĂNG

Tháng Tư nhằm quẻ Bát Thuần Càn, đánh dấu thời điểm Dương khí đi đến tột cùng, chí Dương chí Cương. Lúc này, Dương khí nồng đậm, nhân đó, Tả phủ Hoả quan tại Đỗng Dương cung an lô lập đỉnh, nhóm lửa mà khai khởi tam muội chân hỏa tẩy đãng trần căn của tội hồn. Trong “Độ Nhân Kinh” có viết: “Nam Diêm đỗng phù, Ngọc Mâu sân sân”. Nam Diêm là đình chứa lửa cũng chính là Đỗng Dương Cung nhằm tẩy luyện, luyện độ vong linh do Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn nắm giữ pháp hỏa.

Tháng Tư theo hành trì cổ lão của Đạo giáo, đạo quán thường tụng Độ Nhân Kinh. Bởi lẽ trước đó, các Tổ cho rằng tháng Ba Thanh Minh, lại kính Đông Nhạc, đã tống vong linh lên Đỗng Dương Cung, qua tháng Tư liền tụng Độ Nhân Kinh, hồi hướng cho chúng hòng hưởng phúc tẩy luyện đăng chân. Việc siêu độ của tháng Ba nối tiếp qua việc siêu độ của tháng Tư. Tụng Độ Nhân Kinh cũng như đang thêm củi vào hoả lò để tiếp sức luyện độ u hồn, đồng sinh vinh giới.

Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn hay còn gọi Ninh Phong Chân Quân, Ngũ Nhạc Trượng Nhân, Cửu Thiên Thanh Thành Khả Hàn Trượng Nhân, Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn hay Nam Cực Chu Lăng Đan Thiên Thượng Đế. Nơi “Hoàng Lục Trai Vận” nhắc lại điển cố Trương Lệ Hoa phạm tội nơi Trượng Nhân Quán núi Thanh Thành, không đâu khác, ngôi cổ quán đó chính là nơi tôn kính đặc biệt Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn.

Khả Hàn Trượng Nhân cư tại Nam Xương Cung, Lệ Nguyên Thượng Phủ, là vị chủ tể của việc đào hồn chú phách, luyện độ vong linh. Ngài cùng Cao Thượng Thần Tiêu Ngọc Thanh Chân Vương Trường Sinh Đại Đế, Đông Cực Thanh Hoa Đại Đế Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Cửu Thiên Ứng Nguyên Lôi Thanh Phổ Hóa Thiên Tôn, Cửu Thiên Lôi Tổ Đại Đế Trừ Tai Lợi Vật Thiên Tôn, Thượng Thanh Tử Vi Bích Ngọc Cung Thái Ất Đại Thiên Đế, Lục Thiên Đỗng Uyên Đại Đế, Lục Ba Thiên Chủ Đế Quân, Cửu Thiên Thải Phỏng Chân Quân hợp xưng Thần Tiêu Cửu Thần. Cửu Tiêu do Nguyên Thủy Cửu Khí hóa sinh, nắm giữ tạo hóa xu ki, chủ tể vạn linh quần phẩm.

Trong “Tam Nguyên Phẩm Giới Kinh” viết: “Chu Lăng Nam Cung, độ nhân chi cách, hữu tam đẳng, phân tam niên, cửu niên, nhị thập tứ niên, giai canh sinh hạ giới vi quý nhân, tạ kỳ tiên duyên, sinh nhi năng hảo học, bất tất tái kinh sinh tử, tiện đắc thần tiên”. Chu Lăng Nam Cung, có quy cách về việc độ nhân, phân ra làm 3 đẳng: 3 năm, 9 năm, 24 năm, có thể canh sinh nơi hạ giới thành quý nhân. Nếu siêng năng học hỏi tu trì, có thể đắc đạo thần tiên. Nam Cung ở đây tức Nam Thượng Chu Cung, Xích Đế Luyện Độ Hồn Sảng Cung. Nam Cung, hay Nam Xương hay Cách Tân Hồn Hỏa Phủ Cung, là danh xưng chỉ nơi luyện độ.

Nam Xương cung có Thượng cung và Hạ cung. Hạ cung là nơi tu chân đắc đạo đến tẩy trần cấu, Thượng cung là chốn vong hồn đến luyện độ canh sinh. Sau khi siêu độ, vong hồn đến nơi Nam Cung, nghĩa là hồn phách đến đó để luyện độ canh sinh, đầu thai chuyển thế. Một số truyền thống cho rằng sau khi đến Nam Cung thụ độ, vong hồn đi đầu thai, nếu kẻ nào tùy công quá tội phúc và quá trình tu học, diễm phúc đắc sinh vào Tiên Tử Đạo, thời sẽ đến Đông Cực Trường Lạc Giới, Cứu Khổ Môn Đình của Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn vậy.

Linh Bảo Đại Trai Bí Pháp đề cập đến Cửu Luyện, trong đó có nhắc đến Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn, là một trong Cửu Luyện Thiên Tôn. Cụ thể ở đệ thất luyện, chúng hồn phủ phục trước Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn, xin giáng Cửu Thiên Chân Khí mà quán luyện vong hồn. Nhân đó, u linh vong hồn được thấy Thiên Tôn phóng Ngũ Sắc Quang Minh, trên chiếu chư thiên, hạ thấu chư địa. Kế, Thiên Tôn giáng Thương Sắc Hoàng Diễn Khí, kết Càn quyết, niệm Sinh Thần Chương, quán luyện vong hồn.

Tháng Tư này, kính mong đạo chúng thường niệm danh hiệu "Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn”, “Đan Tiêu Bảo Cáo", "Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn", “Thanh Hoa Bảo Cáo, kì nguyện tiền nhân tông tổ chi tiên linh, nhất thiết nam nữ cô hồn, vĩnh ly tam đồ ngũ khổ, vĩnh sinh vinh giới.

“Vong hồn,
Vong hồn;
Trắc nhĩ diêu văn;
Đông phó Bồng Lai đảo;
Nam hướng Chu Lăng cung;
Tây toái Kim Cương địa;
Bắc miễn Hàn Băng khổ;
Tòng thử truy tiến hậu;
Cử bộ Thượng Nam cung;
Ngưỡng bằng đạo lực;
Vi thượng lương nhân”

Chu Lăng Bảo Cáo: Cao Thượng Đan Tiêu, Lệ Nguyên Thượng phủ. Chu Cung giáng khuyết, dục thần quang vu Hạo kiếp chi gia; Bảo châu khiên lâm, hiện thụy tướng vu Thái Thanh chi cảnh. Vận đại hóa từ bi chi tạo, giáng chân tinh thác dược chi cơ. Tước tử thượng sinh, quảng thiên địa nhất nguyên chi đức; đào hồn chú phách, hồi u linh vạn loại chi sinh. Hoán phát dương minh, phổ sơ âm cảnh. Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ. Cửu Thiên Thanh Thành Khả Hàn Trượng Nhân, Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn.

CHÚC HƯƠNG THẦN CHÚ - BÌNH GIẢNGChúc Hương Chú là một trong “Bát Đại Thần Chú”, trích xuất từ Tảo Vãn Đàn Công Khoá Kinh...
25/05/2026

CHÚC HƯƠNG THẦN CHÚ - BÌNH GIẢNG

Chúc Hương Chú là một trong “Bát Đại Thần Chú”, trích xuất từ Tảo Vãn Đàn Công Khoá Kinh của truyền thống Chính Nhất lẫn Toàn Chân. Bản chú được trình thuật theo thể bốn chữ tám câu, ngắn gọn xúc tích, nhưng lại bao chứa nhiều tầng nghĩa trong việc học Đạo - cầu Tiên. Chú viết: “Đạo do Tâm học, Tâm giả hương truyền; Hương phần Ngọc lô, Tâm tồn Đế tiền; Chân linh hạ phán, Tiên bái lâm hiên; Lệnh thần quan cáo, kính đạt Cửu thiên”.

Trước tiên nói về hương - một thành tố tất yếu trong các khoa sự Đạo giáo. Đạo Kinh có chép: “Cửu thiên chi thượng, duy Đạo độc tôn; Vạn pháp chi trung, phần hương vi tiên” - Trên chín tầng trời, có Đấng Đạo là độc nhất; Giữa muôn vạn pháp, đốt hương là lẽ tất tiên. Một khoa sự, nếu thiếu đi việc niêm hương, thời không thể được xem là thành toàn. Phần Phục dĩ văn của một số khoa nghi có tán thán hương rằng: “Hương thông tam giới chi trung, yên thấu cửu tiêu chi thượng, hương đạt vạn thánh đại la thiên, hương cách thiên chân tử phủ tiên, hương mãn hư không ngưng thụy ải, hương đằng đế tọa tán tường yên”. Hương ấy thông khắp tam giới; đạt đến Cửu Tiêu, thấu tận Đại la thiên, thoang thoảng Tử phủ, mãn khắp hư không, gặp đế tọa thì tán tác tường yên. Một lô nghi ngút, vạn chân đã tỏ xét vậy! Theo lẽ này, hương không chỉ là nghi thức, mà đích thị con đường giao cảm, nối kết giữa phàm và Thánh; giữa thế nhân cùng Đại Đạo.

“Đạo do Tâm học; Tâm giả hương truyền”: Trong Thanh Tĩnh Kinh, Lão Quân nói Đại Đạo “vô hình, vô tình, vô danh”, vậy mà có thể “sinh dục thiên địa, vận hành nhật nguyệt, trường dưỡng vạn vật”. Bản thể Đạo là hư rỗng theo kiểu “nhìn chẳng thấy”, “lóng chẳng thể nghe”, “tay chẳng thể sờ” - nghĩa là chẳng đặng dùng tri giác của nhận thức mà soi xét đến cứu cánh. Duy có “Tâm” là điều có thể cảm ứng những điều mầu nhiệm vượt ngoài nhận thức; cũng từ Tâm này là thụ nhận được trí tuệ vượt ngoài trí tuệ. Lữ Tổ nói: “Trời sinh muôn vật, có người là giống tôi linh. Chẳng phải vì người linh, thời do Tâm linh ứng mà nên vậy”. Toạ Vong Luận cũng viết: “Tâm là chủ một thân, là thầy của trăm vị thần; tĩnh thì sinh trí tuệ, động thì thành mê muội”; lại nói: “Sự diệu dụng của thần minh không có phương hướng cố định, thể của Tâm cũng như vậy, suy nguyên cái thể của Tâm, vốn lấy Đạo làm gốc”. Có thể nói, bản Tâm - Đạo Tâm - Tâm tĩnh lặng/chẳng phân chia - chính là thụ bẩm từ Đạo nên tương thông mật thiết, sống động với Đạo. Cho nên học lấy Chân Đạo, ngoài cậy phương tiện, trong dưỡng chân Tâm; ngoài nương thuật pháp, trong kết nối với bản nguyên. Thế mới gọi “Đạo do Tâm học”, học Đạo là khởi đi từ Tâm mình!

Nhưng Tâm người vuông tròn đầy khuyết thế nào, đâu phải lấy ngôn từ mà miêu tả. Cho nên xưa nay lịch đại Tổ sư vẫn nối truyền các pháp môn để biểu thị Tâm mình. Có lễ Đẩu để quy Tâm về một mối - “tri thân tính mệnh, giai bằng Đạo sinh”; có Tam Nguyên Ngũ Lạp để đốc thúc Thân Tâm tu trì, chớ để rơi vào tình cảnh “Tam Nguyên Ngũ Lạp vô tế tự; Tứ thời Bát tiết thiếu truy tu”; có Ngọc Xu Đại Giáo Nhị Thập Ngũ Chương để dốc lòng thành tín, tĩnh mặc, ôn nhu… Hoặc như “Hoàng Kinh Tập Chú” nói về pháp cung dưỡng: “Cao xanh lấy thanh tĩnh diệu pháp làm của ăn, nơi trời vật thực nhiệm mầu, nghĩ đến Đạo thời nghĩ đến việc cung kính”. Lẽ đốt hương cũng vậy! Đốt hương biểu trưng cho Hoả; Ngũ hành ứng Ngũ tạng biểu đạt cho Tâm. Lửa ấy một khi dấy lên, hương kia một lúc ngút khói; cũng chính là lúc đưa những ý nguyện sâu thẳm nơi thế nhân mà tường trình lên Từ nhan Đại Đạo. Nơi ấy, những khẩn nguyện nhỏ bé được cất vang; những tiếng thầm kín được Ngài rủ ân che chở vỗ về.

“Hương phần ngọc lô; Tâm tồn Đế tiền”: Ngọc lô - ý nói lô hương bằng ngọc, song há chỉ dừng lại ở vật chất phàm tình? Phải biết rằng phàm ngọc ấy, chính là thứ đá đã qua mài dũa của năm tháng cùng sức người mà trở nên giá trị, chẳng chứa tì vết. Cho nên, ngọc lô còn biểu trưng cho sự thanh tĩnh chẳng pha vọng niệm, chẳng nhiễm uế tạp nơi Thân-Tâm-Ý kẻ tu trì. Khi đốt chính chân hương kết tinh từ Thân-Tâm-Ý thanh bạch ấy, những Tâm nguyện cũng được dâng kính lên tận Đấng Trời. Hơn nữa, Tâm cũng chính là một “của lễ” đặc biệt để dâng tiến trước bệ ngọc ngai vàng, bày tỏ sự cung kính tột bực của người tu học. Trong các bảo cáo, chẳng khi nào quên khởi đi bằng câu “Chí tâm quy mệnh lễ” - không phải là thành tín tột cùng, chẳng tự gột rửa canh tân nơi mình, sao gọi là “Chí tâm” đặng diện Thánh cầu Chân?

“Chân linh hạ phán; Tiên bái lâm hiên”: Thông qua lời khẩn thỉnh chân thành gửi gắm nơi khói hương nghi ngút, muôn vàn thánh chúng, chư vị tiên chân đều “下盼 - hạ phán - trông xuống”. Phàm những người ta ghét bỏ, có mấy khi đưa mắt nhìn họ? Lúc ghét bỏ, con người chỉ muốn loại nhau cho khuất tầm mắt để chẳng bao giờ gặp gỡ. Ở đây lại trái ngược, chư chân thánh chúng đưa ánh mắt trông xuống kẻ thiện tín để tử đang thủ thỉ lời nguyện với tâm thế mong ngóng. Bởi lẽ, bản Tâm kẻ ấy chưa từng thôi toả quang minh, nhưng giữa mây đen vần vũ của dục lạc, lại bị che khuất mà trở nên u tối mê lầm. Chư tiên thánh chúng ngóng trông rằng một ngày kia, kẻ hành Đạo sẽ được ân phúc chiêm hưởng Đại La Thiên Quốc, được trở về ngôi vị tiên ban mà Đại Đạo ước định từ muôn đời. Để được ân phúc đó, không đâu khác là thông qua các pháp môn mà dục lòng quy kính Đại Đạo, đầu hướng Bản Nguyên. Và trên hành trình quy hướng ấy, cũng được ân phúc thần tiên giáng lâm mà thủ hộ, che chở cho pháp đàn; khiến cho kẻ hành trì bên ngoài cảm ứng, bên trong quy nhất. Từ đó, Phàm-Thánh câu thông; Thiên-Nhân dung hoà.

“Lệnh thần quan cáo; Kính đạt Cửu Thiên”: Đối với đệ tử chưa xuất gia, chưa trở thành đạo sĩ, tại đây đổi “lệnh thần” thành “đệ tử” cho phù hợp với bối phận của mình. Song, với hàng đạo sĩ, xưng “thần” với Đại Đạo vừa là một nghĩa vụ, bổn phận và vừa là một vinh quang ân điển thường được chú rót. Kẻ ấy, biết mình là phận thần tử thường cúc cung tận tuỵ quy hướng Đại Tạo; kẻ ấy, nương cậy vào pháp mạch Tổ truyền mà được thi hành huyền khoa, lập phúc điền cho cả thảy quần sinh. Cho nên, ân phúc đắc Đạo không phải là “trở thành Đạo” hay “siêu việt hơn Đạo”; đó là ân phúc được gần gũi bệ ngọc ngai vàng, được xưng thần và được tương thông một cách trọn vẹn trong chính Đại Hoá. “Kính - 逕” ngoài nghĩa thẳng tắp, còn là đường tắt. Khi nay, “thần tử” của ngài bẩm tấu tiến trình lời ý nguyện, từ đó nguyện cho lời này mà đạt thẳng cửu trùng thiên, dâng lên Đấng Đạo những gì mà chúng đệ tử có - là Thân-Tâm-Ý, là của lễ và tất cả những lời ca tụng. Đồng thời, lời chú cũng nhắc nhở rằng, kinh văn chính là con đường tắt để phục mệnh quy Nguyên, nương tựa những thời thủ thỉ của Đạo mà triêm ân đắc Đạo.

Đạo Kinh nói: “Chân Tâm thanh tĩnh Đạo vi tông”, ấy chẳng phải nói lẽ Đạo thường hằng nhiệm mầu kia từ Tâm thanh tĩnh mà sinh. Đích thị là từ sự thanh tĩnh nơi Tâm mà ngộ được Chân Thường, đắc nhập diệu lý. Việc đốt hương, suy cho cùng cũng là khởi nhất niệm chân thành nơi tâm khảm mà nên thành tựu; không đi từ một chân Tâm thanh tĩnh, khó lòng lay cảm trời cao. Thành ra mượn lời Tư Mã Thừa Trinh để kết lại vậy: “Tâm thức điên đảo ngu si, thực sự là do nơi nó nương tựa và bám chấp. Vả lại, chọn xóm láng giềng mà ở còn có thể thay đổi được phẩm hạnh, chọn bạn mà chơi còn mang lại ích lợi. Huống chi thân muốn lìa khỏi cõi sinh tử, tâm muốn ở trong cõi Chí Đạo, sao lại không bỏ được cảnh trần? Sao lại không đạt được Đạo? Cho nên lúc mới học Đạo, cốt yếu phải ngồi yên, thu tâm lìa khỏi ngoại cảnh. Trụ ở chỗ không có gì cả (vô sở hữu), không bám chấp vào một vật nào, tự đi vào cõi hư vô, tâm bèn hợp với Đạo. Nên kinh nói: "Trong cõi Chí Đạo, vắng lặng không có vật gì." Sự diệu dụng của thần minh không có phương hướng cố định, thể của tâm cũng như vậy, suy nguyên cái thể của tâm, vốn lấy Đạo làm gốc. Chỉ vì tâm thần bị ô nhiễm, bị che lấp dần dần sâu thêm, trôi dạt ngày càng lâu, nên mới bị cách biệt với Đạo. Nay nếu có thể trừ sạch bụi bẩn của tâm, mở trói cho bản tính của thần, thì gọi là "Tu đạo". Không còn trôi dạt, âm thầm hợp nhất với Đạo, an trú trong Đạo, thì gọi là "Quy căn" (Trở về cội rễ). Giữ cội rễ không lìa xa, thì gọi là "Tĩnh định". Tĩnh định ngày càng lâu, bệnh tật tiêu trừ, sinh mệnh phục hồi; phục hồi rồi lại tiếp nối, tự khắc đắc được lẽ "Tri thường" (Biết đạo thường hằng). Đã biết thì không gì là không sáng tỏ, đã thường hằng thì mãi mãi không biến diệt. Vượt ra khỏi sinh tử, thực sự là nhờ ở chỗ này”.

THÀNH HOÀNG CẢM ỨNGTrong tín ngưỡng Á Đông, tín ngưỡng Thành Hoàng không chỉ là một niềm tin thuần tuý mà phản ánh sâu s...
24/05/2026

THÀNH HOÀNG CẢM ỨNG

Trong tín ngưỡng Á Đông, tín ngưỡng Thành Hoàng không chỉ là một niềm tin thuần tuý mà phản ánh sâu sắc những ước vọng của con người. “Thành” trong chiết tự chữ Hán, được hiểu là tường thành, bức tường phòng vệ; “Hoàng” nghĩa là hào nước, con hào bao quanh thành. Vốn dĩ, sự tôn thờ tín ngưỡng Thành Hoàng khởi đi là từ chính đời sống con người, ngưỡng vọng về vị tôn thần có sứ mệnh bảo hộ thành trì, che chở cư dân khỏi những tai ách, binh biến. Tín ngưỡng này đã được dung hợp vào các nền tôn giáo lớn, trong đó có Đạo giáo, mang màu sắc của vị tôn thần liên quan đến thế giới người chết và cả cõi sống.

Đối với Đạo giáo, thần uy của Thành Hoàng được đề cập một cách rõ nét trong “Thái Thượng Lão Quân Thuyết Thành Hoàng Cảm Ứng Tiêu Tai Tập Phúc Diệu Kinh”. Bản kinh này được phỏng đoán được biên soạn sau năm Hồng Vũ thứ chín đời Minh (1376), bởi trong nội dung đề cập “Thiên Hạ Thập Tam Bố Chính Thành Hoàng”, chức sự này do triều đình nhà Minh thiết lập mười ba bố chính sứ ty vào thời điểm ấy. Kinh văn do Thái Thượng Lão Quân diễn thuyết, cho rằng vận mệnh của chúng sinh trong thế gian đều do thần Thành Hoàng nắm giữ; thần Thành Hoàng “công minh, trung trực, chính trực, có cầu tất ứng, theo sát như bóng với hình”. Người đời nếu có thể thành tâm tụng đọc kinh văn, lễ bái các vị Thành Hoàng, thì có thể tiêu trừ tai họa, xóa bỏ tội lỗi. Cuối kinh kèm theo hai mươi sáu câu kệ bốn chữ, đồng thời có Chân cáo Thành Hoàng.

Cụ thể, bản kinh thuật việc Thái Thượng Lão Quân Đạo Đức Thiên Tôn trong cung Thất Bảo trên cõi Đại La, hội tụ chư thiên chư địa, nhật nguyệt tinh tú cùng quan thuộc tam giới, rộng diễn đạo Đại Đạo Huyền Nguyên Vô Thượng Chí Chân. Lúc ấy có vị Quảng Huệ Chân Nhân tâu lên Thiên Tôn rằng: “Thần trộm thấy hết thảy chúng sinh nơi thế gian đều chịu nhiều khổ não, cúi mong lòng trời từ bi thương xót, mở lượng khoan dung”. Lão Quân lúc này đáp, giải thích căn do khổ đau: “Chúng sinh ấy tạo đủ các ác nghiệp, chìm đắm trong biển khổ luân hồi; gian tham buông thả, mặc tình làm bậy; bất hiếu bất trung, bất nhân bất nghĩa; không kính Tam Bảo, không lễ thần minh; đong thiếu cân gian, giày xéo ngũ cốc; oán trời oán đất, trách mưa trách gió; hủy báng chính đạo, ác khẩu hại người; tà dâm trộm cắp, sát hại sinh linh, nên chuốc lấy tội lỗi, vĩnh viễn mất thân người”. Qua lời khẩn thỉnh của Quảng Huệ Chân Nhân, Thiên Tôn chỉ ra rằng người sinh hạ giới, mọi việc đều do Thành Hoàng tấu trình, tụng trì kinh điển, có thể tiêu trừ tội nghiệp, an hưởng thái bình.

Đề cập về Thành Hoàng rằng: “Thần ấy tinh hoa trời đất hội tụ, khí thiêng sông núi hun đúc; oai linh hiển hách, thánh đạo cao minh; không bè phái thiên lệch, công trung chính trực; có cầu tất ứng, theo sát như bóng với hình; thay Trời trị vật, trừ ác diệt hung; hộ quốc bảo bang, công đức vô cùng; mưa móc lành ban khắp, cứu giúp sinh dân; thống lĩnh mười tám Chân ty, quản lãnh trăm vạn thần tướng; tích công lũy hạnh, giữ ngôi Thành Hoàng; quyền cai quản thiên hạ, oai trấn muôn bang”.

Có thể thấy, hình tượng Thành Hoàng trong Đạo giáo là vị công trung, chính trực, gắn liền với đời sống sinh dân qua việc tấu trình các sự việc nhân thế, cũng như cứu giúp sinh dân. Điều này tương đồng với truyền thống khảo hiệu. Cụ thể, Đạo giáo tín nhận trong mười ngày theo vòng Thiên Can, mỗi ngày đều có Thành Hoàng ghi chép sự vụ, đến ngày Mậu lại chuyển cho Ngũ Nhạc Đại Đế, sau đó là Tam Quan Đại Đế, để tiến hành quá trình khảo hiệu. Ngoài ra, các vị Thành Hoàng cũng được chia theo đơn vị hành chính: Đô Thành Hoàng quảng các vị thuộc cấp, lại có Thành Hoàng của mười ba Bố Chính Sứ Ty, phủ, châu, huyện…

Trong khoa sự độ vong linh của truyền thống Toàn Chân đạo, cụ thể là Toàn Chân Thanh Huyền Thiết Quán Thí Thực Khoa Nghi, có nghi thức phát Thành Hoàng điệp. Việc phát Thành Hoàng điệp văn nhằm thông cáo đến các vị bản cảnh Thành Hoàng, cũng như các vị Thổ Địa rằng ngay tại địa phương, tại chính pháp đàn hiện tại tổ chức pháp sự, ngưỡng mong các vị chỉ huy các thần giám sát khu vực, cho phép vong hồn đến nơi kinh đàn, nghe được kinh pháp mà siêu thăng. Điều này cũng nhấn mạnh một uy quyền quan trọng của Thành Hoàng, đó là hỗ trợ các việc liên quan đến người đã khuất, đảm bảo rằng họ có thể thuận lợi đến dự pháp đàn siêu độ.

Có thể nói, Thành Hoàng là vị “chưởng Âm phủ vãng kiếp chi sự; phán Dương gian thiện ác chi thần” - chưởng quản sự vụ nơi Âm phủ từ muôn kiếp; phán quyết thiện ác nơi Dương gian. Sự tồn tại bền vững của niềm tin về Thành Hoàng trong một xã hội hiện đại là một minh chứng cho tính linh hoạt của tín ngưỡng. Sức sống này được lý giải bởi sự dung hòa khéo léo giữa tính chất quan phương (được thể chế hóa) và dân gian (gần gũi với bách tính). Thành Hoàng không chỉ là một vị thần trong tín ngưỡng, mà còn là một di sản văn hóa và ý thức hệ vẫn tiếp tục có ý nghĩa sâu sắc trong xã hội hiện đại. Tín ngưỡng Thành Hoàng, với bản chất là sự phản chiếu của thiết chế hành chính cõi Dương thế, là lời khẳng định bất diệt về nhu cầu sâu xa của con người đối với trật tự, công lý và một sự quản trị toàn diện, dù là ở cõi Dương hay cõi Âm.

Thành Hoàng bảo cáo: Chí tâm quy mệnh lễ; Xã tắc cổ công, thiên hạ chính thần; thuyên phúc quốc hiển trung chi hành, bẩm thưởng thiện phạt ác chi nhân. Đô ấp chi chủ, chư quận thị tòng, sở lệ thập tam bố chính, án phán nhất thập bát ti. Miếu xã vạn niên, ân phù ức kiếp, thiết tác phúc tác uy chi bính, tạo chú sinh chú tử chi quyền. Vận thần lực dĩ hộ dĩnh xuyên, ngộ âm binh nhi khu di khấu, chí linh chí thánh, nãi chính nãi công. Hộ Quốc Bảo Ninh Hữu Thánh Vương Uy Linh Công Cảm Ứng Tôn Thần.

CHÍNH DƯƠNG CHÂN NHÂNXét theo “Lư Sơn Kim Tuyền Quán Ký” có ghi lại rằng: Tằng tổ tên huý là Phác, tổ phụ tên huý Thủ Đạ...
22/05/2026

CHÍNH DƯƠNG CHÂN NHÂN

Xét theo “Lư Sơn Kim Tuyền Quán Ký” có ghi lại rằng: Tằng tổ tên huý là Phác, tổ phụ tên huý Thủ Đạo, phụ thân tên huý là Nguyên. Vào thuở mạt Hậu Hán, đều giữ vị trí then chốt, có công với quốc gia, đời đời nối nghiệp quan lại. Tiên sinh huý Quyền, tự Vân Phòng, hiệu Chính Dương Tử, người đất Hàm Dương thuộc Kinh Triệu. Thuở nhỏ, Chung Ly Quyền giỏi văn chương, ưa thích lối thảo thư, thân cao tám thước bảy tấc, râu dài qua rốn, mắt ánh thần quan. Tiên sinh từng làm chức Tả Gián Nghị Đại Phu, bởi dâng biểu chỉ trích việc biên sự của Lý Kiên là không phù hợp, nên bị hiềm khích mà giáng chức làm tri quân Nam Khang.

Sau đời Hán mất, tiên sinh ra làm quan cho nhà Tấn. Đến đời Vũ Đế, cùng phó tướng Chu Xử đảm nhận binh sự, nhiều lần xuất chinh dẹp loạn, chiến công hiển hách. Song, một thuở bại trận, phải chạy lạc vào núi rừng hoang vu, chẳng rõ đi về đâu. Tình cờ gặp một nhóm đạo sĩ, hỏi nhưng họ không đáp, chỉ giơ tay chỉ về hướng đông nam. Ông liền vội đi theo. Đi được sáu bảy dặm, thấy núi non hiểm trở, tùng bách ngô đồng chen chúc, giữa chốn đó có lầu gác lộng lẫy kim bích chói lọi, hai đồng tử áo xanh đứng trước cửa, bèn chắp tay hỏi: “Đây là chốn nào?”. Họ đáp: “Đây là nơi ở của Tử Phủ Thiếu Dương Quân, nơi biệt nghiệp của Đông Hoa Đế Quân, sư phụ ta chờ tướng quân ở đây đã lâu”. Hai đồng tử mời tiên sinh vào quán, bái kiến Đế Quân. Vừa cười nói hỏi thăm, đồng tử khác bước vào báo có tiên khách đến. Chung Ly Quyền lánh mặt đi, Đế Quân ra nghênh đón ba vị tiên khách.

Chung Ly nhìn qua song cửa thấy: một vị tiên nhân thân cao tám thước, mặc áo xanh, thắt đai lụa, mang giày cỏ, đội mũ vân, mắt sáng như điện, thần thái đường đường. Vị tiếp theo mặc áo bào trắng tay áo rộng, cổ áo buộc sau gáy, ngang lưng đeo cây sáo sắt. Vị cuối dáng mạo vĩ đại, mặc áo đỏ thẫm, đầu đội khăn Hoa Dương, cưỡi hổ lông xanh, tay cầm cây trượng. Đế Quân mời cả ba vào biệt quán, cùng cười nói, tiếng vui vẻ nhộn nhịp. Người áo xanh nói: “多少紅塵客,何由到此來,洞門無鎖鑰,今日為誰開。” – Khách trần bao kẻ tới đây; Cửa then không khoá mở này vì ai?. Chúng tiên đều cười, nói: “Xưa là bậc tướng quân, nay gặp bậc đạt Đạo”, lại rằng: “Hà cớ gì tráng sĩ vào nơi trang nhã?”. Tiên đeo sáo sắt rằng: “紫府少陽家,龍樓靄瑞霞,滿斟千日酒,常阮四時花。” – Nơi Thiếu Dương Tử Phủ; Lầu rồng ánh mây sa; Rượu nghìn ngày rót đủ; Hoa bốn thuở chan hoà. Tiên cưỡi hổ rằng: “親指蓬萊路,何須更問津。神仙知有分,幸矣拜高真。” – Tay chỉ đường tiên Bồng đảo xa; Hỏi chi thêm bận, khổ lòng ta; Thần tiên đã biết duyên tiền định; May được ngưỡng vọng bái Tiên gia. Đế Quân bèn đáp: “偉矣青雲器,相逢一解顏。丹臺元有籍,聊謫在人間。” – Vang vọng mây xanh chí cả ngàn; Tương phùng rạng rỡ nét dung nhan; Tên xưa sổ ngọc còn lưu đó; Tạm lánh thiên cung xuống thế gian.

Chư tiên sau khi chuyện trò đối ẩm, bèn hồi cung khuyết. Đế Quân tiễn đưa, mỗi vị cưỡi loan phượng, nhẹ nhàng ẩn sau mây tường. Ngài bèn quay lại, cùng Chung Ly Quyền đàm đạo huyền lý, tình cảm thâm mật, còn hơn bạn cũ. Liền truyền dạy cho ông Xích phù ngọc triện, kim khoa linh văn, bí quyết luyện đại đan, chu thiên hỏa hầu, thanh long kiếm pháp. Chung Ly Quyền nghiêm kính tiếp nhận, vừa nghe đã ngộ, nghe một hiểu ngàn. Khi đã lĩnh hội huyền diệu, tiên sinh cáo từ xuống núi, búi tóc, mặc vải thô, tích đức cứu người, điều thần luyện khí, biến hóa vô thường. Đến năm Khai Thành thời Đường Văn Tông, nhân du ngoạn Lư Sơn, gặp Lữ Động Tân, truyền cho ông Thiên Độn kiếm pháp, từ đó tự xưng là Thiên hạ đô tán hán (người tản cư khắp thiên hạ). Sau này ẩn cư ở núi Dương Giác đất Tấn, được Thiên Chân ban hiệu là Cực Tả Cung Bảo Sinh Chân Nhân.

Đại Đạo vốn không lời, không hình, nhưng trong vô thanh vô tướng ấy lại ẩn chứa sự chỉ dẫn nhiệm mầu. Khi con người lâm vào cảnh tối tăm, bế tắc, mất phương hướng, chính lúc đó Đạo mở ra một lối đi - như ánh chỉ phương Đông dẫn Chung Ly Quyền đến nơi gặp Đế Quân, chuyển phàm tâm thành chân giác. Đại Đạo chẳng hề dẫn bằng cách cầm tay chỉ việc, song người hữu duyên lại được dẫn trong im lặng.

PHI PHAN ĐỘNG, PHI PHONG ĐỘNGTrong Đề cương thứ nhất của Thập Tứ Triệu Thỉnh (Toàn Chân Thí Thực Khoa Nghi) viết: “灵幡飘荡本...
21/05/2026

PHI PHAN ĐỘNG, PHI PHONG ĐỘNG

Trong Đề cương thứ nhất của Thập Tứ Triệu Thỉnh (Toàn Chân Thí Thực Khoa Nghi) viết: “灵幡飘荡本无风,风动幡飞瞬息中。幡若风来魂魄附,魂随幡引上南宫。冥冥始觉从前悟,悟了方知彻底空。要知灵幡端的处,灵幡便是主人公”. Linh phan phiêu đãng bản vô phong; Phong động phan phi thuấn tức trung; Phan nhược phong lai hồn phách phụ; Hồn tùy phan dẫn thượng Nam cung; Minh minh thủy giác tòng tiền ngộ; Ngộ liễu phương tri triệt để không; Yếu tri linh phan đoan đích xứ; Linh phan tiện thị chủ nhân công.

Bản văn nhắc nhiều về hình tượng “linh phan” - một pháp khí Đạo giáo thường được dùng trong các khoa nghi Âm sự. Linh phan (hay lá phướn) xuất hiện trong nhiều nền tôn giáo khác nhau, trong đó có cả Đạo giáo và Phật giáo. Trong bản văn này, linh phan này chỉ Thiên Thần Phan, là một bảo phan sử dụng trong hành trì Đạo giáo, trên có viết danh hiệu Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn cùng Thập Phương Cứu Khổ Thiên Tôn. “Thượng Thanh Linh Bảo Đại Pháp” nói: “Phàm khi kiến lập đại trai, phải noi theo nghi thức, dùng vải vàng chế Thiên Thần Bảo Phan, dùng vải đỏ chế Hồi Diệu Linh Phan, dùng vải xanh lục chế Thái Nhất Bảo Cáo Phan. Lại có những phan dùng cho siêu độ, đều nương vào huyền khoa mà chế lập, phất phơ trước đàn tiền, nương gió bay bổng, u hồn mười phương nhờ phan này, một niệm quy y có thể đại tội tùy gió mà tiêu diệt, địa phủ khai thái, tảo thăng Nam cung”.

Tuy nhiên, trạng thái “linh phan” ở đây được mô tả “phiêu đãng bản vô phong” - linh phan lay động vốn không do gió. Đây vốn là một điển cố xuất phát từ Thiền Tông Trung Hoa, gắn với tích Lục Tổ Huệ Năng. Điển tích này chính là một công án Thiền Tông nhằm phát dương hệ thống tư tưởng, lý luận Phật học Đại Thừa. Chuyện kể rằng ngài Huệ Năng nhớ lời Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn dặn, ẩn nương nơi Huyện Tứ Hội. Thấm thoát ngày tháng thoi đưa, mười lăm năm trôi nhanh như thổi. Ngài Huệ Năng bèn nghĩ: “Ta chẳng nên ẩn dật mãi, bây giờ đã đến lúc ta nên hoằng hóa Phật Pháp”. Ngài đi đến Chùa Pháp Tánh tại Quảng Châu, hôm ấy Ấn Tông Pháp Sư giảng Kinh Niết-Bàn. Tự nhiên có một luồng gió mạnh thổi động lá phan, mọi người đều thấy thế, một thầy Tăng nói:
- Gió động.
Một thầy Tăng khác nói:
- Phan động.
Hai thầy Tăng lời qua tiếng lại hoài chẳng dứt, thấy thế ngài Huệ Năng bước tới nói lớn lên rằng:
- Không phải gió động, cũng chẳng phải phan động, ấy là tâm của quý Thầy động mà thôi.
Mọi người nghe nói đều kinh ngạc, Ấn Tông Pháp Sư thấy vậy liền mời Ngài ngồi chỗ trên hết, và hỏi những nghĩa lý huyền ảo, đều được Ngài trả lời trôi chảy với ngôn ngữ giản dị, nghĩa lý thích hợp mà chẳng do văn tự.
Ấn Tông Pháp Sư nói:
- Hành giả hẳn chẳng phải là người thường, đã lâu tôi có nghe nói Y Bát của Ngũ Tổ đã truyền cho Lục Tổ về phương Nam, có phải về tay hành giả không?
Ngài trả lời tỏ ý khiêm nhường:
- Tôi không dám.
Có thể thấy, trong đề cương đầu tiên nhắc nhiều về linh phan, xoay quanh câu chuyện của Lục Tổ Huệ Năng của Phật giáo Thiền Tông. Ngoài ra, các câu thơ còn lại chỉ nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa của điển cố này, có thể kể đến như “Ngộ liễu tương tri triệt để không” - giác ngộ triệt để Không.

Liên quan câu chuyện “phan động”, “phong động”, có thể liên kết với việc “quán tâm” trong tư tưởng Đạo giáo. Khi nhắc đến tâm là nhắc đến sự phân chia sai biệt - tâm vọng động với những đặc tính gần gũi điều mình thích, xa lánh thứ bản thân ghét bỏ. Tựa như câu chuyện “phan động”, “phong động”, nếu tâm lựa chọn thiên hướng về bên nào, thì sẽ khu khiển tình chí, hành động tương thích với bên đó. Điều này dẫn đến các sự tranh chấp không ngừng vì cá nhân ai cũng cho rằng mình đúng và đang bảo vệ lý tưởng xác đáng của bản thân. Cách để chẳng rơi vào trạng thái tranh chấp đến hao tổn thần trí, trước hết phải nhận thức được bản tính dao động của tâm - giống như lời Huệ Năng Thiền sư nói - “Tâm động”, chính là đang nhắc nhở tâm có sự vọng động, loay hoay bám víu vào điều chính nó ưa thích.

Câu chuyện của Huệ Năng Thiền sư còn liên quan đến thuyết duyên khởi, tính Chân Như của vạn vật, làm sáng tỏ thêm thuyết Vô Ngã của Phật học. Song, trong tư tưởng Đạo giáo, chúng sinh sở hữu một bản ngã mang tên nguyên thần. Nguyên thần này được Đại Đạo tạo ban, là bất diệt và là duy nhất. Theo đó, qua các kiếp, chỉ có tình trạng (con người, súc sinh, ngạ quỷ…) là thay đổi, nguyên thần không thay đổi. Trường Sinh Diệu Kinh nói: “Thất nguyên chính lệnh, kết nhân nguyên thần” - Bắc Đẩu Thất Nguyên Quân thi hành thiên lệnh, kết tụ nguyên thần chúng sinh. Hay như trong Sinh Thần Chương Kinh, thuật về việc vạn vật khai sinh: “Cửu khí liệt chính, nhật nguyệt tinh tú, âm dương ngũ hành, nhân dân phẩm vật, tịnh thụ sinh thành. Thiên địa vạn hóa, tự phi tam nguyên sở dục, cửu khí sở đạo, mạc năng sinh dã” - Vạn vật sinh thành do Tam Nguyên nuôi nấng, thụ bẩm Âm-Dương, Ngũ hành… Nhưng đến đoạn kế “Nhân chi thụ sinh ô bào thai chi trung, tam nguyên dục dưỡng, cửu khí kết hình. Cố cửu nguyệt thần bố, khí mãn năng thanh, thanh thượng thần cụ, cửu thiên xưng khánh. Thái nhất chấp phù, đế quân phẩm mệnh, chủ lục lặc tịch, tư mệnh định toán, ngũ đế giam sinh, thánh mẫu vệ phòng, thiên thần địa chỉ tam giới bị thủ.” - người sinh làm bào thai, có các vị thiên thần thực hiện nhiệm vụ. Trong đó, Thái Nhất đóng vai trò phú nguyên thần vào trong, các vị Thánh Chân cùng tụng Sinh Thần Chương để chúng sinh được sinh ra. Theo đó, nhờ hạnh lực của Sinh Thần Chương - thần diệu của Tam Bảo Quân mà khi Thái Ất chú rót, vạn thần xướng tụng, nguyên thần nơi thân xác ấy liền đầy đủ. Có thể nói, điển cố “phan động, phong động” chỉ dừng lại ở việc quán tâm chứ không nhằm đánh đồng các học thuyết khác giữa hai nền tôn giáo - Đạo giáo và Phật giáo.

Đối với bản văn, “Linh phan phiêu đãng bản vô phong” - lá phướn bay bổng vốn không do gió. Một điều hiển nhiên rằng lá phướn này không phải đề cập đến cờ phướn Phật giáo, mà chính là phướn triệu thỉnh dùng trong khoa nghi Âm sự Đạo giáo. Có thể thấy, tác giả bản văn đã mượn lấy và nội hàm cả điển cố của Lục Tổ Huệ Năng trong một câu thơ ngắn gọn. Trước hết, tác giả mang điển cố này vào nhằm nhấn mạnh tính “thần thánh” của một lá linh phan. Phan này lay động chẳng phải do gió bình thường mà nên, bởi vốn là nơi các linh hồn bám víu khi được chiêu tập đến nơi đàn tràng và là khí cụ để dẫn dắt vong linh - “hồn tùy phan dẫn thượng Nam Cung” - hồn nương vào phan dẫn dắt lên Nam Cung.

Về bản chất, phan này chỉ là vải, là mực, làm sao có được diệu lực đưa hồn đến Nam Cung như vậy? Xin thưa: Phan này chỉ là hình tướng phương tiện. Đại Đạo Vô Vi cứu độ hằng hà sa số quần sinh nhưng chẳng thể hiện, tự nhiên như không làm gì. Muốn cho các giống hữu tình chúng sinh, giống loài hữu vi thấy được, trí tri được, phải mượn pháp phương tiện, khí cụ cụ thể để diễn giải ý nghĩa đó. Việc “thần thánh hóa” linh phan không phải khiến cho lá phướn này trở nên siêu việt, mà chính là hình tượng hóa ân điển Đại Đạo bằng chính lá phướn làm từ vải, viết nên từ mực kia.

Như đã biết, trên Thiên Thần Phan có ghi danh hiệu Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn cùng Thập Phương Linh Bảo Cứu Khổ Tôn. Theo đó, chân quang đại từ đại bi của Thiên Tôn hóa hiện, ánh chiếu lên phan, vong hồn nương theo quang minh từ phan mà đến phó đạo tràng. Cũng tựa vào ánh quang của Thiên Tôn, mà vong linh giác ngộ sắc thân này phi chân, sắc phan bản không, nhờ chân quang mà cảm ứng, nương chân phan mà dẫn đến nơi thiên đường diệu cảnh.

Linh phan phiêu đãng không phải do gió. Cờ phướn dao động ở đây chẳng phải gió thổi mà lay động, chẳng phải phiêu đãng trong gió mà động. Sự lay động chính là do vong hồn phó phụ vào linh phan, nương vào đây để phó đạo tràng và canh sinh thượng giới. Nếu “phan động, phong động” của Phật giáo nhấn mạnh tính vọng động của vọng tâm huyễn hoặc, thì ngay trong bản văn, “bản vô phong” nhấn mạnh vong hồn đã chết, chỉ là “hồn tùy phan dẫn” - một linh hồn nương vào phan mà được dẫn lối. Đồng thời, tất cả khát vọng chấp trước, tất cả các vọng tưởng sai biệt (như câu chuyện tranh cãi của hai vị Tăng) đều là hư vọng, linh phan không động, gió cũng không động, động chính là tâm chấp mê của kẻ đã chết. Điều kiện đầu tiên tiên quyết để được phúc siêu sinh là thừa nhận mình đã chết cùng sự hối cải. Một khi không thể buông xả chấp mê, nhất thời không thể đón nhận ân điển thụ độ canh sinh - “Minh minh thủy giác tòng tiền ngộ; Ngộ liễu phương tri triệt để không”.

Vong hồn trong bản văn được mô tả “tùy phan dẫn” ý chỉ u linh phải nhờ vào lá phướn này dẫn dắt, nhấn mạnh tính quan trọng của linh phan. Lại nữa, kết cùng nói “linh phan tiện thị chủ nhân công”. Không đâu khác, “chủ nhân công” chính là nhắc đến Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn. Có thể thấy, bản văn một lần nữa khẳng định phan này chính là Hồng ân của Cứu Khổ Thiên Tôn chú rót, là phương tiện để cứu độ vong hồn, dẫn dắt chúng đến Nam Cung. Vong hồn muốn đến được Nam Cung, tất yếu phải nhờ linh phan, mà phan này chính là do Cứu Khổ Thiên Tôn ban bố ân điển. Theo đó, điều khiến vong hồn được đến Nam Cung để thụ độ canh sinh là Hồng ân Đại Đạo, thể hiện qua hình tượng Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn.

Nam Cung được nhắc đến là Chu Lăng Nam Cung do Chu Lăng Độ Mệnh Thiên Tôn quản hạt. Trong “Tam Nguyên Phẩm Giới Kinh” viết: “Chu Lăng Nam Cung, độ nhân chi cách, hữu tam đẳng, phân tam niên, cửu niên, nhị thập tứ niên, giai canh sinh hạ giới vi quý nhân, tạ kỳ tiên duyên, sinh nhi năng hảo học, bất tất tái kinh sinh tử, tiện đắc thần tiên”. Chu Lăng Nam Cung, có quy cách về việc độ nhân, phân ra làm 3 đẳng: ba năm, chín năm, hai mươi bốn năm, có thể canh sinh nơi hạ giới thành quý nhân. Nếu siêng năng học hỏi tu trì, có thể đắc đạo thần tiên. Nam Cung có tên đầy đủ là Nam Thượng Chu Cung, Xích Đế Luyện Độ Hồn Sảng cung tại nơi Cách Tân Hồn Hỏa Phủ Cung, ám chỉ đến nơi luyện độ vong nhân. Một số truyền thống cho rằng sau khi đến Nam Cung thụ độ, vong hồn đi đầu thai, nếu kẻ nào tùy công quá tội phúc và quá trình tu học, diễm phúc đắc sinh vào Tiên Tử Đạo, thời sẽ đến Đông Cực Trường Lạc Giới, Cứu Khổ Môn Đình.

Có thể thấy, trong tư tưởng Đạo giáo, điển cố “phan động, phong động” được mượn lấy để thể hiện yếu tố: giác ngộ và tầm quan trọng của Thiên Thần Phan. Một mặt, tính giác ngộ nhắc nhở vong linh rằng họ đã chết, đã không còn sinh tâm cố chấp, bấu víu vào sinh mệnh sống, tựa như không còn vướng vào tranh luận “phan động” hay “phong động”. Mặt khác, Thiên Thần Phan quan trọng vì đó chính là Hồng ân Cứu Khổ Thiên Tôn chú rót một cách nhiệm mầu, chính đó là cầu pháp, bắc ngang qua ái hà khổ đau để chúng sinh đến với bờ Đại Đạo - được ân phúc thụ độ canh sinh.

Address

Ho Chi Minh City

Opening Hours

Monday 09:00 - 17:00
Tuesday 09:00 - 17:00
Wednesday 09:00 - 17:00
Thursday 09:00 - 17:00
Friday 09:00 - 17:00
Saturday 09:00 - 17:00
Sunday 09:00 - 17:00

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Long Môn posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share