Bắc Truyền Ca Sa Duệ

Bắc Truyền Ca Sa Duệ http://phuocchau.org/
Pháp phục PHƯỚC CHÂU - phát hành các mặt hàng y pháp phục Ph?

http://phuocchau.org/
Pháp phục PHƯỚC CHÂU - phát hành các mặt hàng y pháp phục Phật Giáo

BẮC TRUYỀN PHƯƠNG TIỆN TRANG NGHIÊM TĂNG PHỤCViệt Nam gọi áo tràng tay rộng của chư Tăng là Áo Hậu, vì có nghĩa là áo mặ...
16/03/2021

BẮC TRUYỀN PHƯƠNG TIỆN TRANG NGHIÊM TĂNG PHỤC

Việt Nam gọi áo tràng tay rộng của chư Tăng là Áo Hậu, vì có nghĩa là áo mặc ở trong rồi mới đắp Y bên ngoài. Thật ra áo Hậu của Tăng già Bắc Truyền có nguồn gốc từ “Tăng Kỳ Chi” của Tăng Y. Trong [Thích Thị Yếu Lãm] chép: “các vị Tăng xưa theo Luật chế, chỉ có Tăng Kỳ Chi (đây gọi áo che tay, còn gọi áo che nách), áo này dài che từ vai bên trái cho đến nách bên phải, nên thường gọi là áo trong của tam y vậy, đây là nghĩa của Thiên Trúc vậy. Trong [Ngụy Lục] ngài Trúc Đạo Tổ nói rằng: “Người trong Cung Ngụy thấy Tăng để trần một cánh tay vào cung cho như vậy là không được hay, bèn chế thêm Thiên Đãn” may phía trên của Tăng Kỳ Chi, từ đây có áo Thiên Sam trong Tăng phục. Nay áo có cổ cao che đến gáy là được chế từ thời Ngụy vậy.”

Kính mời đại chúng hoan hỷ click vào ảnh để xem sản phẩm, đừng quên để lại comment, Phước Châu sẽ inbox cho bạn ngay lập tức.
Xin chân thành tri ân.
------------------------
PHƯỚC CHÂU - chuyên cung cấp các mặt hàng y pháp phục, pháp khí, pháp cụ nghi lễ Phật giáo Việt Nam.
------------------------
Thanh Toán:
- STK: 65110002467864
- CTK: TRẦN PHƯỚC BẢO
- Ngân hàng BIDV chi nhánh Nam Bình Dương
------------------------
THÔNG TIN LIÊN LẠC:
- Điện thoại
0907049009
- Website:
https://phuocchau.org/
- Fanpage: https://www.facebook.com/phuocchau.org

15/10/2020

“Sống đến tuổi 100, được như hôm nay là nhờ ân đức của chư Phật, chư Tổ, sự kính mến của Tăng Ni, Phật tử. Theo chúng tôi, việc tổ chức mừng khánh tuế là điều phiền và hao tốn tài lực của đại chúng, nhưng vì muốn giúp hàng Phật tử gieo duyên, tăng sự kính tin nơi Tam Bảo mà Tăng chúng chùa Xá Lợi tổ chức buổi lễ này, chúng tôi mới đành chấp nhận. Nhân đây, chúng tôi có gởi gắm và khuyên Tăng Ni, Phật tử trên đường tu của mình hãy giữ vững tín tâm nơi Phật pháp, mọi hành động luôn vì sự an lạc cho chúng sanh, sự phát triển của Giáo hội và trường tồn của Đạo Phật.”

11/09/2020

ĐỊA NGỤC - NÊN HIỂU NHƯ THẾ NÀO? (Phần 1)
Tuệ Quý - Phước Châu

Kính dâng Bồ tát Địa Tạng Đại sĩ trong ngày vía Khánh đản của Ngài

Trong 10 pháp giới, có 4 thuộc về Thánh pháp giới bao gồm: Phật, Bồ Tát, Thanh văn và Duyên giác; 6 pháp giới thuộc về Phàm: Trời, người, Atula, súc sanh, ngạ quỷ và địa ngục.

ĐỊA NGỤC – CẢNH GIỚI ĐẦY ĐAU KHỔ.

Địa có nghĩa là đất, ngục có nghĩa là nơi giam giữ tội nhân – những người tạo nhiều ác nghiệp trong lúc làm thân người. Trong kinh viết, địa ngục là cảnh giới đau khổ nhất. Ở đó, không có một niềm vui nhỏ nhoi nào, cho dù chỉ kéo dài bằng khoảnh khắc của một sát na. Nơi địa ngục, chỉ có những tội nhân với nghiệp quả nặng nề thọ khổ, chỉ có những quỷ dữ ngày đêm hành hạ, chỉ có những dụng cụ tra hình, chỉ có đồng sôi, hầm lửa, vạc dầu,… ngày đêm thiêu đốt thảm khốc vô cùng.

Kinh Địa Tạng, phẩm 5: “Danh xưng địa ngục” có liệt kê những tên gọi và những cực hình nơi chốn địa ngục như sau:

“… phía đông Diêm Phù có dãy núi tên Thiết Vi. Giữa dãy núi ấy đen tối thăm thẳm, không có ánh sáng của mặt trời mặt trăng, có địa ngục lớn nhất tên Cực Vô Gián, cũng còn gọi là Đại A Tỳ, có địa ngục tên bốn góc, có địa ngục tên dao bay, có địa ngục tên tên lửa, có địa ngục tên núi ép, có địa ngục tên phóng giáo, có địa ngục tên xe sắt, có địa ngục tên giường sắt, có địa ngục tên trâu sắt, có địa ngục tên áo sắt, có địa ngục tên ngàn mũi nhọn, có địa ngục tên lừa sắt, có địa ngục tên nước đồng sôi, có địa ngục tên ôm cột đồng, có địa ngục tên lửa tuôn, có địa ngục tên cày lưỡi, có địa ngục tên chặt đầu, có địa ngục tên đốt chân, có địa ngục tên ăn mắt, có địa ngục tên viên sắt, có địa ngục tên cãi cọ, có địa ngục tên rìu sắt, có địa ngục tên giận nhiều…”

“…cực hình nơi địa ngục như thế này. Có chỗ kéo lưỡi tội nhân cho trâu cày. Có chỗ moi tim tội nhân cho dạ xoa ăn. Có chỗ đun vạc dầu sôi cuồn cuộn mà nấu thân tội nhân. Có chỗ nung đỏ cột đồng mà bắt tội nhân ôm lấy. Có chỗ phun lửa táp vào tội nhân. Có chỗ toàn là băng lạnh. Có chỗ tràn đầy phẫn giải. Có chỗ phóng toàn viên sắt có cạnh sắc g*i nhọn. Có chỗ đâm toàn giáo lửa. Có chỗ chỉ đánh lưng bụng. Có chỗ chỉ đốt tay chân. Có chỗ rắn sắt cắn. Có chỗ toàn là bắt cỡi lừa sắt…”

Tuy nhiên, chúng ta cần có một cái nhìn thật chuẩn xác và thiết thực, đúng đắn đối với hai chữ địa ngục vừa nêu.

NÊN HIỂU NHƯ THẾ NÀO VỀ ĐỊA NGỤC

Địa ngục tiếng Hán dịch là vô lạc, khả yếm, khổ khí, khổ cụ, hữu và vô. Sáu nghĩa trên mang nội hàm như sau: vô lạc – không có niềm vui, khả yếm – chỉ cảm thấy đau khổ, khổ khí – không khí làm người ta cảm thấy đau khổ, khổ cụ – dụng cụ tạo nên đau khổ, hữu là có, vô là không. Điều này có nghĩa đen, địa ngục là nơi không có niềm vui, chỉ toàn là đau khổ, là nơi chứa đựng nhiều cực hình và nhiều dụng cụ tra khảo. Tuy nhiên bên cạnh đó, chúng ta cần nhìn nhận một khía cạnh nghĩa khác mang phổ quát hơn, rộng lơn hơn.

Bất kỳ nơi nào có một trong sáu yếu tố trên thì đó chính là nơi địa ngục xuất hiện. Và sự xuất hiện của một yếu tố sẽ kéo theo sự xuất hiện của năm yếu tố còn lại. Nơi nào chúng ta cảm nhận đau khổ thì nơi đó không có niềm vui (hoặc chúng ta không thể cảm nhận được niềm vui cho dù niềm vui vẫn đang hiện diện). Nơi đó sẽ có không khí đau khổ với những con người và những dụng cụ là nguyên nhân gây ra nỗi khổ niềm đau cho chúng ta. Mà nguyên nhân chính gây ra những nỗi khổ niềm đau trên đều xuất phát từ việc chấp có hoặc chấp không ở mỗi người.

Chúng ta thật dễ dàng để cảm nhận địa ngục mà không cần phải sau cái chết diễn ra. Chỉ cần chúng ta có dịp đi đến các bảo tàng chứng tích chiến tranh, những nhà tù, nơi trưng bày những dụng cụ tra tấn đã được sử dụng vào những ngày tháng chiến tranh xảy ra ở bất cứ nơi nào trên Thế Giới. Chúng ta sẽ thấy địa ngục hiện diện thật rõ ràng và mang đầy đủ ý nghĩa của sáu yếu tố vừa nêu.

Song song bên cạnh đó, cũng thật dễ dàng để thấy được cảnh giới địa ngục hiện diện ngay ở xung quanh ta. Nếu như đối diện với một cảnh tượng hai bên đang to tiếng, tranh cãi hoặc thậm chí là ẩu đã với nhau thì địa ngục lập tức được xây dựng tại nơi đó và trong khoảng thời gian đó. Chính vì một bên chấp có và một bên chấp không là nguyên nhân gây ra địa ngục. Không khí căng thẳng, những vật dụng luôn luôn trong tình thế chuẩn bị gây tổn thương cho đối phương. Không chỉ là những dụng cụ vô tri mà lời nói, suy nghĩ và hành động đều trong trạng thái sẵn sàng gây ra nỗi khổ niềm đau cho phía còn lại. Khi những yếu tố đó hiện diện thì lập tức những đối tượng đang ở trong cảnh giới địa ngục sẽ chỉ cảm nhận được toàn khổ đau mà không có được một niềm vui nhỏ bé nào cả.

ĐỊA NGỤC – NHỮNG NƠI CHÚNG TA ĐÃ SỐNG

Khi có cách nhìn và thái độ đúng đắn về địa ngục chúng ta sẽ thấy địa ngục không phải là một cảnh giới nằm ở đằng sau của cái chết mà địa ngục luôn hiện diện trong đời sống nếu như chúng ta sống không có chất lượng và không bằng chất liệu của sự tỉnh thức. Nếu chúng ta nhìn nhận địa ngục qua sáu yếu tố vừa nêu, chúng ta sẽ dễ dàng nhận thấy được những sự thật rất ý nghĩa luôn luôn tồn trại trong cuộc sống nhưng vì thiếu chánh niệm nên chúng ta không nhận thức được.

Ví dụ như người giàu, nếu nhờ vào phước báu của những hành động thiện ở quá khứ, người nọ được giàu sang tột bậc. Thay vì tiếp tục sử dụng điều kiện thuận lợi là thế mạnh về tài chính để tiếp tục gieo trồng các hạt giống thiện, thì người này lại để lòng tham lấn át và chiếm hữu lấy hết toàn bộ tâm trí của họ khiến họ lao vào vòng xoáy của cuộc chạy đua về vật chất mà cái đích đến là vô hạn của sự mong cầu. Chính lúc này họ đã vào địa ngục.

Với nhiều người, hình ảnh của một đại gia giàu sang với khối tài sản kếch xù là một ước mơ và là một mục đích sống cả đời. Nhưng thực tế, ước mơ này chưa hẳn đã hoàn toàn hạnh phúc. Họ phải sống trong khoảng thời gian bận rộn chạy đua theo sức mạnh của đồng tiền. Khi đó, niềm vui thì ít mà nỗi đau khổ thì nhiều. Và cho dù họ có được niềm vui thì niềm vui đó cũng chỉ là niềm vui tạm bợ, giả tạm; một niềm vui vị ngọt rất ít và vị đắng thì lại rất nhiều. Bao lấy và vây kín họ là sự ngột ngạt, áp lực và khó chịu trong tâm trí bởi những dự án, kế hoạch và những con số. Lúc này, tiền và những khối tài sản khổng lồ kia lại chính là khổ cụ đối với những doanh nhân thành đạt nói trên.

(còn tiếp)

ý nghĩa của việc đánh mõ trong nghi lễ Phật giáo Bắc truyền
15/06/2020

ý nghĩa của việc đánh mõ trong nghi lễ Phật giáo Bắc truyền

Đánh mõ có hai ý: Một là để cho khi tụng niệm được nhịp nhàng, không lộn xộn và như thế vừa giữ được vẽ trang nghiêm và nhất là làm cho người tụng niệm khỏi bị rối trí loạn tâm. Hai là để kỉnh thỉnh tâm trí người tụng niệm khỏi bị hôn trầm, và cũng chính vì ý này mà ở quai mõ, thân mõ thường chạm trố hình loài cá là một loài không bao giờ ngủ, luôn luôn tỉnh táo vậy.

HT THÍCH THIỆN SIÊU
Ý nghĩa một số pháp khí Phật giáo

Kính giới thiệu với đại chúng loạt bài về ý nghĩa một số pháp khí, pháp cụ, pháp phục Phật giáo Việt Nam được tổng hợp t...
13/06/2020

Kính giới thiệu với đại chúng loạt bài về ý nghĩa một số pháp khí, pháp cụ, pháp phục Phật giáo Việt Nam được tổng hợp từ các bài viết của:
- HT THÍCH THIỆN SIÊU - Trú trì chùa Từ Đàm, Huế.
- TT THÍCH TÂM MÃN - Trú trì chùa Minh Thành, Gia Lai.
- TT THÍCH THIỆN PHƯỚC - Tri sự chùa Hội Phước, Đồng Tháp.
- TT THÍCH CHÚC XUÂN..
Trong quá trình biên tập không sao tránh khỏi những điều thiếu xót, kính mong quý thiện tri thức hoan hỷ lượng thứ, từ bi chỉ dạy.

Khể thủ
TUỆ QUÝ - PHƯỚC CHÂU

Phật giáo du nhập vào Việt Nam khoảng kỷ II TCN và dần dần thích ứng với nền văn hóa Đông phương trên con đường hoằng Pháp.
Trải qua dòng thời gian lịch sử, Phật giáo đã phát triển trong lòng dân tộc vừa đem bản chất siêu việt phụng sự chúng sanh vừa hội nhập những tinh hoa của mỗi nền văn hóa.
Chính vì lẽ đó, hệ thống pháp khí, pháp cụ, pháp phục của Phật giáo Việt Nam nói riêng và Phật giáo nói chung vô cùng phong phú đa dạng. Tuy hòa nhập nhưng không hòa tan với tinh thần Tứ tất đàn.
Kính giới thiệu với đại chúng loạt bài về ý nghĩa một số pháp khí, pháp cụ, pháp phục Phật giáo Việt Nam được tổng hợp từ các bài viết của:
- HT THÍCH THIỆN SIÊU - Trú trì chùa Từ Đàm, Huế.
- TT THÍCH TÂM MÃN - Trú trì chùa Minh Thành, Gia Lai.
- TT THÍCH THIỆN PHƯỚC - Tri sự chùa Hội Phước, Đồng Tháp.
- TT THÍCH CHÚC XUÂN..
Trong quá trình biên tập không sao tránh khỏi những điều thiếu xót, kính mong quý thiện tri thức hoan hỷ lượng thứ, từ bi chỉ dạy.

Khể thủ
TUỆ QUÝ - PHƯỚC CHÂU

𝗠𝗨̛𝗢̛̀𝗜 𝗧𝗛𝗜𝗘̣̂𝗡 𝗡𝗚𝗛𝗜𝗘̣̂𝗣 (𝗞𝗨𝗦𝗔𝗟𝗔𝗞𝗔𝗠𝗠𝗔𝗣𝗔𝗧𝗛𝗔) 𝗡𝗘̂𝗡 𝗟𝗔̀𝗠 𝗧𝗥𝗢𝗡𝗚 𝗠𝗨̀𝗔 𝗗𝗜̣𝗖𝗛  𝑆𝑢̛̣ 𝑐𝑜̂́ 𝑦́ 𝑡𝑟𝑎́𝑛ℎ 𝑥𝑎 (𝑣𝑖𝑟𝑎𝑡𝑖) 10 𝑛𝑔ℎ𝑖𝑒̣̂𝑝 𝑏𝑎̂́...
19/04/2020

𝗠𝗨̛𝗢̛̀𝗜 𝗧𝗛𝗜𝗘̣̂𝗡 𝗡𝗚𝗛𝗜𝗘̣̂𝗣 (𝗞𝗨𝗦𝗔𝗟𝗔𝗞𝗔𝗠𝗠𝗔𝗣𝗔𝗧𝗛𝗔) 𝗡𝗘̂𝗡 𝗟𝗔̀𝗠 𝗧𝗥𝗢𝗡𝗚 𝗠𝗨̀𝗔 𝗗𝗜̣𝗖𝗛
𝑆𝑢̛̣ 𝑐𝑜̂́ 𝑦́ 𝑡𝑟𝑎́𝑛ℎ 𝑥𝑎 (𝑣𝑖𝑟𝑎𝑡𝑖) 10 𝑛𝑔ℎ𝑖𝑒̣̂𝑝 𝑏𝑎̂́𝑡 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 đ𝑢̛𝑜̛̣𝑐 𝑔𝑜̣𝑖 𝑙𝑎̀ 10 𝑡ℎ𝑖𝑒̣̂𝑛 𝑛𝑔ℎ𝑖𝑒̣̂𝑝. Hoặc cũng có cách kể khác, gồm chung 3 nghiệp môn (Thân, Khẩu, Ý).
𝟏. 𝐓𝐡𝐚̂𝐧 𝐓𝐡𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐇𝐚̣𝐧𝐡 (𝐤𝐚̄𝐲𝐚𝐬𝐮𝐜𝐚𝐫𝐢𝐭𝐚), tức những hành động tốt đẹp gồm có 3:
• Cố ý tránh xa sự sát sanh (pāṇātipāvāvirati)
• Cố ý tránh xa sự trộm cắp (adinnādānāvirati)
• Cố ý tránh xa sự tà dâm (kamesu-micchācārāviruti)
𝟐. 𝐊𝐡𝐚̂̉𝐮 𝐓𝐡𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐇𝐚̣𝐧𝐡 (𝐯𝐚𝐜𝐢̄𝐬𝐮𝐜𝐚𝐫𝐢𝐭𝐚), tức ngôn ngữ tốt đẹp gồm 4:
• Cố ý tránh xa sự nói dối (musāvādavirati)
• Cố ý tránh xa sự nói lời đâm thọc (pisunavācāvirati)
• Cố ý tránh xa sự nói lời ác ngữ (pharusavācāvirati)
• Cố ý tránh xa sự nói phiếm luận (samphappalāpavirati)
𝟑. 𝐘́ 𝐓𝐡𝐢𝐞̣̂𝐧 𝐇𝐚̣𝐧𝐡 (𝐊𝐮𝐬𝐚𝐥𝐚𝐦𝐚𝐧𝐨𝐤𝐚𝐦𝐦𝐚), tức những tư tưởng tốt đẹp gồm có 3:
• Cố ý tránh xa sự tham lam (anabhijjā)
• Cố ý tránh xa sự sân hận (avyāpāda)
• Chánh Kiến (sammā-diṭṭhi)
Tác Phẩm : A-TỲ ĐÀM 1
Dịch Giả : Tỳ Kheo Giác Nguyên

Nguồn : https://www.facebook.com/Simsapa-1255927284529972

"Luật để nâng đỡ những tâm hồn yếu đuối, không phải để dẫm đạp những người đã té ngã, khiến cho vĩnh viễn đọa lạc". - HT...
11/03/2020

"Luật để nâng đỡ những tâm hồn yếu đuối, không phải để dẫm đạp những người đã té ngã, khiến cho vĩnh viễn đọa lạc". - HT. Tuệ Sỹ

“Hòa thượng Trí Thủ không truyền luật như vị giáo thọ ngồi trên bục giảng, mà truyền dạy ngay trong thực tế sinh hoạt hằng ngày.
Ngài nghiêm khắc, nhưng luôn luôn sẵn sàng tha thứ, để uốn nắn dần. Điều này đơn giản, nhưng trong thực tế, đâu tình, đâu lý; sự quyết đoán không phải dễ. Luật để nâng đỡ những tâm hồn yếu đuối, không phải để dẫm đạp những người đã té ngã, khiến cho vĩnh viễn đọa lạc. Cho nên, khi tôn giả Bạt-đà-lị hỏi Phật vì sao có trường hợp cùng phạm giới ngang nhau nhưng vị này được tăng xử trị nhẹ nhàng, trong khi vị khác bị xử trị rất nặng? Phật bảo: như người có hai con mắt mà một con đã bị hư thì cần phải giữ gìn con kia cẩn thận. Cũng vậy, người yếu đuối nên dễ hay phạm giới. Do tinh thần yếu đuối, nếu xử trị nặng, người ấy bất kham có thể dẫn đến đọa lạc. Với người ý chí kiên cường, việc xử trị nặng là tôi luyện cho ý chí được bền chắc hơn.
Bên ngoài, nhìn vào luật, với nhiều cấm đoán khắt khe, chỉ thấy sự nghiêm khắc của luật, mà không thấy được tâm từ bi bao dung rộng lớn của luật.”

(trích “Một Thời Truyền Luật” – HT- Tuệ Sỹ)

13/02/2020

Trước những biến cố trong đời sống hiện tại, "cầu ơn Tam Bảo luôn che chở"

Nhiều người đang lo lắng về nạn dịch do virus corona nguy cơ lây lan ra nhiều nơi, trong đó có nước ta. Tuy nhiên, theo ...
05/02/2020

Nhiều người đang lo lắng về nạn dịch do virus corona nguy cơ lây lan ra nhiều nơi, trong đó có nước ta. Tuy nhiên, theo phong tục đã đi vào tâm thức của số đông, rằm tháng Giêng là một thời điểm quan trọng để cầu nguyện an lành cho năm mới.

Dịp này, mời quý vị cùng nghe lại những chia sẻ của HT.Thích Lệ Trang, vị giáo phẩm am hiểu nghi lễ Phật giáo, giải thích về một số nghi lễ và nguồn gốc của nó mà người ta thường tổ chức vào ngày rằm đầu năm.

Rằm tháng Giêng là dịp mọi người thường tổ chức các nghi thức kỳ yên, cầu an, có nơi đốt đèn dâng sao giải hạn. Với người con Phật trong truyền thống Phật gi...

Ý nghĩa đàn Dược Sư
02/02/2020

Ý nghĩa đàn Dược Sư

Ý nghĩa đàn Dược Sư thất châu

GN - LTS: Nhân mùa lập đàn Dược Sư cầu an đầu năm, nhiều bạn đọc thắc mắc về ý nghĩa của việc lập đàn này, nên Giác Ngộ online đăng lại bài viết của TT.Thích Lệ Trang đã đăng trên Giác Ngộ số 682, năm 2013. Mời bạn đọc theo dõi!
....................................

Từ ngàn xưa người Việt Nam chúng ta đã được thấm nhuần tinh thần từ bi của đạo Phật, tổ tiên ta đã Phật hóa gia đình, giáo dục con cháu phải biết chia sẻ hạnh phúc, ban rải tình thương đến mọi người, mọi loài, cỏ cây đất đá.

Cho nên ngày xuân mọi người chúc tụng những lời tốt đẹp, chia sẻ những thành quả của mình đến mọi người. Bày biện Tổ đường trang nghiêm cũng là để thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn của con cháu. Hơn thế nữa, người ta còn đi trẩy hội ngoạn thủy du sơn, tham lễ, dâng hương các đạo tràng, các danh sách của chư vị Tổ sư, hầu thăm các bậc chân tu, đạo hạnh để được lắng nghe những kinh nghiệm tu tập, những lời dạy cao quý của các ngài, để lấy đó làm kim chỉ nam định hướng cho con đường tu nhân học Phật.

Với truyền thống hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam, ngày xuân các chùa thường tổ chức những lễ hội cầu cho mưa thuận gió hòa, nhân dân an lạc. Trên tinh thần cao quý đó, chư tôn đức Ban Trị sự THPG TP.Hồ Chí Minh tổ chức Pháp hội Dược Sư diên thọ kỳ quốc thái dân an, nguyện phong điều vũ thuận.

Đàn tràng được thiết kế theo đồ hình Dược Sư Mạn-đà-la với hình ảnh như một hoa sen nở trọn tám cánh. Mỗi cánh sen có một Đức Phật được bố trí theo chiều thuận nghịch như sau:

1. Đức Thiện Danh Xưng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Quang Thắng, cách thế giới Ta-bà 4 hằng hà sa Phật độ; 2. Đức Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai, ở quốc độ tên là Diệu Bảo, cách thế giới Ta-bà 5 hằng hà sa Phật độ; 3. Đức Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Như Lai, ở quốc độ tên là Viên Mãn Hương Tích, cách thế giới Ta-bà 6 hằng hà sa Phật độ; 4. Đức Vô Ưu Tối Thắng Kiết Tường Như Lai, ở quốc độ tên là Vô Ưu, cách thế giới Ta-bà 7 hằng hà sa Phật độ; 5. Đức Pháp Hải Lôi Âm Như Lai, ở quốc độ tên là Pháp Tràng, cách thế giới Ta-bà 8 hằng hà sa Phật độ; 6. Đức Pháp Hải Thắng Huệ Du Hý Thần Thông Như Lai, ở quốc độ tên là Thiện Trụ Bảo Hải, cách thế giới Ta-bà 9 hằng hà sa Phật độ; 7. Đức Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai, ở quốc độ Tịnh Lưu Ly, cách thế giới Ta-bà 10 hằng hà sa Phật độ.

Bảy Đức Phật này đều ở về phương Đông.

Ngụ ý sâu xa ở Pháp hội Dược Sư Thất Châu này là Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni muốn dạy cho chúng ta phải hướng về nẻo ánh giác mà tiến tu, quá trình tu tập phải trải qua bảy giai đoạn được tượng trưng mật nghĩa bằng bảy thế giới của bảy Đức Phật ở phương Đông.

Phương Đông là nơi mặt trời xuất hiện, xua tan bóng tối đêm dài. Càng gần Ta-bà bao nhiêu thì càng cách xa mặt trời bấy nhiêu. Trái lại, càng xa Ta-bà bao nhiêu thì càng lại gần mặt trời bấy nhiêu. Đó là ý nghĩa vi diệu của Pháp hội Dược Sư mà chúng ta cần phải quán niệm:

Muốn gần ánh sáng giác ngộ thì phải tránh xa với hắc ám vô minh. Học Phật là bắt chước cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói luôn tỉnh thức của Đức Phật, để chuyển hóa cách sống, cách làm, cách nghĩ, cách nói thường mê lầm của chúng sanh. Tu tập theo đạo Phật là phải đem tuệ giác tỉnh thức của Đức Thế Tôn để chiếu soi lại cuộc sống của phàm tình để thấy rõ mình là ai, mình đang bước đi trên con đường nào, con đường đó có đưa mình đến cung điện Niết-bàn, an vui hạnh phúc không?

Dược Sư là thầy thuốc; Dược Sư cũng có thể hiểu là một phương thuốc.

Lưu Ly Quang là ánh sáng trong suốt như ngọc lưu ly, tượng trưng cho ba nghiệp thân khẩu ý hoàn toàn thanh tịnh.

Danh hiệu của bảy Đức Phật chính là bảy phương thuốc để trị liệu thân bệnh, tâm bệnh, nghiệp bệnh của chúng sanh bằng sự thanh tịnh. Nói theo tinh thần Phật học thì hồng danh đức hiệu của mỗi Đức Phật là một phương thuốc; là một pháp hành mà người học Phật phải ứng dụng trong sinh hoạt hàng ngày để chuyển hóa khổ đau đem lại an vui hạnh phúc.

Tu tập theo kinh Dược Sư, hành giả phải lắng lòng thanh tịnh trì niệm danh hiệu của từng Đức Phật cho miên mật, nghĩa là phải thường xuyên uống thuốc (Dược Sư) để đào thải các chất phàm phu hắc ám ở trong mỗi chúng ta, và làm cho ánh sáng lưu ly an lành xuất hiện, càng giảm vô minh si ái tăm tối, thì càng tăng ánh sáng lưu ly tươi đẹp.

Pháp môn xưng danh là một phương pháp tự kỷ ám thị, mà hiệu lực không thể đo lường, nếu chúng ta áp dụng một cách chí thành chí khẩn. Nhưng hiệu lực ấy có cùng không có, ít hay nhiều đều tùy thuộc vào sự hiểu biết của chúng ta đối với ý nghĩa nằm trong đức hiệu của chư Phật.

Có hiểu sâu ý nghĩa ấy mới thấm thía vào lòng ta, ám ảnh ta. Rồi thời gian sẽ khắn khít với ta và trở thành nguồn cảm hứng, từ đó sẽ lưu xuất ra những tư tưởng, ngôn ngữ và hành động tương xứng với ý nghĩa ấy.

Ba cõi do tâm tạo; Muôn pháp từ thức biến. Thiên đường địa ngục, đau khổ an vui đều do tâm ta quyết định

Tu học theo Pháp môn Dược Sư là phải thắp đèn trí tuệ liên tục. Treo Thần phan năm sắc (phong độ, cách sống luôn tươi đẹp) để trang nghiêm tự thân, trang nghiêm pháp hội.

Đem chất liệu từ bi đượm thấm ba nghiệp để lời nói, hành động và ý nghĩa đều có tính dược, hầu chuyển hóa khổ đau của kiếp người và trị liệu những chứng bệnh trầm kha trong cuộc sống.

Giải kết giải kết giải oan kết

Nghiệp chướng bao đời đều giải hết

Rửa sạch lòng trần phát tâm thành kính

Đối trước Phật đài cầu xin giải kết.

Quy mạng Đức Thế Tôn Dược Sư Lưu Ly Quang Vương.

Xin Ngài ban ánh sáng lưu ly thanh tịnh cho mọi người để được sống an lành trong tuệ giác từ bi của Đức Phật.

HT.Thích Lệ Trang
(Trưởng ban Nghi lễ GHPGVN TP.HCM)

Báo Giác Ngộ

02/10/2019

Đêm đã về khuya, sau một ngày làm việc và lao động giữa chốn thị thành xô bồ, giữa đời sống bon chen, chật vật; kính giới thiệu với đại chúng một đoạn Chầu Văn để chúng ta cùng chiêm nghiệm lại về món quà quý giá nhất, mà đôi khi, do vội vàng quá, chúng ta quên trân quý

"Ta đi trọn kiếp con người
Vẫn không đi hết mấy lời mẹ ru..."

Lúc Thầy mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là mộ...
02/10/2019

Lúc Thầy mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thầy mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?

ĐẠO TRÀNG MAI THÔN PHỎNG VẤN TT THÍCH LỆ TRANG VỀ TRAI ĐÀN CHẨN TẾ
Lúc Thầy mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thầy mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?

Thượng tọa trả lời: Ở trường hợp này, ta dùng tâm từ bi để nghĩ đến họ. Một khi mình nghĩ đến họ là họ đã có mặt. Tuy âm dương u huyễn nan thông nhiên Phật lực đề huề cự chí, dù âm dương có cách trở khó thông nhưng mình chỉ cần nương theo lời thề của đức Thế Tôn, của chư vị Bồ tát. Mình cũng nương vào bản thể đó để phát khởi tình thương và nghĩ đến họ. Mọi người trong pháp hội cũng nghĩ đến họ và năng lực đó lan tỏa trong khắp pháp giới. Họ cũng từ trong thể tính pháp giới đó mà mê lầm, đau khổ. Cho nên chỉ cần cảm ứng không mất thời gian, không tốn tiền vé, không có trải qua thời gian nhưng họ vẫn tiếp nhận được.

Ví dụ như trong buổi ăn cơm quá đường hôm nay, Sư Ông chỉ cần đọc tên cầu an hoặc cầu siêu lên như vậy thôi mà đại chúng lắng nghe bằng từ tâm thì đâu cần phải đem năng lượng đó chuyển máy bay để chạy về Việt Nam đến chỗ đó, mà ngay lúc đó họ vẫn cảm ứng với nhau. Cũng từ thể tính pháp giới đó mà chúng ta triệu họ đến, rồi cũng từ thể tính pháp giới đó họ trở về. Do đó, đứng về Sự mà nói, có đến có đi nhưng đứng về Lý mà nói thì không đi đâu cả. “Tích nhật như thị lai, kim triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Đó là một bài pháp ngữ khai thị khi một vị Tăng viên tịch. Theo nghi lễ truyền thống Việt Nam, cần thỉnh một vị Thượng tọa chứng minh trước khi chuyển cửu. Hòa thượng đó cầm cây phất trần, đứng ở đầu quan tài và nói: “Lão thiện ông kim hữu đồng tông, pháp hữu vô vi liêu tạm tống biệt nhất ngôn. Duy nguyện lão thiền ông mặc nhiên, tịch tính thụ phấn triệt.” Bắt đầu cầm lại: “Tích nhật như thị lai, kim nhật triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Nghĩa là: Ngày xưa thầy đến đây như thế nào thì ngày nay thầy về lại như thế ấy. Đến và đi không cần mượn chỗ của Như Lai, tự tại là như vậy. Dù thầy không phải bước, không phải mượn nhưng mà những bước chân của thầy bước là đang đi vào cảnh giới của Bụt, của Thế Tôn.

Khi chúng ta mời họ đến không phải là để uống trà chơi mà chúng ta mời họ đến để tâm sự. Các vị thấy bài khấn nguyện của Sư Ông, bài đó rất thâm thúy. Chính vì không ai nói lên, nên làm cho người ta vẫn ngộ nhận, người ta cố chấp và vướng mắc, nhìn nhau không có thiện cảm, đùng, một tiếng chuông cảnh dương gióng lên để người ta thấy sự thật phải như vậy. Biết rằng bầu và bí có thể leo chung một giàn; gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Đại khái lời khấn nguyện của Sư Ông cũng giống như trong khoa giáo. Tức là mời họ đến để khai thị cho họ thấy rõ nguyên nhân mà các vị phải chịu đau khổ, đọa lạc. Mình chỉ cho họ một hướng đi, họ đi theo con đường này sẽ được an lạc và giải thoát. Như vậy là họ có đường đi, dù họ đi đâu đi nữa nhưng sự an lạc, giải thoát, ấm cúng vẫn có mặt, vì họ đã có khả năng tạo cho mình một thế giới Tịnh Độ. Họ có khả năng tạo cho họ một cảnh giới an lạc.

Cho nên: “Tín tâm tạo nghiệp như vân ế nhật, hậu tâm khai minh như chúc trừ ám.” Nghĩa là: Tâm niệm trước đã tạo tác những vọng động, những nhân tố xấu xa, bất thiện giống như mây che mặt trời. Nhưng nếu một tâm niệm sau biết giác ngộ, chuyển hóa được nó, cũng giống như thắp lên một ngọn đuốc và bóng tối biến mất. Họ có con đường để đi, chúng ta không cần chỉ dẫn nữa. Cho nên, về Lý và Sự, chúng ta thấy có đối tượng được mời đến và có chủ thể là mình đứng ra tiếp đãi. Nhưng đứng về thể tính pháp giới mà nói, họ có mặt trong tâm thức của mình, phiền não ngũ ấm. Đồng bào chúng ta đau khổ thì chúng ta không an, trên tinh thần đó mà Sư Ông làm chẩn tế, chuyển hóa. Có thể lấy công việc trai đàn đó để giải thích. Ngôi mộ đó chỉ là kỷ niệm, bàn thờ đó chỉ là kỷ niệm.

Chỗ ông bà tổ tiên ta thờ, không phải ông bà tổ tiên ta ngồi đó mà đó là tinh thần tổ khảo của chúng ta. Mình nương vào hàng chữ đó, nén hương đó để mình nhớ lại nguồn cội của mình. Trong một niệm, nếu mình lấy tâm thanh tịnh thì ba thời gian đều có mặt – quá khứ, hiện tại và tương lai đều có mặt ở đây. Tôi rất vui khi được nghe Sư Ông nói pháp thoại rằng: “Mình phải ăn cơm cho cha mẹ. Tu cho cha, tu cho mẹ mình.” Trở lại vấn đề này, nhiều khi có những chướng duyên, phiền não, có lúc muốn bỏ chùa ra đi. Lúc nhỏ, tôi cũng muốn bỏ Thầy ra đi nhưng mà khi nghĩ đến mẹ mình, tự nhiên mình không còn nghĩ lung tung nữa. Mình nghĩ đến người thân thương đã kỳ vọng nơi mình, đã chăm sóc cho mình, từ đó mình có sức mạnh. Do đó trong sự tu tập, chúng ta thấy rằng cô hồn thực ra không có khác. Nếu một niệm mình sống trong mê lầm thì lúc đó mình cũng đã là cô hồn sống rồi, như Sư Ông đã dạy.

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Bắc Truyền Ca Sa Duệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share