02/10/2019
Lúc Thầy mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thầy mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?
ĐẠO TRÀNG MAI THÔN PHỎNG VẤN TT THÍCH LỆ TRANG VỀ TRAI ĐÀN CHẨN TẾ
Lúc Thầy mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thầy mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?
Thượng tọa trả lời: Ở trường hợp này, ta dùng tâm từ bi để nghĩ đến họ. Một khi mình nghĩ đến họ là họ đã có mặt. Tuy âm dương u huyễn nan thông nhiên Phật lực đề huề cự chí, dù âm dương có cách trở khó thông nhưng mình chỉ cần nương theo lời thề của đức Thế Tôn, của chư vị Bồ tát. Mình cũng nương vào bản thể đó để phát khởi tình thương và nghĩ đến họ. Mọi người trong pháp hội cũng nghĩ đến họ và năng lực đó lan tỏa trong khắp pháp giới. Họ cũng từ trong thể tính pháp giới đó mà mê lầm, đau khổ. Cho nên chỉ cần cảm ứng không mất thời gian, không tốn tiền vé, không có trải qua thời gian nhưng họ vẫn tiếp nhận được.
Ví dụ như trong buổi ăn cơm quá đường hôm nay, Sư Ông chỉ cần đọc tên cầu an hoặc cầu siêu lên như vậy thôi mà đại chúng lắng nghe bằng từ tâm thì đâu cần phải đem năng lượng đó chuyển máy bay để chạy về Việt Nam đến chỗ đó, mà ngay lúc đó họ vẫn cảm ứng với nhau. Cũng từ thể tính pháp giới đó mà chúng ta triệu họ đến, rồi cũng từ thể tính pháp giới đó họ trở về. Do đó, đứng về Sự mà nói, có đến có đi nhưng đứng về Lý mà nói thì không đi đâu cả. “Tích nhật như thị lai, kim triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Đó là một bài pháp ngữ khai thị khi một vị Tăng viên tịch. Theo nghi lễ truyền thống Việt Nam, cần thỉnh một vị Thượng tọa chứng minh trước khi chuyển cửu. Hòa thượng đó cầm cây phất trần, đứng ở đầu quan tài và nói: “Lão thiện ông kim hữu đồng tông, pháp hữu vô vi liêu tạm tống biệt nhất ngôn. Duy nguyện lão thiền ông mặc nhiên, tịch tính thụ phấn triệt.” Bắt đầu cầm lại: “Tích nhật như thị lai, kim nhật triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Nghĩa là: Ngày xưa thầy đến đây như thế nào thì ngày nay thầy về lại như thế ấy. Đến và đi không cần mượn chỗ của Như Lai, tự tại là như vậy. Dù thầy không phải bước, không phải mượn nhưng mà những bước chân của thầy bước là đang đi vào cảnh giới của Bụt, của Thế Tôn.
Khi chúng ta mời họ đến không phải là để uống trà chơi mà chúng ta mời họ đến để tâm sự. Các vị thấy bài khấn nguyện của Sư Ông, bài đó rất thâm thúy. Chính vì không ai nói lên, nên làm cho người ta vẫn ngộ nhận, người ta cố chấp và vướng mắc, nhìn nhau không có thiện cảm, đùng, một tiếng chuông cảnh dương gióng lên để người ta thấy sự thật phải như vậy. Biết rằng bầu và bí có thể leo chung một giàn; gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Đại khái lời khấn nguyện của Sư Ông cũng giống như trong khoa giáo. Tức là mời họ đến để khai thị cho họ thấy rõ nguyên nhân mà các vị phải chịu đau khổ, đọa lạc. Mình chỉ cho họ một hướng đi, họ đi theo con đường này sẽ được an lạc và giải thoát. Như vậy là họ có đường đi, dù họ đi đâu đi nữa nhưng sự an lạc, giải thoát, ấm cúng vẫn có mặt, vì họ đã có khả năng tạo cho mình một thế giới Tịnh Độ. Họ có khả năng tạo cho họ một cảnh giới an lạc.
Cho nên: “Tín tâm tạo nghiệp như vân ế nhật, hậu tâm khai minh như chúc trừ ám.” Nghĩa là: Tâm niệm trước đã tạo tác những vọng động, những nhân tố xấu xa, bất thiện giống như mây che mặt trời. Nhưng nếu một tâm niệm sau biết giác ngộ, chuyển hóa được nó, cũng giống như thắp lên một ngọn đuốc và bóng tối biến mất. Họ có con đường để đi, chúng ta không cần chỉ dẫn nữa. Cho nên, về Lý và Sự, chúng ta thấy có đối tượng được mời đến và có chủ thể là mình đứng ra tiếp đãi. Nhưng đứng về thể tính pháp giới mà nói, họ có mặt trong tâm thức của mình, phiền não ngũ ấm. Đồng bào chúng ta đau khổ thì chúng ta không an, trên tinh thần đó mà Sư Ông làm chẩn tế, chuyển hóa. Có thể lấy công việc trai đàn đó để giải thích. Ngôi mộ đó chỉ là kỷ niệm, bàn thờ đó chỉ là kỷ niệm.
Chỗ ông bà tổ tiên ta thờ, không phải ông bà tổ tiên ta ngồi đó mà đó là tinh thần tổ khảo của chúng ta. Mình nương vào hàng chữ đó, nén hương đó để mình nhớ lại nguồn cội của mình. Trong một niệm, nếu mình lấy tâm thanh tịnh thì ba thời gian đều có mặt – quá khứ, hiện tại và tương lai đều có mặt ở đây. Tôi rất vui khi được nghe Sư Ông nói pháp thoại rằng: “Mình phải ăn cơm cho cha mẹ. Tu cho cha, tu cho mẹ mình.” Trở lại vấn đề này, nhiều khi có những chướng duyên, phiền não, có lúc muốn bỏ chùa ra đi. Lúc nhỏ, tôi cũng muốn bỏ Thầy ra đi nhưng mà khi nghĩ đến mẹ mình, tự nhiên mình không còn nghĩ lung tung nữa. Mình nghĩ đến người thân thương đã kỳ vọng nơi mình, đã chăm sóc cho mình, từ đó mình có sức mạnh. Do đó trong sự tu tập, chúng ta thấy rằng cô hồn thực ra không có khác. Nếu một niệm mình sống trong mê lầm thì lúc đó mình cũng đã là cô hồn sống rồi, như Sư Ông đã dạy.