IVDei VN Đường Nên Thánh

IVDei VN Đường Nên Thánh Tu hội Thánh Ý Chúa là tu hội đời, giáo sĩ, thuộc quyền Giáo hoàng. TTLH: [email protected]
www.thanhychua.com | www.voluntasdei.org

Page xin giới thiệu đến quý ÔBACE những hạnh thánh như nguồn động lực trên hành trình thăng tiến thiêng liêng.

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOANGÀY 24: VIỆC THỨ HAI NGƯỜI TA QUEN LÀM ĐỂ TÔN SÙNG ÐỨC MẸ LÀ MANG ÁO ÐỨC MẸ  Dòng Carmêlô...
23/05/2026

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOA
NGÀY 24: VIỆC THỨ HAI NGƯỜI TA QUEN LÀM ĐỂ TÔN SÙNG ÐỨC MẸ LÀ MANG ÁO ÐỨC MẸ

Dòng Carmêlô được thành lập trước hết, trên núi Carmêlô bên Do Thái. Ban đầu, dòng ấy nổi tiếng đông đúc và thánh thiện. Nhưng năm 1248, thời người Hồi giáo nổi lên tàn phá đạo Công giáo, sát hại giáo dân và tu sĩ, dòng ấy bị tan rã.
Bấy giờ thánh Simong Stoc đang làm Bề trên cả nhà dòng. Người thương tiếc và đêm ngày cầu xin Ðức Mẹ liệu cách thế tu bổ lại nhà dòng.
Sau mấy năm ăn chay cầu nguyện, Ðức Mẹ hiện ra, tay cầm hai miếng nhung nhỏ bằng bàn tay, có hai dây đính hai miếng vải lại với nhau. Ðức Mẹ trao hai miếng nhung ấy cho người và bảo rằng: “Con hãy nhận áo này, làm áo riêng của dòng Mẹ, cũng là dấu Mẹ thương yêu phù hộ dòng Carmêlô và những người thuộc dòng ấy cách riêng. Áo này cứu người ta khỏi những cơn nguy khốn, là áo ban sự bình an, là tượng trưng tình liên kết cùng Mẹ. Ai chết đang khi mang áo này, thì chẳng phải lửa đời đời thiêu đốt”.
Nhờ ơn Ðức Mẹ, từ đó có nhiều người xin vào dòng, chẳng bao lâu dòng lại được đông như trước. Giáo dân nghe biết gốc tích áo Ðức Mẹ, lại thấy Ðức Mẹ che chở cách riêng những ai mang áo ấy, đều xin vào hội và mang áo Ðức Mẹ mỗi ngày một đông.
Những ơn ích bởi sự vào hội và mang áo Ðức Mẹ thì rất nhiều và trọng lắm. Ðây chỉ là một vài ơn ích.
Ðức Mẹ đã hứa cùng thánh Simong rằng:
“Những ai mang áo này, khi chết, không phải lửa đời đời thiêu đốt”. Nghĩa là ai mang áo Ðức Mẹ mà chết khi mắc tội trọng thì Ðức Mẹ sẽ giúp kẻ ấy được ăn năn hối cải.
Ðức Mẹ đã phán bảo Ðức Giáo Hoàng Gioan rằng:
“Những ai vào hội Ðức Mẹ, giữ đức trinh khiết theo bậc mình, và đọc kinh tiểu nhật khóa Ðức Mẹ hằng ngày, khi chết sẽ được Ðức Mẹ cứu khỏi luyện ngục ngày thứ bảy sau khi kẻ ấy qua đời. Ai không đọc kinh tiểu nhật khóa được thì phải ăn chay các ngày Giáo Hội buộc và kiêng thịt các ngày thứ sáu quanh năm trừ ngày lễ Sinh Nhật Chúa Giêsu”.
Những người vào hội áo Ðức Mẹ được thông công các việc lành của dòng Carmêlô và hội áo Ðức Mẹ trong cả Giáo Hội.
Tòa thánh đã ban nhiều ân xá cho những người mang áo Ðức Mẹ.
Ai mang áo Ðức Mẹ, được Ðức Mẹ nhận làm con và được người phù hộ nâng đỡ.
Vả lại áo Ðức Mẹ là thuẫn che vững chắc giữ ta khỏi thù địch. Xưa nay biết bao người vì mang áo Ðức Mẹ, được thoát khỏi những cơn cheo leo hồn xác. Biết bao tội nhân mang áo Ðức Mẹ, đến giờ chết được ơn sám hối.
Áo Ðức Mẹ chữa cả những nguy hiểm phần xác. Có tích nhà dòng bị hỏa hoạn lửa đang bốc ngùn ngụt, có người cầm áo Ðức Mẹ quăng vào, lửa liền tắt ngay. Một người lính vào trận, bị đạn bắn vào áo Ðức Mẹ đang mang trong mình, đạn dội lại, người lính không bị thương…
Vậy ta phải trọng kính áo thánh ấy vì là của trọng chính Ðức Mẹ ban cho. Ta hãy mang áo ấy trong mình hằng ngày, vì là dấu riêng của con cái Ðức Mẹ. Nhất là trong giờ chết, ta có mang áo ấy thì Ðức Mẹ sẽ phù hộ ta được chết lành bằng yên.
Lạy Mẹ rất thánh, chúng con xin vào hội áo Ðức Mẹ và mang áo thánh ấy cho đến trọn đời. Khi gặp cơn hiểm nghèo phần hồn phần xác chớ gì áo thánh ấy là khí giới mạnh sức cứu chữa chúng con. Ðến giờ chết, xin Mẹ cứ áo ấy mà nhận chúng con là con riêng của Ðức Mẹ đưa chúng con về Thiên đàng cùng Ðức Mẹ đời đời.

Thánh tích
Trong sách Vinh quang Đức Mẹ, thánh Anphongsô Ligôriô kể truyện này: Ở tỉnh Persusia bên Ý, có một người làm giấy bán linh hồn cho quỉ, để nhờ nó giúp báo thù một người kia. Khi quỉ dữ đã giúp anh ta báo thù người kia rồi, thì đưa anh ta đến khúc sông. Quỉ dữ bắt anh ta phải đâm xuống sông nếu không sẽ bắt cả hồn xác anh xuống hỏa ngục.
Anh chàng vô phúc ấy sợ chết nên bảo quỉ dữ rằng: “Anh hãy đẩy tôi xuống, vì tôi không đủ can đảm để gieo mình xuống”.
Quỉ dữ nói rằng: “Mày phải bỏ áo Ðức Mẹ đi thì tao mới đẩy được”. Biết quỉ không làm gì được mình vì có áo Ðức Mẹ, anh ta nhất định không chịu bỏ áo ấy ra.
Ðôi bên giằng co một lúc, quỉ thất bại bỏ đi.
Người tội lỗi ấy, được Ðức Mẹ chữa mình phần hồn phần xác, thì động lòng hối cải. Ðể biết ơn Ðức Mẹ, anh ta họa một bức tranh về tích truyện xảy ra ở bờ sông, và treo ở bàn thờ Ðức Mẹ trên bàn thờ thành Perusia, để thiên hạ muôn đời ca tụng lòng nhân từ Ðức Mẹ đối với những con cái mang áo Người.

Nguồn: Trang Giáo phận Cần Thơ



;

Ngày 24 tháng 5Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu Lược sử lễ kính Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu (ngày 24 tháng 05) Lòng tôn kính...
23/05/2026

Ngày 24 tháng 5
Đức Mẹ Phù Hộ Các Giáo Hữu

Lược sử lễ kính Đức Maria Phù hộ các Giáo hữu (ngày 24 tháng 05)

Lòng tôn kính Đức Maria dưới tước hiệu “Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu” đã có từ lâu trong Giáo hội. Tuy nhiên, Giáo hội chính thức thiết lập lễ kính Đức Mẹ Phù hộ trong phụng vụ vào ngày 24 tháng Năm, bắt đầu từ năm 1816, hơn 200 năm trước đây.
Vào những năm đầu của thế kỷ 19, Hoàng đế Napoleon Bonaparte đã bắt giam Đức Thánh Cha Piô VI và quản thúc Ngài trong tù. Ngài chết ở đó. Sau đó, Đức Thánh Cha Piô VII lên kế vị và cũng bị Napoleon tống giam. Từ năm 1809 đến năm 1812, tức trong suốt gần 5 năm trời, Đức Thánh Cha bị giam lỏng ở thành phố Savona, nước Ý. Ngài liên tục khấn xin Đức Mẹ ‘Đấng Phù hộ các giáo hữu’ che chở và giải cứu Ngài. Tại thành phố này, Ngài đến đặt một triều thiên trên tượng ‘Đức Mẹ của lòng Thương xót’ và xin Mẹ giúp Ngài được giải thoát.
Đến năm 1812, Ngài bị đưa sang Paris, nước Pháp và tiếp tục bị giam giữ tại Fontainbleau. Trong trại giam, Đức Thánh Cha bị hoàng đế Napoleon đối xử rất tồi tệ và vị tướng quân cao ngạo này đã dùng nhiều hình thức để lăng nhục Ngài. Ngài không thất vọng, nhưng vẫn tiếp tục tin tưởng vào sự phù trợ của Đức Maria.
Chúa quan phòng đã an bài thật nhiệm mầu. Đến năm 1814, quân đội của Napoleon liên tục bị thất trận và quyền lực của ông bắt đầu suy yếu. Dưới áp lực của dân chúng, Napoleon bắt buộc phải phóng thích Đức Thánh Cha để Ngài trở về Rôma.
Trên con đường trở về điện Vatican, Ngài dừng chân tại Ancona và đến trước tượng “Nữ vương các thánh”, dâng lên Mẹ một cây phủ việt bằng vàng để tôn vinh quyền lực của Đức Maria, đồng thời diễn bày lòng tri ân Mẹ vì đã giải cứu Ngài. Vì thế, chúng ta thấy trên tượng Đức Mẹ Phù hộ có mũ triều thiên và một phủ việt cầm trên tay.
Dân chúng rất vui mừng đón chào Đức Thánh Cha trở về Rôma. Đi đến đâu, Ngài luôn được cả đám đông khổng lồ vây kín, diễn bày tâm tình hoan vui cũng như lòng biết ơn đối với Đức Mẹ. Ngày 24 tháng Năm năm đó, Ngài chính thức tiến vào Vatican trong sự nô nức cuồng nhiệt của đông đảo dân chúng.
Để tri ân Người đã giải cứu mình, Đức Thánh Cha Piô VII chính thức thiết lập phụng vụ mừng kính Đức Mẹ Phù hộ các giáo hữu vào ngày 24 tháng 05 hằng năm, đồng thời cũng ghi nhớ ngày Ngài được Đức Mẹ giải thoát và trở về Rôma.
Đây cũng là thời điểm Don Bosco được sinh ra và lớn lên. Ngài luôn cổ xúy lòng yêu mến Đức Mẹ dưới tước hiệu trên. Ngài cũng hằng ghi nhớ sâu đậm giấc mơ 9 tuổi với hình ảnh một bà giáo là chính Mẹ Maria, người đã luôn đồng hành và dẫn dắt Ngài trong suốt cuộc đời. Cha Thánh cũng kể lại một giấc mơ nổi tiếng về con thuyền Giáo hội lênh đênh giữa biển khơi đầy sóng gió. Con thuyền đó đã được gìn giữ an toàn khi được neo chặt vào 2 cột trụ. Cột thứ nhất có Thánh Thể ở trên với hàng chữ ‘Salus Credentium’ (Ơn cứu độ của những người tin) và trên cột bên kia có Đức Maria với hàng chữ ‘Auxilium Christianorum’ (Sự phù trợ của các Kitô hữu). Với những trải nghiệm sâu xa trong cuộc sống, Don Bosco đã nói với các con cái mình : “Cứ tin tưởng vào Chúa Giêsu Thánh Thể và Mẹ Maria phù hộ, chúng con sẽ thấy phép lạ là gì”. Don Bosco cũng thành lập một dòng tu nam có tên là Tu hội Thánh Phanxicô Salê (SDB) và một dòng tu nữ có tên là Dòng Con Đức Mẹ Phù hộ (FMA). Tháng 12 năm 1862, Cha Thánh quyết định xây dựng một Vương cung Thánh đường dâng kính Mẹ Phù hộ ở Tôrinô. Sáu năm sau, ngôi Thánh đường vĩ đại này đã hoàn tất. Ngày 21 tháng 05 năm 1868, Đức Tổng Giám mục giáo phận Tôrinô đã đến thánh hiến Thánh đường này. Don Bosco đã nói với các con cái mình: “Đức Trinh nữ rất thánh, đấng mà chúng ta tôn vinh dưới tước hiệu Mẹ Phù hộ đã ra tay can thiệp để bảo vệ đức tin các tín hữu trong những thời điểm khó khăn nhất như tại vịnh Lepanto, tại Vienna, tại Savone hay tại Rôma. Xin Mẹ luôn là Mẹ của Giáo hội, là Mẹ của Tu hội chúng ta, là Đấng bảo trợ tất cả các công cuộc mà chúng ta thực hiện để phục vụ giới trẻ”.
Ngày nay, lòng sùng kính Đức Mẹ với tước hiệu ‘Phù hộ các giáo hữu’ đã lan tỏa khắp nơi trong Giáo hội Công giáo. Ngay ở Việt Nam, tại La vang hay tại Trà kiệu, Đức Mẹ cũng đã ra tay can thiệp để che chở giáo dân, và khi hiện ra tại những nơi này, Đức Mẹ cũng mang hình dáng của “Đấng Phù trợ các tín hữu”. Xin Mẹ bảo toàn đức tin nơi mỗi người chúng ta.
Văn Hào, SDB lược tóm


Nguồn : Trang SDB Việt Nam



SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOANGÀY 23: VIỆC THỨ NHẤT NGƯỜI TA QUEN LÀM ĐỂ TÔN SÙNG ÐỨC MẸ LÀ LẦN HẠT MÂN CÔI  Chính Ðức ...
22/05/2026

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOA
NGÀY 23: VIỆC THỨ NHẤT NGƯỜI TA QUEN LÀM ĐỂ TÔN SÙNG ÐỨC MẸ LÀ LẦN HẠT MÂN CÔI

Chính Ðức Mẹ đã truyền phép lần hạt Mân Côi cho ông thánh Ðôminicô.
Thời ấy ở bên Pháp, bè rối nổi lên rất mạnh. Giáo dân và tu sĩ bị tàn sát, nhà thờ nhà dòng bị đốt phá. Thánh Ðôminicô hết sức khuyên dụ bè rối ấy trở lại trong hai năm mà không kết quả gì. Ông Thánh vào một nhà thờ gần thành Tôlôsa, xin Ðức Mẹ tỏ cho biết phải làm thế nào mà chinh phục được bè rối ấy. Sau ba ngày ăn chay cầu nguyện, Ðức Mẹ hiện đến phán bảo thánh rằng: “Hỡi Ðôminicô, muốn chinh phục được dân cứng lòng ấy, thì hãy khuyên người ta lần hạt Mân Côi”. Ðức Mẹ lại dạy ông thánh cách thức lần hạt. Thánh Ðôminicô vâng lời Ðức Mẹ, khuyên bảo người ta lần hạt Mân Côi. Trong vòng hai năm, những người theo bè rối trở lại hầu hết.
Phép lần hạt là một cách cầu nguyện ở tại đọc 20 kinh Lạy Cha và 200 Kinh Kính Mừng. Phải đọc ra ngoài miệng và suy ngắm trong lòng 20 sự mầu nhiệm Chúa Giêsu cùng Ðức Mẹ. Hai sự ấy cùng đi đôi với nhau, vì cả hai thuộc về bản chất phép lần hạt.
Phép lần hạt dạy ta những điều căn bản trong đạo, giúp ta dễ thêm lòng mến yêu Chúa. Phép lần hạt lại giúp ta giữ vững đức tin, thêm nhân đức cho người sốt sắng, và lòng sám hối cho kẻ có tội.
Xưa nay, các Ðức Giáo hoàng, các Giám mục đều khuyến khích cổ động cho phép lần hạt. Giáo hữu mọi nơi, mọi thời đại đều kính trọng, cậy trông và siêng năng lần hạt.
Vậy từ trước tới nay ta chưa quí trọng phép lần hạt, thì từ này ta hãy siêng năng lần hạt, lần hạt mọi ngày. Ai siêng năng lần hạt là dấu chắc được cứu thoát khỏi hỏa ngục, vì người đó hằng tâm niệm những sự mầu nhiệm căn bản trong đạo, để sống thánh thiện và tiến tới trong đường nhân đức.
Lạy Mẹ, là Nữ vương truyền phép Mân Côi rất thánh, chúng con ca ngợi cảm tạ Mẹ, vì Mẹ đã dạy chúng con một cách cầu nguyện cao quí và sinh nhiều ơn ích, chớ gì con biết quí trọng và siêng năng lần hạt mọi ngày.

Thánh tích
Thánh nữ Phanasia quê tại nước Ý. Bà mẹ là người hiền lành thánh thiện dạy con sùng kính Ðức Mẹ và chăm lần hạt Mân Côi từ bé. Phanasia noi gương mẹ quí trọng sự lần hạt chẳng may mẹ mất sớm, cha tái hôn với một bà tên là Margarita. Bà này khô khan lại xấu nết, lạ gì tình dì ghẻ con chồng. Phanasia bị hành hạ đủ điều; mặc dầu cô bé vẫn ngoan ngoãn kính yêu dì như mẹ.
Bà cấm Phanasia không được lần hạt, Phanasia phải lần trộm vụng. Có lần bị dì bắt được, bà ta giật lấy tràng hạt ném đi và đánh cho Phanasia một trận đau điếng. Phanasia đau lắm nhưng không dám mở miệng, chỉ tiếc mất cỗ tràng hạt. Cô bé không còn tràng hạt, thì lấy giây thắt nút lại thay tràng hạt. Chẳng may dì lại bắt được, và Phanasia lại bị một trận đòn nữa.
Nhưng ngày kia, Phanasia đi chăn chiên trên đồi. Cô thả đàn chiên ăn rong, và quì một chỗ lần hạt. Bất ưng, dì Margarita đến, thấy cô đang quì lần hạt. Bà nổi giận cầm gậy đánh vỡ đầu cô bé. Bị thương nặng, cô bé qua đời ngày hôm sau. Ðức Giáo Hoàng đã phong thánh cho cô và đặt Phanasia làm gương mẫu cho những ai ái mộ phép lần hạt Mân Côi.

Nguồn: Trang Giáo phận Cần Thơ



;

Ngày 23 Tháng NămThánh Gioan Báptít Rossi(1698-1764) Vị linh mục tài giỏi và thánh thiện này sinh ở làng Voltaggio thuộc...
22/05/2026

Ngày 23 Tháng Năm
Thánh Gioan Báptít Rossi
(1698-1764)


Vị linh mục tài giỏi và thánh thiện này sinh ở làng Voltaggio thuộc giáo phận Genoa nước Ý. Khi còn là thiếu niên, thấy ngài thông minh, hai vợ chồng người bạn của gia đình đưa ngài về Genoa cho ăn học. Trong thời gian ba năm ở đây, ngài được sự chú ý của hai vị tu sĩ Capuchin, là người thường đến thăm gia chủ và đã phúc trình nhận xét của họ lên bề trên tỉnh dòng Capuchin, mà sau đó bác của ngài, là một kinh sĩ của nhà dòng ở Rôma đã xin cho ngài vào một trường ở Rôma ăn học, lúc 13 tuổi.
Trong thời gian theo học ở trường Collegium Romanum ngoài gương mẫu về học vấn và nhân đức, ngài còn tập hãm mình phạt xác theo gương các vị khổ tu mà ngài đọc được ở trong sách. Sự khổ cực cộng thêm chương trình học nặng nề đã dẫn đến cơn động kinh mà sau đó ngài phải nghỉ học. Sau này, ngài phục hồi sức khoẻ và hoàn tất việc học ở Minerva, nhưng không thể nào khoẻ mạnh được như trước.
Sau thời gian tu tập, ngài được thụ phong linh mục năm 23 tuổi và tận tụy rao giảng cho những người nông dân, người chăn nuôi từ quê lên tỉnh buôn bán, và ngài tìm cách giúp đỡ những phụ nữ vô gia cư phải sống ngoài đường phố qua công việc ăn xin hay làm điếm. Tiền của ngài kiếm được chỉ nhờ bổng lễ, nhưng khi được chính quyền địa phương và Đức giáo hoàng giúp đỡ, ngài đã dùng tiền ấy để thuê một căn nhà cho những người nghèo lên tỉnh tạm trú.
Ngài hăng say rao giảng mọi nơi, ở nhà thờ, nhà thương, tu viện cũng như nhà tù khiến ngài nổi danh là vị tông đồ của những người bị ruồng bỏ, không khác gì Thánh Philíp Nêri.
Năm 1763, ngài kiệt quệ vì sự lao nhọc và bệnh tật. Sau một vài cơn kích xúc tim khiến ngài bị tê liệt, ngài đã từ trần ở Pellegrini năm 66 tuổi.
Thiên Chúa đã vinh danh ngài qua những phép lạ. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Lêô XIII phong Thánh năm 1881.


Nguồn : Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam



Ngày 22 tháng NămThánh LAURENSÔ PHẠM VIẾT NGÔN, Giáo dân (1840 - 1862)Thánh MICAE HỒ ĐÌNH HY, Quan Thái bộc (1808 - 1857...
22/05/2026

Ngày 22 tháng Năm
Thánh LAURENSÔ PHẠM VIẾT NGÔN, Giáo dân (1840 - 1862)
Thánh MICAE HỒ ĐÌNH HY, Quan Thái bộc (1808 - 1857)
Ngày tử đạo: 22 tháng 5

1./ Thánh LAURENSÔ PHẠM VIẾT NGÔN, Giáo dân (1840 - 1862)
Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa Tể trời đất. Thập giá là phương thế Thiên Chúa dùng để cứu độ nhân loại, tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp.

Thánh Laurensô Phạm Viết Ngôn sinh năm 1840, trong một gia đình đạo đức tại giáo xứ Lục Thủy, Giáo phận Trung (nay thuộc giáo xứ Liên Thượng, Giáo phận Bùi Chu).
Lập gia đình năm 22 tuổi, anh Ngôn sống gương mẫu đạo hạnh, yêu thương vợ con hết lòng. Vì nặng tình với vợ con, nên trong lần bị bắt và bị buộc chối đạo lần đầu tiên, anh Ngôn đã hối lộ tiền bạc cho quan quân để đổi lấy sự tự do.
Trong hoàn cảnh bắt đạo khốc liệt này, anh Ngôn bị bắt lần thứ hai vào ngày 08-9-1861, bị giải về trại An Xá, huyện Đông Quan. Bị giam cầm trong ngục, anh rất lo lắng cho vợ và con thơ. Anh tìm cách trốn về thăm gia đình và hết lời khuyến khích thân mẫu, vợ con hãy trung thành với đức tin, phó thác cho sự quan phòng của Chúa.
Tại công đường, quan án dụ dỗ: “Anh còn trai trẻ, sao dại dột muốn chết? Hãy bước qua Thánh Giá, anh sẽ được tha, cho về với vợ con”. Anh Ngôn kiên cường tuyên tín: “Tôi giữ đạo tôn thờ Chúa Tể trời đất. Thánh Giá là phương thế Thiên Chúa dùng để cứu độ nhân loại, tôi chỉ có thể tôn kính chứ không bao giờ chà đạp”.
Thái độ trung tín, hiên ngang bảo vệ đức tin, càng làm cho các quan tức giận, đồng lòng lên án trảm quyết. Vị chứng nhân đức tin Laurensô Phạm Viết Ngôn chịu xử trảm ngày 22-5-1862 tại pháp trường An Triêm, huyện Đông Quan, trước sự chứng kiến của thân mẫu và người vợ hiền thục thân thương.
Chứng nhân đức tin Laurensô Phạm Viết Ngôn được nâng lên hàng chân phước ngày 29-4-1951 và được tôn phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

2./ Thánh MICAE HỒ ĐÌNH HY, Quan Thái bộc (1808 - 1857)

Tâu bệ hạ, đã ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Chúa Kitô.

Thánh Micae Hồ Đình Hy sinh ra tại làng Nhu Lâm, phủ Thừa Thiên năm 1808. Thân phụ là quan đại thần Giuse Hồ Đình Duyệt. Cậu Hy là con út trong gia đình 12 anh em, mất bảy còn năm. Lúc nhỏ, cậu mang tên Thục, sau khi lập gia đình đổi tên là Hy.
Từ thời niên thiếu, cậu theo học chữ Nho, được bổ nhiệm làm quan cửu phẩm khi vừa tròn 19 tuổi. Năm sau, cậu lập gia đình với thiếu nữ đạo đức Lucia Tân, quê làng Sơn Công và sinh được 5 người con. Thế nhưng, do chịu ảnh hưởng nhiều tật xấu trong giới quan lại, ông có quan hệ với một thiếu nữ trẻ và sinh được 3 người con ngoại hôn. Để chuộc lại lỗi lầm, ông đã rửa tội và đưa chúng về nuôi nấng tử tế như con chính thức của mình, rồi cố gắng làm nhiều việc thiện để đền bù tội lỗi.
Nối bước tinh thần đạo đức hay giúp đỡ hàng giáo sĩ, lòng thương người nghèo của song thân, gia đình quan thái bộc Hy là nơi nương thân của hai Đức cha François Pellerin - Phan và Sohier - Bình. Đức cha Phan đặt quan thái bộc Hy làm trùm họ giáo đoàn tại kinh đô Huế. Quan thái bộc âm thầm nhận lãnh trách nhiệm và cố gắng chu toàn nghĩa vụ.
Năm 1865, lòng ganh tỵ, ghen ghét của các quan trong triều đối với đại thần Hồ Đình Hy dâng cao khi ngài khí khái ngăn chặn các đại thần khác lạm dụng công quỹ và ức hiếp dân lành. Các đồng liêu của quan thái bộc Hy mật tấu lên vua Tự Đức, vu khống quan tam phẩm Hồ Đình Hy bí mật giao tiếp với Tây phương, âm mưu làm loạn, nhờ sự ủng hộ của người dân theo đạo nhằm lật đổ ng*i vàng.
Tại công đường, trong các phiên xử ngày 18 và 21-5-1857, chứng nhân đức tin Micae Hồ Đình Hy bị cực hình tra tấn, mỗi lần sáu mươi roi. Vì quá đau đớn, ông lỡ lời khai tên một vài giáo hữu. Ông nghĩ rằng những người này đã ẩn trốn nơi khác, nào ngờ quân lính truy tìm và đã bắt được họ. Một số người trong họ xuất giáo, số còn lại trung kiên với đức tin nên bị khắc trên má hai chữ “tả đạo” và bị lưu đày. Thấy số dân có đạo bị bắt là do lỗi của mình, ông khóc lóc, ân hận, xưng tội và xin lòng từ bi Chúa thứ tha. Ông cương quyết dùng chính máu của mình để đền tội.
Sáng ngày 22-5-1857, quan thái bộc Micae Hồ Đình Hy được dẫn ra khỏi Cửa Hiển Nhân của Đại Nội, đến pháp trường bên cầu An Hòa. Khi nhìn thấy cha Hạnh, ông đưa tay lên trán, như dấu hiệu để nhận lãnh Bí tích Hòa giải lần cuối cùng. Sau khi chịu xử trảm, thi hài của thánh nhân được an táng trong lòng nhà thờ cũ họ đạo Phủ Cam.
Quan thái bộc Micae Hồ Ðình Hy được nâng lên bậc chân phước ngày 02-5-1909 và được tôn phong hiển thánh ngày 19-6-1988.

Trích sách "Hạnh Các Thánh Tử Đạo Việt Nam"
Biên soạn: Hội đồng Giám mục Việt Nam

Nguồn : Trang Hội Đồng Giám mục Việt Nam



SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOANGÀY 22: ÐỨC MẸ CỨU LINH HỒN LUYỆN NGỤC  Xưa Ðức Mẹ dạy thánh Birgitta rằng: “Mẹ là Mẹ các...
21/05/2026

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOA
NGÀY 22: ÐỨC MẸ CỨU LINH HỒN LUYỆN NGỤC

Xưa Ðức Mẹ dạy thánh Birgitta rằng: “Mẹ là Mẹ các linh hồn ở luyện ngục, Mẹ hằng giúp đỡ, giảm bớt những hình khổ cho chúng”.
Có khi Ðức Mẹ xuống luyện ngục để giảm bớt hình khổ cho họ. Ðức Mẹ rút vắn thời hạn giam phạt các linh hồn ấy. Nhất là những linh hồn mồ côi, được Ðức Mẹ thương giúp cách riêng.
Nhiều đấng thánh nói: những ngày lễ kính Ðức Mẹ, Ðức Mẹ xuống luyện ngục an ủi các linh hồn, có linh hồn được Ðức Mẹ giảm bớt hình khổ, có linh hồn được Ðức Mẹ đưa về trời ngay.
Xưa Ðức Mẹ hiện ra phán cùng Ðức Giáo Hoàng Gioan rằng: “Những ai đeo áo Ðức Bà và tôn sùng Mẹ khi còn sống, thì lúc chết mà còn bị giam trong luyện ngục, Mẹ sẽ xuống cứu và đưa kẻ ấy về thiên đàng ngày thứ bảy sau khi kẻ ấy qua đời”.
Ta hãy bắt chước Ðức Mẹ thương giúp các linh hồn ở luyện ngục, nhất là những linh hồn mồ côi, linh hồn cha mẹ, họ hàng thân thích những kẻ làm ơn cho ta. Ta hãy đọc kinh lần hạt, làm phúc bố thí, xưng tội chịu lễ, dâng cho các linh hồn ấy chóng được về nơi mát mẻ.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ ban cho chúng con được ơn bắt chước Mẹ, thương giúp các linh hồn ở luyện ngục, dâng việc lành cầu cho các linh hồn ấy.

Thánh tích
Giáo dân La Mã xưa có thói quen, trước ngày lễ Ðức Mẹ lên trời, cầm nến đi viếng các nhà thờ. Có một lần, bà sang trọng kia cùng với mọi người vào nhà thờ cầu nguyện, bà trông thấy một bà đã quen trước, chết được sáu tháng, cũng quì đọc kinh bên cạnh bà.
Bà ta bỡ ngỡ, ra đứng ngoài cửa đợi khi bà ấy ra thì hỏi: “Bà có phải là Morozia không?” người ấy thưa: “Phải, tôi phải giam phạt ở luyện ngục từ ngày tôi bỏ thế gian cho đến bây giờ. Nhưng ngày mai là ngày lễ Ðức Mẹ lên trời, tôi và nhiều người khác mà bà không trông thấy. Hôm nay chúng tôi đến đây lần cuối cùng để tạ ơn Ðức Mẹ”.
Bà này còn đang nghi ngờ, thì bà ta lại tiếp: “Ðể bà tin lời tôi nói, thì ngày rầy sang năm, chính ngày lễ Ðức Mẹ lên trời, bà sẽ bỏ thế gian”.
Thánh Phêrô Ðamiêng làm chứng điều ấy rằng: “Bà kia tin lời đó, và từ đấy, bà làm nhiều việc lành đợi ngày về đời sau. Quả thật, ngày hôm trước lễ Ðức Mẹ lên trời, bà ngã bệnh nặng và chính ngày lễ thì qua đời”.

Nguồn: Trang Giáo phận Cần Thơ



;

Ngày 22 Tháng NămThánh Rita ở Cascia(1381-1457) Trong nhiều thế kỷ, Thánh Rita ở Cascia là một trong những vị thánh nổi ...
21/05/2026

Ngày 22 Tháng Năm
Thánh Rita ở Cascia
(1381-1457)

Trong nhiều thế kỷ, Thánh Rita ở Cascia là một trong những vị thánh nổi tiếng của Giáo Hội Công Giáo. Người ta thường gọi ngài là “Vị Thánh Bất Khả,” vì bất cứ điều gì nhờ ngài cầu bầu đều được Thiên Chúa nhận lời.
Thánh Rita sinh ở Spoleto, nước Ý năm 1381. Ngay từ nhỏ ngài đã muốn dâng mình cho Chúa, nhưng vì vâng lời cha mẹ già, ngài phải kết hôn với một ông chồng thô bạo và nóng nẩy. Trong 18 năm, ngài kiên nhẫn dùng sự cầu nguyện và tử tế để đối xử với ông chồng luôn khinh thường và gian dâm. Sau cùng, ông đã ăn năn hối lỗi và bị giết vì một mối thù truyền kiếp.
Tưởng đã yên thân sau cái chết của chồng, ngài lại khổ tâm khi thấy hai người con trai thề quyết trả thù cho cha mình, và ngài đã cầu xin Thiên Chúa để cho họ chết còn hơn phạm tội giết người. Quả thật, cả hai lâm bệnh nặng, và ngài đã chăm sóc, khuyên giải hai con trở về với Thiên Chúa trong sự bình an trước khi lìa đời.
Bây giờ không chồng và không con, ngài xin gia nhập Dòng Augustine ở Cascia, nhưng bị từ chối vì không còn là trinh nữ. Với sự kiên trì và lòng tin mạnh mẽ, Thiên Chúa đã can thiệp để ngài được nhập dòng. Người ta kể rằng, một đêm kia Thiên Chúa đã đưa ngài vào trong khuôn viên của tu viện dù đã kín cổng cao tường.
Thấy vậy, các nữ tu tin rằng ý Chúa muốn ngài được chấp nhận vào dòng.
Trong đời sống tu trì, ngài nổi tiếng về lòng bác ái và ăn chay hãm mình. Lời ngài cầu nguyện cho những kẻ đau yếu thường được Thiên Chúa nhận lời. Ngoài ra, qua sự khuyên bảo, ngài đã đưa nhiều người trở về với đời sống Công Giáo.
Vào năm 1441, ngài được đặc biệt chia sẻ sự thống khổ của Ðức Kitô bằng các vết mão g*i trên đầu. Các vết thương ấy thật đau đớn và chảy máu, xông mùi khó chịu đến độ ngài phải sống tách biệt với mọi người, tuy nhiên ngài vẫn coi đó là ơn sủng đặc biệt và xin được sức mạnh để gánh chịu cho đến chết.
Ngài từ trần vì bệnh lao ngày 22 tháng Năm 1457 khi 76 tuổi. Ngài đặc biệt được tôn kính ở nước Ý ngày nay. Ngài được coi là quan thầy của những trường hợp khó khăn, nhất là có liên hệ đến hôn nhân.
Ngài được phong Chân Phước năm 1626 và được phong Thánh năm 1900.


Nguồn : Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam



SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOANGÀY 21: ÐỨC MẸ GIÚP CON CÁI CHẾT LÀNH Trong đời, không có lúc nào khổ cực và nguy hiểm ch...
20/05/2026

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOA
NGÀY 21: ÐỨC MẸ GIÚP CON CÁI CHẾT LÀNH

Trong đời, không có lúc nào khổ cực và nguy hiểm cho bằng lúc hấp hối trên giường bệnh, quỉ dữ lợi dụng lúc ấy, tìm trăm nghìn cách để khuấy khuất bệnh nhân. Khi thì nó bầy các tội ra trước mắt, để bệnh nhân bối rối rồi sinh nản lòng. Lúc thì nó cám dỗ bệnh nhân luyến tiếc của cải, chức quyền đời này, để bệnh nhân lấy sự chết làm cay đắng.
Giờ ấy, bệnh nhân phải đau đớn trong lòng ngoài xác, khó dọn mình để về đời sau, nhưng những ai là đầy tớ trung thành của Ðức Mẹ, hãy vững lòng tin tưởng: không bao giờ Ðức Mẹ từ bỏ con cái Người trong giờ sau hết, Người đã lĩnh quyền che chở ta trong giờ chết, khi Người đứng gần Thánh Giá lúc Chúa trút hơi thở cuối cùng.
Trong Kinh Kính Mừng, ta thường cầu xin: “Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử”. Ðức Mẹ hằng săn sóc nâng đỡ ta trong giờ chết. Người giúp bệnh nhân lướt thắng những chước cám dỗ nặng nề. Người vỗ về giờ chết. Người an ủi để bệnh nhân lấy cái chết làm nhẹ nhàng và để dọn mình về đời sau.
Thánh Anrê Avêlinô lúc hấp hối phải quỉ dữ khuấy khuất nặng nề. Ông thánh không ngừng kêu tên cực trọng Ðức Mẹ liên mãi, cho đến khi được yên giấc trong tay Ðức Mẹ.
Thánh Gioan lúc hấp hối cũng mắc phải những cơn cám dỗ mãnh liệt. Người hằng kêu xin Ðức Mẹ đến cứu chữa, nhưng chẳng thấy giảm bớt, thì lo buồn quá. Bỗng chốc Ðức Mẹ hiện ra, dùng lời dịu dàng mà quở trách ông thánh: “Ớ con, sao con lo buồn? Con hãy vững vàng trông cậy, không bao giờ Mẹ bỏ con cái trong giờ chết”.
Chẳng những Ðức Mẹ giúp đỡ bệnh nhân lướt thắng những cơn cám dỗ, Người lại giảm bớt những đau đớn và giúp bệnh nhân được chết lành. Người đã tỏ điều ấy cho bà thánh Birgitta rằng: “Chính Mẹ yên ủi con cái cho chúng bớt đau đớn và đỡ khiếp sợ thần chết”.
Ta muốn Ðức Mẹ thương giúp ta trong giờ sau hết, thì khi còn khỏe ta phải hết lòng sùng kính Mẹ. Ta hãy siêng năng lần hạt, mang ảnh Ðức Mẹ trong mình. Ta hãy noi gương Ðức Mẹ ăn ở thánh thiện, giữ lòng thanh tịnh và hết lòng mến Chúa yêu người. Vì sống thế nào thì chết thể ấy: sống lành thì chết lành, sống dữ thì chết dữ. Hằng ngày ta cũng nên cầu nguyện cho bao nhiêu người đang hấp hối được vững lòng dọn mình về đời sau, để ngày sau, họ cũng cầu nguyện cho ta được chết lành bằng yên.
Lạy Mẹ Maria là Đấng cứu giúp những ai ước ao chết lành, xin Mẹ cũng che chở chúng con trong giờ sau hết. Khi chúng con hấp hối trên giường bệnh, xin Mẹ an ủi nâng đỡ chúng con và giúp chúng con được chết lành trong tay Mẹ.

Thánh tích
Trước đây hơn một trăm năm, bên Hoa kỳ có chiến tranh. Dân sự tàn sát lẫn nhau giết hại rất nhiều. Trận Carôlina chết nhiều người hơn cả. Trong số đó, có một vệ binh tên là Patrixiô, còn trẻ tuổi bị thương nặng ở đầu. Ban cứu thương thấy Patrixiô phải dấu nặng gần chết, thì để lại không đưa về bệnh viện.
Patrixiô kiệt sức, không nói được, nhưng trong lòng còn tỉnh. Anh ta thầm thĩ kêu xin Ðức Mẹ: “Lạy Ðức Mẹ, Ðức Mẹ biết con đang mắc tội trọng, xin Ðức Mẹ liệu cho con được gặp thày cả trước khi chết”.
Ðức Mẹ thương nghe lời Patrixiô cầu xin. Ban cứu thương trước định bỏ, sau lại đưa anh về bệnh viện. Thấy đến nơi, các bà phước coi bệnh nhân thấy anh sắp chết liền liệu cho anh được xưng tội, chịu lễ và ăn mày các phép. Anh ta vui mừng và tạ ơn Ðức Mẹ, và đêm hôm ấy anh được chết lành bằng yên trong tay Ðức Mẹ.

Nguồn: Trang Giáo phận Cần Thơ



;

Ngày 21 Tháng NămThánh Crispin ở Viterbo(1668-1750) Thánh Crispin tên thật là Phêrô Fioretti, sinh ở Viterbo, nước Ý. Ng...
20/05/2026

Ngày 21 Tháng Năm
Thánh Crispin ở Viterbo
(1668-1750)


Thánh Crispin tên thật là Phêrô Fioretti, sinh ở Viterbo, nước Ý. Ngài mồ côi cha ngay khi còn nhỏ. Vì hay đau yếu mà nhà lại nghèo, nên bà mẹ đã dâng cậu con trai năm tuổi cho Ðức Mẹ. Biến cố đó không bao giờ phai nhạt trong đầu Phêrô mà sau này cậu thường coi Ðức Maria như mẹ ruột của mình.
Vì nghèo không đủ tiền đi học, Phêrô theo ông chú học nghề đóng giầy, cho đến khi 25 tuổi, Phêrô gia nhập dòng Capuchin với tư cách thầy trợ sĩ và lấy tên là Crispin.
Sau khi khấn trọn, ngài được giao cho công việc đầu bếp cho nhà dòng ở Tolfa. Như lúc còn ngoài đời, ngài luôn luôn sùng kính Ðức Mẹ và qua sự cầu nguyện của thầy, nhiều người đã được chữa lành về phần xác cũng như phần hồn. Có lần một nhà quý tộc vì sống trác táng nên bị đau nặng và đến xin Thầy Crispin cầu nguyện. Thầy hỏi, “Thưa ngài, ngài muốn Ðức Mẹ chữa ngài, nhưng nếu giả như có người xúc phạm đến Con của Mẹ thì người ấy có làm buồn lòng Ðức Mẹ không? Nếu thực sự sùng kính Ðức Mẹ thì không thể xúc phạm đến Con của Mẹ được”. Nhà quý tộc đã ăn năn sám hối và thay đổi đời sống.
Cùng với công việc đầu bếp, y tá, làm vườn, Thầy Crispin là người khất thực chính cho nhà dòng trong gần 40 năm. Ngay từ khi mặc áo dòng cho đến khi từ trần, thầy được Chúa ban cho ơn chữa lành bệnh tật và bất cứ ai đến với thầy đều cảm thấy phấn khởi và được bình an trong tâm hồn. Trong thời gian khất thực ở Orvieto, ngài không chỉ xin cho nhà dòng, mà còn xin cho tất cả những người nghèo ở đây.
Ngài đích thực là con cái của Thánh Phanxicô, luôn luôn vui vẻ và hăng say phục vụ cho đến khi từ trần vào lúc tám mươi hai tuổi. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Piô VII phong Chân Phước năm 1806 và Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II phong thánh cho ngài năm 1982.

Lời Bàn
Cha Henri de Lubac, dòng Tên, đã viết, “Chúng ta phải yêu quý thời đại của chúng ta, nhưng không nhượng bộ tinh thần của thời đại, có như thế, mầu nhiệm Kitô Giáo trong chúng ta sẽ không bao giờ mất sức sống” (Sự Huy Hoàng của Giáo Hội, t. 183). Thánh Crispin quý trọng bất cứ ai mà Thiên Chúa đã đưa đến với ngài và trong bất cứ thời gian nào. Thánh Crispin đã trở nên cuốn Phúc Âm sống động cho anh em dòng và cho người dân ở Orvieto. Sự thánh thiện của ngài đã khuyến khích họ sống bí tích rửa tội một cách độ lượng hơn.

Lời Trích
Trong bài giảng lễ phong Thánh cho Thầy Crispin, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói rằng gia đình nhân loại thường bị “cám dỗ bởi quyền tự trị lầm lạc, vì từ chối các giá trị Phúc Âm, do đó, nhân loại cần đến các thánh, là những gương mẫu đã dùng đời sống cụ thể của mình để minh chứng tính cách xác thực của Ðấng Tối Cao, giá trị của sự Mặc Khải và sự Cứu Ðộ mà Ðức Kitô đã hoàn thành” (Báo L’Observatore Romano 1982, tập 26, số 1).


Nguồn : Huynh đoàn Giáo dân Đa Minh Việt Nam



SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOANGÀY 20: ÐỨC MẸ CỨU CHỮA BỆNH NHÂN  Sau khi tổ tông phạm tội, con người trở nên yếu đuối, ...
19/05/2026

SÁCH THÁNG ĐỨC BÀ – THÁNG HOA
NGÀY 20: ÐỨC MẸ CỨU CHỮA BỆNH NHÂN

Sau khi tổ tông phạm tội, con người trở nên yếu đuối, mắc đủ các giống bệnh tật.
Thật vậy, nào ai ở thế gian có thể tự phụ mình vô bệnh tật. Từ lúc lọt lòng đến tuổi già, người giầu sang, kẻ nghèo hèn không ai thoát khỏi tai ác của bệnh tật. Vì tội, bệnh tật đã gieo mầm vào cơ thể con người từ lúc dựng thai, ta sinh trong tội lỗi thì cũng sinh trong bệnh tật.
Ðức Mẹ là Mẹ Chúa Giêsu cũng thương loài người và nhờ quyền thế Chúa ban cũng đã cứu chữa biết bao bệnh nhân. Giáo Hội đã xưng là “Ðức Bà cứu kẻ liệt kẻ khốn”.
Lịch sử đã cho ta biết rất nhiều bệnh nhân, bất cứ tôn giáo nào, đều được Mẹ chữa một cách mầu nhiệm. Trong các nhà thờ Ðức Mẹ ở thành Lorêto, thành Lyông, thành Balê, và nhiều nhà thờ khác bên Pháp, bên Ý và Ðức, người ta thấy rất nhiều bảng vàng treo trên tường, kể công ơn Ðức Mẹ đã chữa khỏi các bệnh nhân. Biết bao bệnh nhân được Ðức Mẹ chữa khỏi, đã chép sách ca tụng muôn đời lòng thương yêu Ðức Mẹ. Ngày nay ở Lộ Ðức số bệnh nhân được Ðức Mẹ chữa đã kể rất nhiều hằng năm có đến hàng vạn người. Cũng có nhiều bệnh nhân không được Ðức Mẹ chữa khỏi, nhưng Người ban ơn yên ủi để họ vui lòng chịu đựng hầu thêm công phúc.
Khi ta mắc bệnh, ta hãy vững lòng cầu xin Ðức Mẹ cứu chữa. Ta phải kiên tâm cầu xin cho đến khi Người cứu chữa. Nhiều người đã cầu xin mà chưa được, đã vội ngã lòng.
Phải cầu xin rằng: Lạy Mẹ, nếu sức khỏe phần xác sinh ích cho con phần hồn thì xin Mẹ chữa con cho. Nếu Ðức Mẹ biết sức khỏe ấy sẽ tác hại cho linh hồn con thì xin Mẹ giúp con chịu bệnh này cho vui lòng.
Nếu lâu ngày mà bệnh chẳng bớt, ta đừng buông lời kêu trách kẻo mất công phúc; vì mọi bệnh tật là hình phạt của tội ác, nếu ta vui lòng sẽ sinh ích rất nhiều cho ta.
Lạy Mẹ Maria rất thánh là Ðấng chữa được mọi bệnh nhân, khi Chúa cho chúng con phải ốm đau, xin Mẹ chữa chúng con. Nếu Chúa muốn chúng con phải chịu bệnh lâu năm, xin Mẹ giúp chúng con chịu cho nên, để những bệnh tật ở đời này nên như bậc thang đưa chúng con về thiên đàng.

Thánh tích
Ở làng kia, xa Lộ Đức năm ngày đường, có một bà tên là Ca mắc bệnh đã chín năm tròn. Bà ta không ăn, không ngủ được, đau xương, đau ruột đau khắp cả mình, lại sốt rét mê man. Bà cố sống, cũng chỉ sống ẻo lả, vì sinh khí đã suy nhược.
Bà ta bàng hoàng sống giở, chết giở, lú lẫn đến nỗi quên kinh đọc hằng ngày. Bà Ca dù kiệt sức nhưng cũng đến viếng hang đá Lộ Đức. Bà thuê một chiếc xe độc mã. Dọc đường bà kiệt sức, đã mấy lần ngất đi. Người ta tưởng khó lòng đưa bà tới Lộ Đức. Ðến nơi, người ta lay bà, khiêng tới một cửa hang, trong khi đó bà vẫn bất tỉnh.
Ðược một lúc bà hồi lại. Người ta đưa cho bà một bát nước suối Ðức Mẹ. Bà uống vài hớp không thấy chuyển bệnh; bà uống ngay hớp nữa, bà thấy trong mình đau đớn như đứt ruột nát gan, các khớp xương như tan rã.
Bà Ca nhìn ngắm tượng Ðức Mẹ trên cửa hang đá, bỗng bà thấy trong mình dễ chịu. Các bệnh tật dần dần biến hết. Bà vui mừng kêu lên: “Ô! Tôi khỏi rồi! Lạy Mẹ Maria! Con cảm tạ Mẹ đời đời! Con hết lòng cảm tạ Mẹ, vì Mẹ đã chữa con”.
Bà ấy ở lại tạ ơn trước tượng Ðức Mẹ ít lâu. Người ta thấy phép lạ cả thể ấy thì hết lòng tin cậy Ðức Mẹ. Bà Ca ăn uống khỏe mạnh như người không bệnh tật, bà ra về lòng hớn hở ca ngợi Ðức Mẹ. Ðể tỏ lòng biết ơn Ðức Mẹ, năm nào bà cũng đến viếng Ðức Mẹ ở Lộ Đức.

Nguồn: Trang Giáo phận Cần Thơ



;

Address

686/76 Cmt8, P5, Tân Bình
Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when IVDei VN Đường Nên Thánh posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share