Đạo Phật - Buddha Sāsana

Đạo Phật - Buddha Sāsana Truyền tải giáo lý và nguyên lý thực tập theo truyền thống Theravāda.

07/01/2026

Học trò: Thưa Sư Ông, con tu tại gia, nhiều ràng buộc quá. Con tự hỏi thiệt lòng, tu kiểu này có đi tới giải thoát được không, hay chỉ an ủi mình thôi ?

Sư Ông: Con hỏi vậy là thật thà, tốt. Tu mà không dám hỏi câu này là đang tự lừa mình rồi.

Đọc kinh con sẽ thấy rõ ý của Đức Phật: con đường chỉ có một hướng, là hướng ra khỏi tham, sân, si. Không có con đường song song vừa giữ chặt đời sống dính mắc, vừa mong giải thoát.

Người tại gia có thể đi trên đạo lộ đó, nhưng phải thấy cho rõ: cái gì đang giữ mình lại. Nếu con biết mình còn tham, còn dính mắc, còn sợ mất, mà không tìm cách nhìn thẳng và làm yếu nó, thì tu đó chỉ là để dễ chịu hơn, chưa phải để giải thoát.

Tu rốt ráo là dám chấp nhận rằng mình đang bị trói, và không biện hộ cho sợi dây đó.

Học trò: Con bận rộn nên hay tự nói với mình rằng tu trong đời sống là đủ, không cần nghiêm túc quá. Nghĩ vậy có sai không Sư Ông ?

Sư Ông: Tu trong đời sống là đúng. Nhưng dùng đời sống để trốn tránh tu thì sai.

Đức Phật dạy chánh niệm trong mọi oai nghi, nhưng Ngài cũng dạy tinh tấn, không buông lung. Nếu con nói “tu trong đời sống” mà tâm phóng dật, tham dục không giảm, sân không yếu đi, thì con đang tự che mắt mình.

Tu thật là mỗi ngày phải thấy rõ hơn cái gì nên bỏ, cái gì cần buông. Nếu năm này qua năm khác mà tham vẫn y nguyên, sân vẫn dữ, thì dù có gắn nhãn “tu trong đời”, con cũng phải thành thật nhìn lại.

Học trò: Dạ, thỉnh thoảng có người nói chỉ cần sống tốt, hiền lành, không cần giữ giới kỹ quá. Con nghe vậy thấy cũng xuôi tai.

Sư Ông: Xuôi tai là nguy hiểm. Đức Phật không dạy con đường dễ nghe, mà dạy con đường chấm dứt khổ.

Giữ giới là chỗ thử lòng trung thực nhất. Không sát, không trộm, không tà hạnh, không nói dối, không nghiện ngập. Nếu con còn cố tình phạm mà tìm lý do biện hộ, thì đó không phải là yếu đuối, mà là thiếu thành thật.

Giới không phải để khoe, mà để nhìn thẳng: mình còn tham tới mức nào. Không dám giữ giới là không dám nhìn sự thật.

Học trò: Về ăn chay, có người nói không cần, vì Đức Phật không bắt. Con sợ mình bám hình thức nên hay bỏ qua chuyện này.

Sư Ông:
Đúng là Đức Phật không bắt buộc ăn chay. Nhưng Ngài dạy rất rõ về ly tham và xả ly.

Nếu con vin vào chuyện “không bắt buộc” để nuôi dưỡng sự dễ dãi, thì đó là tà kiến tinh vi. Ngược lại, nếu con ép mình ăn chay để hơn người khác, thì cũng là chấp.
Câu hỏi không phải là ăn chay hay ăn mặn, mà là tâm con có đang giảm tham hay không. Mỗi lựa chọn đều nên soi bằng câu này. Nếu tham không giảm, thì phải coi lại, đừng đổ thừa giáo lý.

Học trò: Con niệm Phật, tụng kinh, nhưng ít khi ngồi thiền. Con hay nghĩ vậy cũng là tu rồi.

Sư Ông:
Niệm và tụng chỉ có giá trị khi đưa tâm về an tịnh và tỉnh giác. Nếu sau thời gian dài mà tâm con vẫn tán loạn, dính mắc, thì phải trung thực nhìn nhận rằng mình đang tu bằng thói quen, không phải bằng chánh niệm.

Đức Phật dạy con đường dẫn đến đoạn diệt là phải thấy rõ các pháp sinh diệt. Không thấy được sinh diệt thì chưa có chánh trí.

Đừng lấy số lượng nghi thức để thay cho chiều sâu tỉnh thức.

Học trò: Con tu mà vẫn còn sân, còn buồn, có khi còn tệ hơn trước. Con sợ mình tu sai.

Sư Ông: Con đừng sợ thấy phiền não. Con hãy sợ không dám thấy.
Tu đúng không phải là làm cho tâm sạch đẹp theo ý mình, mà là thấy rõ cái gì không sạch đẹp. Nhưng thấy rồi thì phải buông, không được nuôi.

Nếu con thấy sân mà vẫn nuôi sân, hợp thức hóa sân, thì đó là tu sai. Nếu con thấy sân và không đứng về phía nó, thì dù sân còn, con vẫn đi đúng hướng.

Học trò: Con làm phước nhiều, con nghĩ chắc bù lại mấy chỗ tu chưa tới.

Sư Ông: Đó là chỗ người tu hay tự gạt mình nhất. Phước không bù cho trí tuệ được.

Tri kiến nhà Phật rất rõ: phước đưa đến quả lành trong luân hồi, trí tuệ mới đưa ra khỏi luân hồi.

Làm phước mà không đoạn tận tham ái thì giống như trang trí cái nhà đang cháy. Đẹp đó, nhưng không ra khỏi lửa.

Học trò: Con học kinh không nhiều, con sợ mình tu thiếu căn bản.

Sư Ông: Thiếu kinh luận không nguy bằng thiếu trung thực.

Đức Phật không khen người học nhiều, mà khen người thực hành đúng. Con chỉ cần biết rõ một điều: pháp nào làm tăng tham, tăng sân, tăng ngã mạn, thì pháp đó không dẫn đến Niết-bàn.
Biết vậy rồi, mỗi ngày soi lại tâm mình, là con đang đi trong kinh rồi.

Học trò: Vậy rốt cuộc, tu rốt ráo là tu làm sao, thưa Sư Ông ?

Sư Ông: Tu rốt ráo là tu theo một hướng, không chia đôi.

Hướng đó là đoạn giảm tham ái, xả ly dính mắc, an tịnh thân tâm, phát sinh chánh trí.

Con không cần nói nhiều về Niết-bàn. Chỉ cần mỗi ngày nhìn coi cái gì trong mình đang bớt đi. Tham có bớt không. Sân có yếu không. Ngã mạn có vơi dần không.

Nếu những thứ đó không giảm, thì dù con nói pháp hay cỡ nào, con cũng đang đứng ngoài cửa đạo.

(facebook.com/dantoc.daophap)

Biên soạn bởi HERE & NOW.

05/01/2026

Sức mạnh của Tâm

Con người ngay từ thời xa xưa đã biết nhiều cách bảo trì sức khỏe để sống mạnh, sống vui và sống lâu. Ngày nay đa số mọi người tin tưởng vào các lương y, bác sĩ có khả năng, kiến thức. Sau khi được bác sĩ chẩn mạch, cho thuốc, bệnh nhân cũng phải có niềm tin vào thuốc và lời dặn của bác sĩ để chữa trị và duy trì thân thể được khỏe mạnh lâu dài.

Về phần tinh thần, tâm người đời vốn rất yếu đuối, hết lo âu đến buồn khổ, hết căng thẳng đến trầm cảm… Người Phật tử thuần thành tin Đức Phật có khả năng chữa cho con người khỏi các căn bệnh tâm linh. Ngài đã để lại nhiều toa thuốc vi diệu được phổ biến khắp nơi hơn 2500 năm nay, ai dùng cũng hết bệnh nếu có niềm tin vững mạnh. Với lòng tín thành vào Đức Phật và Giáo pháp như vậy, ta mới bắt đầu dùng pháp dược để trị bệnh tâm.

Phật pháp đã trở thành môn thuốc thần hiệu vì chính Đức Bổn Sư đã thành công trong việc tự trị liệu cho mình. Rồi vì lòng đại bi thương chúng sanh, Ngài truyền lại các phương thuốc này cho chúng sanh. Toa thuốc phổ biến nhất gồm có năm vị chính được gọi là Ngũ Lực gồm tín lực (đức tin), tấn lực (nỗ lực kiên trì), niệm lực (sức ghi nhận liên tục các đối tượng ngay trong giây phút hiện tại), định lực (định tâm trên đề mục), huệ lực (trí tuệ) nhằm bồi bổ, tăng cường năng lực tâm linh.

Người nào đã được năm vị thuốc này thấm nhập vào tâm thức sẽ thấy mình có nơi nương tựa, sức khỏe tâm linh ngày càng tăng trưởng, không bị chi phối bởi các điều kiện pháp bên ngoài, không bị những xung động của thế gian làm cho điên đảo…

Về tín lực, Đức Phật dạy không nên có lòng tin mù quáng, cũng đừng vội tin và cũng đừng vội bỏ khi nghe giáo pháp của Ngài mà phải chính mình thực hành để tự kiểm chứng. Chỉ khi thân chứng được giáo pháp thì đức tin mới không khi nào bị lay chuyển, thay đổi nữa.

Mấy ngày nay chúng ta đang thực hành, áp dụng phương thuốc của Đức Phật, bắt đầu bằng tinh tấn khởi động, kế đến là tinh tấn triển khai và tinh tấn kiên trì. Tinh tấn là một sức mạnh của thân lẫn tâm, giúp hành giả vượt qua nhiều thử thách trong khóa thiền: thân bị thời tiết, vật thực ảnh hưởng và tâm bị phiền não không ngừng chi phối. Tấn lực có khả năng loại trừ phiền nãotrong quá khứ, ngăn ngừa các bất thiện pháp trong tương lai.

Tấn lực liên tục đưa đến niệm lực mạnh mẽ, có khả năng ghi nhận kịp thời và chính xác các đề mục đang sanh khởi trong lúc bây giờ. Nhờ vậy niệm lực được thiết lập vững vàng. Tấn lực và niệm lực liên hành sẽ phát triển định lực mạnh mẽ. Nhờ định lực mạnh mẽ, tâm ghi nhận xuyên thấu đề mục giúp hành giả càng lúc càng thấy rõ đặc tánh, bản chất của các đối tượng hơn. Nói một cách khác, huệ lực ngày một thâm hậu.

Năm vị thuốc này có tương quan nhân quả chặt chẽ với nhau và sẽ vô cùng công hiệu khi làm việc hài hòa với nhau. Tín lực phải thăng bằng với huệ lực. Tấn lực phải thăng bằng với định lực. Riêng niệm lực thì không bao giờ dư thừa. Niệm lực gia tăng càng nhiều càng tốt và sẽ làm cho các lực kia gia tăng theo. Niệm lực ở chính giữa bốn lực kia làm cân bằng từng cặp.

Nói theo Vi Diệu Pháp thì tâm vương ví như tổng thống, tâm sở ví như các bộ trưởng trong nội các. Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ đều là tâm sở và khi được phát triển quân bình sẽ làm việc chặt chẽ với tâm vương mỗi khi tâm vương nhận biết sự có mặt đối tượng khiến việc hành thiền trôi chảy và có kết quả tạo nên sức mạnh cho tâm. Hành giả chúng ta đang thực tập để tạo nênsức mạnh đó. Có ngũ lực, hành giả sẽ tự nhiên có thái độ tu tập đúng đắn, gương mẫu, luôn luôn ở trong sự tác ý chú tâm có trí tuệ (yoniso manasikāra).

Ngũ căn khi phát triển thành sức mạnh thì gọi là ngũ lực. Niệm lực giúp các căn điều chỉnh thân tâm sao cho thăng bằng, thoải mái trong mỗi oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm. Hành giả rất cần ngũ lực để đối đầu với mọi chướng ngại trong tâm.

Mong năm lực này sẽ luôn là bạn lành của hành giả, là sức mạnh của tâm nâng đỡ hành giả trong mỗi hơi thở, mỗi bước chân, để “chế ngự tham ưu ở đời” tức là những phiền não đối với thân tâm. Ngũ lực tròn đủ, vững mạnh chắc chắn sẽ đưa hành giả đến đất lành của sự an vui tuyệt đối.



Nam-mô Phật Pháp Tăng Tam Bảo
Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(!) Fanpage được quản lý bởi Facebook.com/HERENOW.Life. Ngài Kim Triệu và các thiền viện không sử dụng trang này!

Mong cho tất cả an vui 🌿

05/01/2026

Dipa Ma Thức Tỉnh Tâm Linh

“Trong vòng mười năm, Dipa Ma đã mất hai con, chồng và sức khỏe của Bà. Chỉ ngoài bốn mươi tuổi, Bà trở thành góa phụ phải một mình nuôi dạy đứa con gái bảy tuổi. Cha mẹ đã qua đời, quê hương Ấn thì xa diệu vợi và Bà đang chìm ngập trong nỗi sầu lo bối rối.

“Tôi cũng chẳng biết phải làm gì, đi đâu, hay sống bằng cách nào đây?” Bà than thở. “Tôi chẳng có chút gì để gọi là của tôi, chẳng có ai để gọi là người thân.” Tháng tháng trôi qua, và Bà chỉ biết cầm bức ảnh của Rijani để trên đùi mà than, mà khóc. Mấy năm kế tiếp theo, sức khỏe Bà càng ngày càng suy giảm. Hoàn cảnh thật nghiêm trọng khiến Bà nghĩ, hy vọng cuối cùng của Bà để sống sót là phải thực tập thiền. Bà ngao ngán ngắm cảnh ngộ trớ trêu của mình. Khi còn trẻ, đầy đủ sức khỏe, sốt sắng ham muốn hành thiền, thì lại bị ngăn cản.

Giờ đây, với trách nhiệm nuôi dạy con thơ và sức khỏe đã mỏi mòn, đang tuyệt vọng đối đầu với cái chết, Bà cảm thấy chẳng còn lối thoát nào hơn là mang trái tim rạn vỡ đi vào cõi chết, trừ phi Bà làm được một chút gì để thay đổi được tâm trạng của Bà.

Bà tự hỏi, “Tôi mang theo được gì khi tôi chết?” Bà nhìn đến của hồi môn, mấy chiếc áo san bằng lụa, vòng vàng nữ trang, và cả đứa con gái thân yêu. “Tôi có yêu con tôi cho lắm đi nữa, tôi cũng không thể nào mang nó theo tôi được... Thôi thì, cứ đến trung tâm thiền tập đi. Biết đâu đến đó, tôi tìm ra được chút gì tôi có thể mang theo, khi tôi chết.”

Ngay trong phút mà cuộc đời đã tuột xuống đến mức thấp nhất, Đức Phật đã hiện ra trong giấc mộng của Bà. Trong ánh hào quang rực rỡ, Ngài đã dịu dàng ngâm lên bài Kệ trong Kinh Pháp Cú (Dhammapada), trước đây đã được Ngài nói lên để an ủi một người cha vừa mất đứa con trai:

“Luyến ái sanh sầu muộn,
Trìu mến sanh lo sợ.
Ai cắt đứt dây luyến ái
Không sầu, sao có sợ?”

Khi Dipa Ma tỉnh giấc, Bà cảm thấy tâm an tịnh và trong sáng. Bà biết ngay, mình phải học tập thiền, cho dầu tình trạng sức khỏe ra sao đi chăng nữa. Bà hiểu rõ lời Đức Phật dạy: muốn an tịnh thật sự, Bà phải thực tập cho đến khi nào cắt đứt mọi luyến ái ràng buộc và lo âu. Mặc dầu cả đời sống theo các lễ nghi Phật giáo, Bà chỉ biết rất ít về những gì việc tu tập thiền đòi hỏi. Trực giác Bà đã đẩy đưa Bà theo con đường xưa hứa hẹn sẽ được giải thoát khỏi mọi khổ đau.

Khác với phương pháp thiền chỉ (Samatha) theo đó sự chú tâm được an trú trên một đối tượng duy nhất, Thiền Minh Sát (Vipassanā) lại soi chiếu vào bản chất đổi thay liên tục của đối tượng. “Minh Sát” nghĩa là soi thấy thật rõ ràng về ba đặc tính của đối tượng: vô thường, bất toại nguyện, và vô ngã. Đức Phật dạy rằng, xuyên qua thiền quán, ta có thể phá vỡ các ảo tưởng đã hạn chế cuộc đời của chúng ta. Giải thoát, hoặc giác ngộ, căn cứ theo Giáo Pháp của Đức Phật, nằm trong kinh nghiệm về bản chất thật sự của đời sống.

Dipa Ma sắp xếp mọi việc để đi đến Trung Tâm Thiền Kamayut ở Rangoon. Tất cả những gì chồng Bà để lại tài sản, nữ trang, và các vật dụng khác – Bà giao cho người láng giềng trước cửa, “Xin làm ơn vui lòng nhận hết tất cả những gì tôi có đây, và dùng đó để nuôi dưỡng con tôi, Dipa”. Bà chẳng hy vọng sẽ trở về lại. Nếu thế nào Bà cũng sắp đi vào cõi chết, Bà tự nhủ, sao lại chẳng đi tới chết tại trung tâm thiền tập?

Khóa thiền đầu tiên của Dipa Ma không được như mong muốn. Vừa đến trung tâm. Bà được chỉ cho một căn phòng và dặn qua các điều căn bản về thực tập, rồi bảo bốn giờ chiều ngày hôm sau phải đến trình pháp tại đại sảnh của thiền đường. Bà bắt đầu thực tập ngay từ sáng sớm, trước chú tâm vào hơi thở, kế đến các cảm giác, ý nghĩ, và các tình cảm khởi lên trên thân và trong tâm Bà. Ngày giờ lặng lẽ trôi qua, định lực của Bà từ từ lắng sâu. Chiều hôm đó Bà đi bộ đến đại sảnh của thiền đường để gặp thiền sư. Thình lình Bà ngừng lại, không thể nào bước tới. Bà không biết chắc tại sao, Bà chỉ biết mình không cách gì dở chân lên được. Bà đứng khựng đó, bối rối nhưng chẳng quá hoảng hốt lo âu, trong vài phút. Cuối cùng, Bà nhìn xuống và thấy một con chó to lớn đang ngoạm chặt chân Bà. Định lực của Bà mới đó đã thâm sâu, ngay từ những giờ đầu tiên vừa thực tập, đến độ Bà chẳng còn cảm giác.

Bật ra khỏi cơn thiền định, Dipa Ma cất tiếng kêu cứu và cố vùng vẫy kéo chân ra. Con chó vẫn không chịu nhả, sau cùng mấy vị sư đến mới đàn áp được chó và đuổi nó đi. Mặc dầu được trấn an là con chó không điên, nhưng Dipa Ma lại sợ chết - trớ trêu thay, trước đó chính Bà cũng muốn đến để chết ở trung tâm thiền tập! - nên tìm đến bịnh viện để được chích ngừa chó dại. Đi nhà trường và trở về như thế có nghĩa là Bà phải mất phần ăn, vì theo truyền thống tại các tu viện Nam Tông, bữa ăn chỉ được cung cấp một lần mỗi ngày và phải dùng trước giờ Ngọ. Không bao lâu, Dipa Ma kiệt sức, các vị sư khuyên Bà nên trở về nhà để hồi phục sức khỏe lại.

Ở nhà đứa con gái nhỏ của Bà bấn loạn lên vì mẹ bỏ đi đột ngột, bây giờ không chịu rời mẹ lấy một bước. Dipa Ma nghĩ cơ hội duy nhất để được giác ngộ đã qua mất rồi. Bà thường tức tưởi khóc, khóc cho sự thất bại ê chề.

Tuy nhiên, Bà không chịu bỏ cuộc việc tu tập. Được chỉ dạy các điều căn bản sơ lược trong một ngày ngắn ngủi. Bà kiên nhẫn hành thiền trong nhiều năm, ngay tại nhà, mỗi khi Bà tìm được thời giờ rảnh. Bà tin tưởng chắc chắn rằng rồi đây sẽ có một cơ hội khác để đi an cư lần nữa. Cơ hội đó đến với Dipa Ma khi Bà hay tin có một người bạn trong gia đình và là một vị giáo thọ, pháp hiệu là Anagarika Munindra, đang ngụ tại một trung tâm thiền tập ở gần đấy. (Anagarika có nghĩa là xuất gia, rời bỏ gia đình đi tu). Bà liền thỉnh Sư đến nhà và trong khi Sư dùng trà, Bà thuật lại kinh nghiệm thiền tập vừa qua. Munindra khuyến khích Bà nên đến thiền viện Thathana Yeiktha, nơi mà Sư đang thiền tập tích cực, dưới sự giám thủ của Đại Lão Hòa thượng Mahasi, vị thiền sư và học giả lỗi lạc nhất ở Miến Điện vào thời bấy giờ. Như thế, Dipa Ma được duyên may hiếm có đến thọ giáo với một bậc thầy vĩ đại có sự hướng dẫn bằng tiếng mẹ đẻ của một người bạn trong gia đình. Đồng thời vào độ ấy, em của Bà là Hema cùng gia đình vừa mới sang định cư ở Miến Điện, thành ra Dipa có thể về ở với dì dượng, cùng anh chị em họ trong khi Bà đến thiền viện.

Dipa Ma tham dự kỳ thiền này với một tâm trạng khác hẳn - ít hối hả vụt chạc hơn, nhiều chuẩn bị và trầm tĩnh hơn. Mặc dầu từ ngày Rijani mất Bà bị bịnh mất ngủ, nhưng nay Bà khó giữ sao cho khỏi ngủ gục. Tuy nhiên, đến ngày thứ ba, Bà đã đắc được một trạng thái định lực sâu, rồi nhu cầu ngủ nghỉ và ăn uống cũng không còn. Munindra lo ngại cho định lực của Bà mất thăng bằng, nên khuyên Bà phải tham dự các thời pháp hàng tuần của Ngài Mahasi, dù Bà chẳng hiểu tiếng Miến Điện. Bà đâu muốn đi, nhưng Munindra cứ khuyên mãi, nên để làm vừa lòng Sư, Bà phải đến đó.

Trên đường đến nghe pháp, Dipa Ma thấy tim đập loạn động, tay chân yếu ớt, nên phải bò lên cầu thang vào chánh điện. Bà chẳng hiểu tí nào về bài pháp, nhưng cứ tiếp tục ngồi hành thiền. Sau thời pháp, Dipa Ma không thể đứng lên nổi. Dán chặt vào chỗ ngồi, thân Bà trở nên cứng ngắt, bất động dưới ảnh hưởng của sức định thâm sâu.

Trong những ngày sau đó, công phu thực tập của Dipa Ma tiến bộ vượt bực, khi Bà nhanh chóng vượt qua trình tự phát triển về tuệ Minh Sát trước khi chứng ngộ, đã được mô tả rõ trong Giáo Pháp của truyền thống Theravāda (Phật giáo nguyên thủy). Bà thể nghiệm một ánh sáng chói lọi, tiếp theo cảm giác mọi sự vật chung quanh Bà đang từ từ tan vở.

Thân Bà, sàn gỗ, mọi vật, đều rạn nứt từng mảnh, bể nát và trống rỗng. Điều đó đã đưa đến một sự đau đớn tột cùng cả thể xác lẫn tinh thần, với một cảm giác bị nung đốt và co rút nhức buốt làm toàn thân như sắp bị nổ tung.

Rồi một điều kỳ lạ xảy đến. Trong giây phút bình thường - vào ban ngày, Bà đang ngồi trên sàn nhà thực tập cùng với một nhóm thiền sinh - một sự chuyển tiếp tức khắc vô cùng an tịnh và vi tế, xem như chẳng có gì xảy ra cả. Giây phút sáng chói đó, sau này Bà Dipa Ma chỉ nói, “Tôi cũng chẳng biết nữa”, vậy mà cả cuộc đời còn lại của Bà đã được chuyển hóa một cách thật sâu xa kỳ diệu.

Sau ba thập niên đi tìm sự giải thoát, vào tuổi đã năm mươi ba chỉ qua sáu ngày thực tập, Dipa Ma đã đạt đến nấc thang đầu của sự chứng ngộ. (Như đã diễn tả trong Thanh Tịnh Đạo, truyền thống Theravāda công nhận có bốn giai đoạn giác ngộ. Mỗi giai đoạn là một tiến trình thanh lọc tâm được hành giả tự nhận biết rõ ràng). Gần như tức khắc liền sau đó, huyết áp của Bà trở lại mức bình thường và các hồi tim đập mạnh cũng giảm xuống. Trước đây Bà không thể bước lên cầu thang giảng đường của thiền viện, bây giờ leo lên chẳng chút mệt nhọc, và Bà cất bước với bất cứ nhịp độ nào.

Dipa Ma tiếp tục thực tập ở thiền viện ThathanaYeiktha thêm hai tháng nữa, rồi trở về nhà ở Rangoon. Vài tuần lễ sau, Bà đi đi lại lại thiền viện trong suốt một năm. Vào khóa thiền kế đó, Bà lại đạt thêm một thân chứng mới, chỉ sau năm ngày thực tập. Con đường đưa tới tuệ giác này cũng giống như lần trước ngoại trừ sự đau đớn lại gia tăng hơn. Sau khi đạt đến mức chứng ngộ thứ hai, tình trạng thể chất và tâm linh lại thay đổi hơn nữa; nơi Bà, sự xao động bất an giảm hẳn, còn tiềm năng chịu đựng lại gia tăng hơn.

Những ai trước kia được biết Dipa Ma đều kinh ngạc trước mọi thay đổi nhanh chóng của Bà. Rất nhanh, từ một thiếu phụ bịnh hoạn, nhu nhược, sầu não, Bà đã biến thành một người đàn bà tráng kiện, tự lập và rạng rỡ. Dipa Ma nói với các người chung quanh: “Các bạn đã biết tôi dạo trước ra sao. Tôi đã gục ngã não nề trước cái chết của chồng con, trước bịnh hoạn. Tôi đã đau khổ thái quá đến nỗi không cất nổi bước chân đi cho đàng hoàng. Nhưng bây giờ đây các bạn thấy không? Tất cả bịnh tật đều biến mất. Tôi tươi tắn, chẳng còn gì vướng bận trong tâm, không sầu lo, không hiềm hận. Tôi hoàn toàn an lạc. Nếu các bạn tới tập thiền, các bạn cũng sẽ an lạc. Chỉ cần làm đúng các lời chỉ dẫn thôi”.

Phấn khởi noi gương Dipa Ma, các bạn hữu cùng gia đình họ đều đến trung tâm thực tập. Những người đến đầu tiên là em Bà, Hema và bạn thân là Khui Ma. Bà Hema mặc dầu có tám con, năm người còn ở chung trong gia đình, vẫn tìm đủ thời giờ đi thực tập với chị trong gần một năm. Sau đó, Dipa và các con của Hema cũng đến gia nhập. Một cảnh tượng cảm động đáng ghi nhớ là hai thế hệ phụ nữ trung niên và thiếu nữ vào tuổi cập kê cùng ngồi tập thiền bên cạnh các vị sư khắc khổ mặc áo cà sa màu vàng. Các thiền viện trưởng chẳng đủ chỗ trú cho các nữ thiền sinh, và họ phải chen chúc nhau trong những căn phòng nhỏ hẹp xây cất tận góc cuối của thiền viện. Con gái bà Hema, Daw Than Myint kể lại, họ phải len qua các bụi rậm trên đồi cao để có thể đi đến nơi trình pháp với thiền sư Munindra.

Trong những ngày trường nghỉ lễ, Dipa Ma và Hema có khi được đến sáu đứa con bên cạnh họ. Dầu không khí thân mật như trong gia đình, kỷ luật lại nghiêm khắc. “Cả một gia đình chúng tôi ăn cơm trong im lặng”, Daw Than Myint nhắc lại, “Và chẳng ai nhìn nhau. Thật là hết sức đặc biệt!” Trong năm thực tập “phi thường” đó, tất cả sáu đứa con của thị tộc Barua, bốn gái hai trai, đã thành tựu ít nhất mức chứng ngộ đầu tiên. Việc cô Dipa nhiệt thành tập thiền là một phần thưởng quí giá cho mẹ, Dipa Ma. Bà muốn trao cho con một tặng phẩm có giá trị lâu dài, một “tặng phẩm vô giá”. Bà nhắc đi, nhắc lại mãi với Dipa rằng thiền tập cống hiến con đường duy nhất đi đến bình an.

Em của Dipa Ma là Hema cũng rất thâm hậu trong thiền tập và đã tiến bộ song song với Dipa Ma. Daw Than Myint đã kể lại hiệu lực mạnh mẽ của thiền tập đã đến với mẹ cô, như sau:

Khi tôi vừa về đến nhà sau kỳ nghỉ hè ở đại học, không thấy mẹ ra đón tôi. Thật là khác thường, bởi vì bà chẳng hề vắng nhà lâu như thế. Anh chị tôi cho tôi hay mẹ đang ở trung tâm tập thiền. Khi tôi đến trung tâm, tôi thấy mẹ tôi đang ngồi gần thiền sư Munindra, bà rất an tịnh, điềm nhiên và có vẻ không nhận ra tôi đang đi đến. Tôi rất xúc động. Tôi cũng muốn được xa vắng như thế. Tôi quyết định, nếu tập thiền mà thay đổi được mẹ tôi như thế, thì thiền phải có năng lực mạnh lắm và tôi cũng cần phải thực tập. Dĩ nhiên, sau này tôi mới hiểu ra dược là thiền không phải cốt chỉ để điềm nhiên và xa vắng.

Nhưng, đâu phải tất cả mọi người trong gia đình đều nỗng nhiệt với sự thay đổi của Hema:

Cha tôi rất bất mãn vì mẹ tôi chẳng nhúng tay vào việc nội trợ, bà chỉ ngồi, ngồi và ngồi, cho nên cha tôi dọa sẽ mách với Đại Lão Hòa thượng Mahasi. Mẹ tôi bảo: "Tốt!”. Khi cha tôi đến trình với Hòa thượng Ngài thuyết phục cha tôi nên bắt đầu việc thiền tập của chính ông. Chẳng bao lâu, cha tôi cũng được được tuệ giác, rồi ông chẳng hề phiền hà việc mẹ tôi ngồi nhiều quá nữa.

Đến năm 1965, Dipa Ma được thu hút theo một chiều hướng mới của việc thực tập thiền. Biết trước thiền sư Munindra sắp trở về Ấn Độ, Đại Lão Hòa thượng Mahasi bảo đệ tử rằng, trước khi quay về với “mảnh đất của thần thông”, sư cũng nên biết đôi chút về các năng lực tâm linh này. Ngài muốn truyền thọ cho Munindra các phép thần thông, nhưng Munindra quá bận bịu với việc giảng dạy không đủ thời giờ để tập luyện. Thay vì thế, Munindra quyết định huấn luyện các người khác để có thể phần nào chứng minh rằng thần thông là điều có thật. Nhằm vào mục tiêu này, ông chọn các đệ tử tiến bộ nhất của ông, Dipa Ma và gia đình Bà, và huấn luyện họ theo phương pháp được rút thẳng từ trong sách Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga). Munindra biết rõ thần thông chẳng những phi luân lý mà còn có tiềm năng cám dỗ nữa. Nguy cơ lạm dụng rất lớn, trừ phi căn bản đạo đức của người đệ tử được đảm bảo. Dipa Ma được tuyển chọn, chẳng những vì định lực thâm hậu mà còn là vì đức độ toàn bích của Bà nữa.

Dipa Ma, Hema và ba người con gái của họ được mời làm quen với các môn: phân tán vật chất, phân thân, nấu nướng không cần lửa, tha tâm thông, du hành cõi trời và địa ngục, vượt thời gian, túc mạng thông, và nhiều môn khác nữa. Trong hàng các đệ tử của Munindra về thần thông, Dipa Ma là hành giả thâm hậu nhất mà cũng lại hay hí lộng nhất. Bà thường hững hờ đến trình pháp với Munindra bằng cách đi xuyên qua tường, hoặc giữa khoảng không khí loảng. Bà học cách sử dụng theo ý mình muốn mọi khả năng về tâm trí và chế phục được tất cả năm loại thần thông (Xem Chương 9)

Từ năm 1966, sau khi Munindra đã rời về Ấn Độ, Dipa Ma trở thành vị thiền sư mà rất nhiều người tìm đến để được hướng dẫn và Bà bắt đầu giảng dạy tại Rangoon. Bà rất hân hoan cống hiến sự an lạc đến cho những người khác, sự an lạc mà chính Bà đã tìm thấy và Bà đã thuyết phục được nhiều thân bằng quyến thuộc cùng Bà thực tập thiền định.

Đệ tử chính thức của Dipa Ma là người láng giềng với Bà, tên là Malati Barua, một góa phụ phải nuôi dưỡng một mình sáu đứa con. Trường họp của Malati là một thách thức kỳ thú: bà ta rất nhiệt tâm muốn tập thiền, nhưng chẳng thể rời nhà đi đến thiền đường. Dipa Ma tin rằng giác ngộ có thể xảy ra ở bất cứ môi trường nào, đã nghĩ một phương cách cho người đệ tử mới của mình có thể thực tập ngay tại nhà Bà bảo Malati hãy bền bỉ và cương quyết ghi nhận cái cảm giác khởi lên khi đứa hài nhi nút vào núm vú mình, trong mỗi lần cho con bú mớm, với một sự tỉnh thức toàn vẹn. Sự ghi nhận đó kéo dài hàng giờ mỗi ngày, và đúng như Dipa Ma đã kỳ vọng, Malati đã đạt đến giai đoạn đầu giác ngộ mà chẳng cần ra khỏi nhà.

Như thế, Dipa Ma đã bắt đầu sự nghiệp hướng dẫn các bà nội trợ đi đến trí huệ, ngay giữa đòi sống bận rộn của họ trong gia đình.”




Trích: Cuộc Ðời Và Di Huấn (The Life and Legacy of A Buddhist Master). Thiện Nhựt dịch Việt.

Nam-mô Phật Pháp Tăng Tam Bảo
Nam-mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

(!) Fanpage được quản lý bởi Facebook.com/dantoc.daophap. Ngài Kim Triệu và các thiền viện không sử dụng trang này!

Mong cho tất cả an vui 🌿

Shared by HERE & NOW.

05/01/2026

Làm tu nữ hay xuất gia gieo duyên là vô phước, phá đạo, mang nghiệp đoạ cõi khổ ?

Học trò: Bạch Sư Ông, có người nói rằng thời hạn cho phép người nữ xuất gia làm Bhikkhunī đã hết. Điều này có đúng với Luật tạng không ?

Sư Ông: Không đúng. Trong toàn bộ Luật tạng Pāli, Đức Phật không hề đặt ra thời hạn cho Ni đoàn.
Ngài chỉ nói rằng khi Ni đoàn được thành lập, thời gian tồn tại của Chánh pháp có thể bị rút ngắn, đó là lời tiên liệu, không phải điều luật bãi bỏ.

Trong Cullavagga, Luật tạng, Đức Phật dạy Tôn giả Ānanda như vậy, nhưng Ngài chưa từng nói rằng: đến lúc nào đó Ni đoàn sẽ không còn hợp pháp.

Lịch sử có thể làm gián đoạn dòng truyền thừa, nhưng Pháp và Luật không tự biến mất. Hình thức có thể mất đi do nhân duyên, nhưng quyền được tu tập và chứng đắc của nữ giới là bất biến.

Học trò: Nhưng thưa Sư Ông, tu nữ không có vị trí trong Tứ chúng. Vậy việc làm tu nữ có phải là vô nghĩa không ?

Sư Ông: Con đang nhìn đạo Phật qua lăng kính của một nhà quản trị, chứ chưa nhìn bằng con mắt của một người tu giải thoát. Con nói đúng về mặt Chế định, nhưng lại hiểu lầm về mặt Thực tại.

Sư Ông làm rõ cho con ba điều này:

1) Trong Luật tạng, Đức Phật thiết lập hệ thống Tứ chúng để quản lý Tăng-già, tạo ra một cấu trúc pháp lý để duy trì truyền thừa. Đúng, Tu nữ không phải là một “ngôi vị” được chế định trong văn bản gốc. Họ hiện ngang qua đời với danh phận của một người cư sĩ giữ giới hạnh cao (Upāsikā).
Nhưng con hãy tự hỏi: Cái gì dẫn người ta đến Niết-bàn ?

Có phải là một vị trí trong danh sách Tăng đoàn không ?
Hay là sự đoạn tận Tham, Sân, Si trong tâm ?

2) Đức Phật đã lường trước việc con người sẽ chấp vào hình tướng, nên Ngài đã dạy rất rõ trong Kinh Pháp Cú (câu 142):
Dù trang sức lộng lẫy,
Nhưng nhiếp phục an bình,
Tự chế, tu phạm hạnh,
Không sát hại sanh linh,
Ðó là Bà-la-môn,
Tỳ kheo hay khất sĩ.

Nếu một người Tu nữ giữ 8 giới hay 10 giới, sống đời viễn ly, ngày đêm tỉnh giác chánh niệm, thì dù thế gian không gọi họ là Tỳ-kheo-ni, thì Pháp vẫn gọi họ là bậc Thánh nếu họ chứng đắc. Chánh pháp không có mắt để nhìn màu y, Chánh pháp chỉ có “mắt” để nhìn tâm giải thoát.

3) Con phải phân biệt được:

Luật (Vinaya) là để giữ gìn sự trang nghiêm của Tăng-già. Nếu không có Luật, Tăng đoàn sẽ loạn.

Pháp (Dhamma) là bản chất của sự thật, là con đường để chấm dứt khổ đau.

Một Tu nữ có thể nằm ngoài “vòng tròn pháp lý” của Luật tạng nguyên thủy, nhưng nếu họ đi đúng lộ trình Giới - Định - Tuệ, họ vẫn đang đi giữa lòng Chánh pháp. Con nói họ vô nghĩa, chẳng khác nào nói một người đi bộ không có tư cách tới đích bằng người đi xe. Xe có thể hỏng (lịch sử gián đoạn), nhưng đôi chân của sự tinh tấn thì không bao giờ phản bội hành giả.

Đừng để những con chữ trong kinh điển trở thành sợi dây trói buộc sự phán xét của con. Một người tu mà tâm đầy phân biệt “vị trí”, đầy sự khinh mạn với những người “không danh chính ngôn thuận”, thì dù họ có đứng đầu Tứ chúng, họ vẫn còn cách xa cửa đạo.

Vô nghĩa hay có nghĩa, không phụ thuộc vào việc con là ai trong mắt mọi người, mà phụ thuộc vào việc con đã buông bỏ được bao nhiêu gánh nặng trong tâm mình.

Học trò:
Có người nói rằng “xuất gia gieo duyên” không có trong Luật, nên làm vậy là sai pháp ?

Sư Ông: Con nói “không có trong Luật” thì đúng, nhưng nói “sai Pháp” thì lại là một sự hiểu lầm lớn.

Trong Luật tạng Pāli, ý định xuất gia luôn mặc định là trọn đời. Không có một chương mục nào hướng dẫn nghi thức cho việc “tu thử” hay “tu ngắn hạn rồi về”.

Các bậc trưởng lão giữ luật khắt khe có lý do của họ: Để bảo vệ sự tôn nghiêm của Tăng già, tránh việc coi đi tu như một cuộc dạo chơi hay một khóa học kỹ năng sống.

Vì vậy, nếu xét trên mặt chữ nghĩa của giới bổn, “xuất gia gieo duyên” là một sự biến cách về sau, không phải định chế gốc.

Tính uyển chuyển và cứu cánh
Pháp của Đức Phật là để giảm khổ. Nếu một người vì bận rộn chưa thể xuất gia trọn đời, nhưng họ dành ra 7 ngày hay 1 tháng để khép mình vào giới hạnh, tập ăn ngọ, tập thiền định thiền tuệ, tập buông bỏ điện thoại và danh lợi... thì đó là hành động hợp Pháp.

Trong tâm lý học Phật giáo (Abhidhamma), nghiệp được quyết định bởi Tác ý (Cetanā). Nếu một người đi tu gieo duyên với tâm cầu học, hướng thiện, thì họ đang tạo thiện nghiệp cực lớn. Không thể có chuyện một người đang tập sống phạm hạnh của bậc xuất thế (dù chỉ trong vài ngày) mà lại bị coi là “sai pháp” hay “phá đạo”.

Có những người nhờ 7 ngày “gieo duyên” đó mà thay đổi hoàn toàn tâm tính, trở thành một người cư sĩ tốt, hoặc sau này mới đủ quyết tâm để xuất gia thật sự. Đó chính là ý nghĩa của chữ “Gieo duyên” - gieo hạt giống lành vào tâm thức.

Sư Ông muốn con lưu ý: Một người giữ luật trọn đời nhưng tâm đầy ngã mạn, luôn nhìn xuống và phán xét người khác là “tu sai”, “tu giả" - thì người đó tuy giữ đúng Luật nhưng đã đi lệch Pháp.

Ngược lại, một người tu gieo duyên tuy hình thức chưa trọn vẹn theo truyền thống cổ xưa, nhưng tâm họ khiêm cung, khao khát tu tiến thì họ đang ở gần Đức Phật hơn bao giờ hết.

Luật là để bảo vệ đoàn thể Tăng già bền vững (như cái khung nhà).
Pháp là để nuôi dưỡng tâm hồn (như hơi ấm trong nhà).

Đừng vì cái khung nhà chưa đúng kiểu mẫu cổ xưa mà vội vàng dập tắt đi ngọn lửa thiện tâm của người khác. “Gieo duyên" dù ngắn ngủi, vẫn quý giá hơn cả một đời không biết đến mùi vị của sự viễn ly.

Học trò: Thưa Sư Ông, vậy nói rằng làm tu nữ hay xuất gia gieo duyên là vô phước, phá đạo, mang nghiệp đọa khổ có đúng không ?

Sư Ông: Đó là lời nói rất nặng, và không phù hợp với tinh thần Phật pháp.

Nghiệp được tạo bởi tác ý, không phải bởi nhãn mác tu tập. Một người giữ giới tốt hơn, có tu tập thiền, bớt tham sân si hơn, tâm thanh tịnh hơn, thì làm sao gọi là vô phước ?

Còn nói “phá Tăng” thì càng sai.
Phá hòa hợp Tăng là một trọng tội, phải có Tăng-già hợp pháp, có ý đồ chia rẽ, có hành vi gây phân ly thực sự. Một người tu tập lặng lẽ, không lập Tăng-già, không lôi kéo ai, không hội đủ điều kiện phá Tăng.

Gán tội nặng như vậy là trái Luật, không phải giữ Luật.

Học trò:
Con nghe Sayadaw U Jotika thường nhắc đến việc đừng chấp vào quan điểm. Ngài nhìn vấn đề này thế nào, thưa Sư Ông ?

Sư Ông: Pháp không phải là để trở thành một cái gì, mà là để thấy rõ khổ và buông bỏ.

Một trong những phiền não nguy hiểm nhất là tin chắc rằng “cách hiểu Pháp của mình là đúng”.

Nếu tu tập mà khiến con dễ phán xét hơn, khô cứng hơn, thì con đang đi lệch hướng, dù miệng nói Luật hay Pháp.

Học trò:
Còn Ajahn Chah thì sao, thưa Sư Ông ? Ngài rất nghiêm Luật phải không ?

Sư Ông: Ajahn Chah giữ Luật rất nghiêm, nhưng Ngài dạy: “Luật là công cụ để soi lại tâm mình, không phải cây thước để đo và kết án người khác.”

Có người khoác y mà tâm vẫn đầy phiền não, có cư sĩ mà tâm rất an bình.

Nguy hiểm cho đạo không phải là người tu chưa đúng hình thức, mà là chấp quan điểm rồi tranh chấp vì quan điểm ấy.

Học trò: Vậy rốt cuộc, Sư Ông kết luận thế nào ?

Sư Ông: Con có thể nói một cách ngay thẳng rằng: hình thức ấy không phải là chế định theo Luật nguyên thủy.

Nhưng con không có quyền nói rằng: vô nghĩa, vô phước, phá đạo, đọa lạc.

Vì những lời đó không dựa trên Luật, không hợp với Kinh, và không phản ánh trí tuệ Phật pháp.

Người học đạo nên nhớ:
Luật để giữ thân.
Pháp để giải thoát tâm.
Nếu giữ Luật mà tâm đầy kết án, thì con đã đánh mất Pháp rồi.

(facebook.com/dantoc.daophap)

Biên soạn bởi HERE & NOW.

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Đạo Phật - Buddha Sāsana posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Đạo Phật - Buddha Sāsana:

Share