Tìm Hiểu Công Giáo

Tìm Hiểu Công Giáo Kiến thức Giáo lý - Giải đáp thắc mắc Công giáo

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - 1.11• Không tham dự Lễ Các Thánh Nam Nữ có tội không?Trả lời: Trước tiên, phải hiểu thế nào là lễ ...
01/11/2025

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ - 1.11

• Không tham dự Lễ Các Thánh Nam Nữ có tội không?

Trả lời: Trước tiên, phải hiểu thế nào là lễ trọng và thế nào là lễ buộc?

1. LỄ TRỌNG: là những ngày đặc biệt trong năm phụng vụ. Ngày này, Giáo hội mừng các mầu nhiệm cứu độ của Thiên Chúa, hay các chân lý đức tin, các đặc ân của Đức Maria hay những vị thánh có chỗ đứng quan trọng trong đời sống Giáo Hội. Lễ trọng chia làm hai loại là lễ trọng chung và lễ trọng riêng.

Ví dụ:

* LỄ TRỌNG CHUNG:

- TAM NHẬT VƯỢT QUA VÀ CHÚA NHẬT PHỤC SINH là LỄ TRỌNG BẬC 1.

- BÁT NHẬT PHỤC SINH là LỄ TRỌNG BẬC 1.

- LỄ GIÁNG SINH là LỄ TRỌNG BẬC 1.

- BÁT NHẬT GIÁNG SINH là LỄ TRỌNG BẬC 2.

- LỄ THÁNH GIUSE, LỄ TRUYỀN TIN là LỄ TRỌNG BẬC 3.

* LỄ TRỌNG RIÊNG:

- LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM: bổn mạng Hội Thánh Việt Nam (với Hội Thánh toàn cầu chỉ là lễ nhớ).

2. LỄ BUỘC: là những ngày được ấn định bởi Bộ giáo luật hiện hành. Danh sách bao gồm mọi Chúa Nhật trong năm và 10 ngày lễ buộc chính thức khác.

Các ngày lễ buộc được ấn định trong Bộ giáo luật hiện hành như sau:

Mọi Chúa Nhật trong năm (đã bao gồm Chúa Nhật Phục Sinh);

Lễ Mẹ Thiên Chúa: ngày 1/1;

Lễ Hiển Linh: ngày 8/1;

Lễ Thánh Cả Giuse: ngày 19/3;

Lễ Chúa Lên Trời: ngày 18/5;

Lễ Mình Máu Thánh Chúa: ngày 18/6;

Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô: ngày 29/6;

Lễ Đức Mẹ Lên Trời: ngày 15/8;

Lễ Các Thánh Nam Nữ: ngày 1/11;

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội: ngày 8/12;

Lễ Chúa Giáng Sinh: ngày 25/12

Đây là những ngày lễ buộc được cử hành chính thức tại Tòa Thánh Vatican.

Tại Việt Nam, các Đức Giám Mục, theo Điều 1246 §2, duy trì các đặc ân vẫn có đối với các lễ buộc, nghĩa là:

- Tại Giáo tỉnh Hà Nội, ngoài các ngày Chúa Nhật, chỉ buộc giữ “Tứ Quý”, tức là 4 ngày lễ trọng: lễ Giáng Sinh, lễ Chúa Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời và lễ các Thánh Nam Nữ.

- Tại các Giáo tỉnh Huế và Giáo tỉnh Sài Gòn, ngoài các ngày Chúa nhật, chỉ buộc giữ lễ Chúa Giáng Sinh.

Ngoài ra, Giáo luật còn cho phép các Giám Mục giáo phận cũng có thể ấn định các ngày lễ buộc cho giáo phận hay một vài nơi trong giáo phận, nhưng chỉ từng lần mà thôi (Điều 1246 §2).

Theo như các khái niệm được phân tích ở trên: Lễ Các Thánh Nam Nữ là lễ TRỌNG BUỘC ở GIÁO TỈNH HÀ NỘI và là lễ TRỌNG KHÔNG BUỘC tại GIÁO TỈNH HUẾ - GIÁO TỈNH SÀI GÒN.

ƠN TOÀN XÁ THÁNG 11 CHO CÁC LINH HỒNCác tín hữu được hưởng 1 ơn xá với các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ, cầ...
01/11/2025

ƠN TOÀN XÁ THÁNG 11 CHO CÁC LINH HỒN

Các tín hữu được hưởng 1 ơn xá với các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) và phải nhường lại cho các linh hồn khi:

1. Từ trưa ngày lễ các thánh 1.11 đến nửa đêm ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời: viếng nhà thờ, nhà nguyện đọc 1 kinh Lạy Cha, 1 kinh Tin Kính được hưởng 1 ơn ĐẠI XÁ.
Mỗi ngày chỉ được hưởng 1 lần.
Ai bị ngăn trở có thể thực hiện vào Chúa nhật trước hoặc sau ngày lễ các thánh.

2. Từ ngày 1 đến 8 tháng 11: các tín hữu thánh tâm viếng nghĩa trang, nhà hài cốt, đất thánh,… dù cầu nguyện công khai hoặc chỉ cầu nguyện thầm cho các linh hồn thì cũng được hưởng 1 ơn ĐẠI XÁ.
Mỗi ngày chỉ được hưởng 1 lần.

3. Các ngày khác trong năm: các tín hữu thánh tâm viếng nghĩa trang, nhà hài cốt, đất thánh,… cầu nguyện cho các linh hồn thì được hưởng 1 ơn TIỂU XÁ.
Mỗi ngày chỉ được hưởng 1 lần.

* Ý cầu nguyện của Đức Giáo Hoàng trong tháng 11: Cầu cho việc phòng chống vấn nạn tự tử.

--- Trích sổ tay về ân xá ấn bản thứ tư điều 29 ---

MỘT SỐ LƯU Ý:

- Rước lễ: nếu tín hữu rước lễ 2 lần trong ngày thì 1 lần xin ơn toàn xá cho các linh hồn còn 1 lần xin ơn toàn xá cho Năm thánh 2025.

- Xưng tội: chỉ một lần xưng tội là đủ cho việc lãnh nhận một số các ơn toàn xá. Trước đây, luật cũ định là trước hoặc sau 8 ngày. Còn theo chỉ dẫn của Tòa Ân Giải Tối Cao hiện nay, việc xưng tội phải diễn ra “trong vòng khoảng 20 ngày trước hoặc sau hành vi lãnh nhận ân xá”.

THÁNG MƯỜI MỘT:  Tháng cầu cho các tín hữu đã qua đời      Sách Giáo Lý dạy: “Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa củ...
01/11/2025

THÁNG MƯỜI MỘT: Tháng cầu cho các tín hữu đã qua đời

Sách Giáo Lý dạy: “Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, nhằm đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng” (GLGHCG số 1030).

“Hội Thánh gọi sự thanh luyện cuối cùng này của những người được chọn là Luyện ngục, sự thanh luyện này khác hẳn với hình phạt của những kẻ bị luận phạt…. Ngay từ những buổi đầu, Hội Thánh vẫn kính nhớ người quá cố và dâng lời cầu nguyện cho họ, nhất là dâng Hy lễ Thánh Thể để một khi đã được thanh luyện họ có thể được vinh phúc hưởng kiến Thiên Chúa.

Hội Thánh cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng ân xá và làm các việc đền tạ để cầu cho những người qua đời” (Ibid., 1031-32).

TÍN ĐIỀU CÁC THÁNH THÔNG CÔNG      Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn đã qua đời bằng việc viếng Nhà thờ hay ...
01/11/2025

TÍN ĐIỀU CÁC THÁNH THÔNG CÔNG

Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn đã qua đời bằng việc viếng Nhà thờ hay Đất thánh (kèm theo việc đọc kinh cầu nguyện, xưng tội rước và cầu nguyện hiệp thông với Đức Giáo Hòang sẽ được nhận các ân xá trong dịp đầu tháng 11), nhất là xin lễ và hiệp dâng thánh lễ cầu nguyện, làm các việc lành phúc đức như chia sẻ bác ái phục vụ để cầu nguyện cho các linh hồn. Nhờ đó các linh hồn sẽ được ơn Chúa chiếu soi, được thêm lòng yêu mến Chúa để được ơn tha thứ tội lỗi như Chúa đã dạy: “Yêu nhiều sẽ được tha nhiều” (Lc 7,47). Khi các linh hồn được nên thanh sạch thánh thiện hòan tòan thì sẽ được vào Thiên Đàng và sẽ cầu bầu cùng Chúa ban các ơn lành hồn xác cho chúng ta còn sống ở trần gian.

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ      Lễ Các Thánh (còn gọi là Lễ Các Thánh Nam Nữ hoặc Lễ Chư Thánh) là một lễ được tổ chức trọng đạ...
01/11/2025

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ

Lễ Các Thánh (còn gọi là Lễ Các Thánh Nam Nữ hoặc Lễ Chư Thánh) là một lễ được tổ chức trọng đại nhằm tôn vinh toàn thể các vị Thánh Ki-tô giáo đang hưởng phúc trên thiên đàng, gồm tất cả những người có tên tuổi và những người không được lưu danh.

+ Ki-tô giáo Tây phương thực hiện vào ngày 1 tháng 11 hằng năm.

+ Ki-tô giáo Đông phương thực hiện vào ngày Chúa nhật đầu tiên sau Lễ Ngũ Tuần.

Cùng với Vọng Lễ Các Thánh diễn ra vào hôm trước, ba ngày này được nhóm chung là Tuần Tam nhật Các Thánh.

LỊCH SỬ

Ngày lễ Các Thánh, kính nhớ tất cả các thánh nói chung, được các Giáo hội ấn định khác nhau.

+ Antiochia và Constantinopolis chọn Chúa nhật đầu tiên sau lễ Hiện xuống.

+ Đông Syria thì chọn Thứ Sáu sau lễ Phục sinh.

+ Edessa cử hành vào ngày 13 tháng 5.

Trong lịch cử Hội Thánh, từ thế kỷ thứ IV, các vị tử đạo đã được Hội Thánh tôn vinh. Đến thế kỷ thứ VII, sau khi một số kẻ xấu đột nhập các hang toại đạo tại Rô-ma trộm cắp hài cốt của các vị tử đạo, Đức giáo hoàng Bo-ni-fa-ci-ô IV đã cho thu lượm những hài cốt các thánh và chôn cất lại bên trong ngôi đền Pan-the-on, là đền thờ các thần của người Rô-ma. Giáo hoàng Bô-ni-fa-ci-ô IV thánh hiến Đền Pan-the-on dâng kính Thánh Ma-ri-a và Chư vị Tử đạo cũng vào ngày này.

Việc ấn định ngày 1 tháng 11 trong Giáo hội Tây phương như ngày nay khởi đầu với việc Giáo hoàng Grê-gô-ri-ô III (731–741) cung hiến một nhà nguyện tại Đền Thánh Phê-rô để tôn vinh toàn thể các thánh. Việc chọn ngày 1 tháng 11 được cho là phần nào đó dựa trên tính thực tiễn để đảm bảo lương thực và y tế cho lượng lớn người hành hương tới Rô-ma.

Đầu tiên lễ này nhằm kính nhớ các vị tử đạo. Về sau, khi người Ki-tô hữu được tự do tín ngưỡng, Giáo hội đã kính chung những tín hữu đã chết trong sự thánh thiện. Hiện nay ngòai các vị được nêu tên trong lịch gọi là các vị Hiển Thánh, Hội Thánh còn mừng lễ Các Thánh để kính nhớ chung các tín hữu đã chết và đang được hưởng hạnh phúc với Chúa, trong đó nhiều người là thân nhân của chúng ta.

Ý NGHĨA ĐỨC TIN

Chúa Giê-su thiết lập Nước Trời là Hội Thánh. Hội Thánh ấy hiện nay gồm có ba tình trạng:

+ Hội Thánh Lữ Hành Trần Gian: Gồm các tín hữu đang còn sống, đang bước đi trên con đường của Chúa Giê-su.

+ Hội Thánh Vinh Thắng Trên Trời: Gồm các tín hữu đã qua đời trong niềm tin cậy vào Chúa.

+ Hội Thánh Đau Khổ Thanh Luyện: Gồm các tín hữu tuy đi theo con đường của Chúa Giê-su, nhưng đã qua đời trong tình trạng còn nhiều sai sót, chưa xứng đáng được vào Nước Trời. Họ cần tiếp tục được thanh luyện trong chốn luyện hình.

Ngọai trừ các người theo ma quỷ phải sa hỏa ngục để chịu hình phạt xa Chúa đời đời, như lời Chúa phán: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta, mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25,41), còn các tín hữu tin vào Chúa Giê-su dù còn sống hay đã qua đời, dù đã được lên trời hay đang được thanh luyện cũng đều cầu nguyện cho nhau và được thông hiệp vào ơn cứu độ của Chúa Giê-su. Đó là mầu nhiệm các thánh cùng thông công.

LỄ KÍNH THÁNH LU-CA – TÁC GIẢ TIN MỪNG      Thánh sử Lu-ca (tiếng Hy Lạp: Λουκᾶς, Loukas) là một nhân vật trong Tân Ước,...
18/10/2025

LỄ KÍNH THÁNH LU-CA – TÁC GIẢ TIN MỪNG

Thánh sử Lu-ca (tiếng Hy Lạp: Λουκᾶς, Loukas) là một nhân vật trong Tân Ước, biểu tượng của ngài là con bò. Trong thư mà Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-xê, Lu-ca được đề cập là "người thầy thuốc yêu quý". Ngay từ thời đầu của Ki-tô giáo, nhiều học giả Kinh Thánh cho rằng Lu-ca là tác giả của quyển Phúc âm Lu-ca (trong sách này Lu-ca đã trình bày lòng nhân hậu của Chúa Ki-tô rõ ràng hơn ai hết) và Sách Công vụ Tông đồ (tường thuật lại sự tiến triển của Hội Thánh sau ngày Hiện Xuống). Qua ngòi bút của con người thông thạo văn chương chữ nghĩa như Lu-ca, Tin Mừng trở thành một bài thánh ca tạ ơn trong bầu khí vui tươi và lạc quan phấn khởi.

THÂN THẾ

Thực tế người ta rất ít sử liệu để viết về cuộc đời của thánh Lu-ca, thánh sử, tông đồ. Tuy nhiên, người ta có thể dựa vào câu nói: “Văn tức là người” để tìm hiểu về thánh Lu-ca. Không có một sử liệu nào ghi rõ thánh Lu-ca sinh ra ở đâu và vào năm nào. Nhưng qua nhiều tài liệu thu thập được, người ta biết được thánh Lu-ca là một y sĩ thời danh và là một nhà văn giỏi, nổi tiếng.

Thánh Lu-ca tự bẩm sinh là người Hy-lạp, chứ không phải Do thái, nhưng theo ngôn ngữ và văn minh xem ra ngài đã không sinh ra tại những thành phố Hy-lạp lớn miền cận đông. Một tác giả thứ hai nói thánh Lu-ca sinh ra tại An-ti-ô-ki-a, Sy-ri-a và khi những biến cố xảy ra dường như thánh nhân đang sống ở đó trong thập niên bốn mươi của thế kỷ đầu và đã là một trong những lương dân trở lại đầu tiên.

CUỘC ĐỜI RAO GIẢNG TIN MỪNG

Thánh Lu-ca là một người ngoại giáo, khi thánh Phao-lô rao giảng Tin Mừng ở thành Troa, Lu-ca xin tòng giáo, lãnh nhận bí tích rửa tội, xin làm môn đệ thánh Phao-lô và theo Phao-lô đi loan báo Tin Mừng trong nhiều năm liền. Khi thánh Phao-lô bị bắt, chúng ta không còn biết gì về quảng đời cuối cùng của thánh Lu-ca nữa. Theo nhiều tài liệu, và chứng cớ tìm được ở Con-stan-ti-no-ple, thánh Lu-ca đã rao giảng Tin Mừng cứu độ ở Achaie, Béo-ti và sau này được đặt làm giám mục Thé-bes. Theo một sử liệu đáng tin cậy, thánh Gau-den-ce de Brescia quả quyết rằng thánh Lu-ca đã cùng được phúc chịu tử vì đạo với thánh An-rê tại Patras thành Achaie.

Thánh nhân nói về ơn cứu rỗi phổ quát và đại đồng trong Tin Mừng của mình. thánh Lu-ca không đóng khung trong những người nhà, nghĩa là người Do Thái, người có đạo, nhưng Tin Mừng của Lu-ca trải dài tới mọi dân tộc và những người ngoại đạo cũng được ngài tiếp đón ân cần. Đọc Tin Mừng của thánh Lu-ca, vai trò của người nghèo được đề cao vì Chúa đã đồng hóa với những kẻ nghèo, những kẻ đơn sơ, nhỏ bé. Tin Mừng của thánh Lu-ca cũng là Tin Mừng của cầu nguyện và của Chúa Thánh Thần. Thánh Lu-ca cũng thường cho chúng ta thấy niềm vui trong Tin Mừng của mình: “niềm vui của Hội Thánh tiên khởi, hân hoan vì Chúa phục sinh, Chúa Thánh Thần hiện diện và cộng đoàn được tràn đầy ơn cứu rỗi”.

Ý NGHĨA ĐỨC TIN

Chúng ta gặp những giáo huấn căn bản của Chúa Ki-tô trong Phúc Âm thánh Lu-ca. Thánh nhân đã làm nổi bật tầm quan trọng của sự khiêm nhượng, chân thật, nghèo khó, chấp nhận thánh giá, và nhu cầu cám tạ Thiên Chúa. Tình yêu đối với Chúa khiến chúng ta phải biết ơn thánh Lu-ca về sự tinh tế nơi tâm hồn ngài được biểu hiện qua những công trình tuyệt vời.

Từ xa xưa, các tín hữu đã xưng tụng thánh Lu-ca là họa sĩ của Đức Trinh Nữ. Một số bức tranh về Đức Mẹ được truyền tụng là do thánh nhân vẽ ra.

Phúc Âm thánh Lu-ca là căn bản cho tri thức về lòng sùng kính Đức Mẹ và đem lại cảm hứng cho nghệ thuật Ki-tô Giáo suốt nhiều thế kỷ qua. Ngoài Chúa Giê-su, không ai đã được mô tả một cách đầy yêu mến trong Phúc Âm như Đức Mẹ Ma-ri-a. Dưới ơn linh hứng Chúa Thánh Thần, thánh sử Lu-ca đã viết cho chúng ta về những đặc ân Thiên Chúa ban cho Đức Mẹ. Mẹ được đầy ơn phúc và Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Là Mẹ Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a đã thụ thai nhờ phép Chúa Thánh Thần mà vẫn trọn đời đồng trinh, và được mật thiết liên kết với mầu nhiệm cứu độ. Mọi thế hệ sẽ ngợi khen Mẹ là Đấng diễm phúc, bởi Đấng Toàn Năng đã làm cho Mẹ những điều kỳ diệu, thật đúng như lời một phụ nữ đã cất tiếng chúc mừng Mẹ Chúa Giê-su.

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI      Đức Mẹ Mân Côi (còn gọi là Đức Mẹ Mai Khôi, Đức Mẹ Môi Côi, Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi) là một da...
06/10/2025

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

Đức Mẹ Mân Côi (còn gọi là Đức Mẹ Mai Khôi, Đức Mẹ Môi Côi, Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi) là một danh hiệu của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a trong mối quan hệ với Kinh Mân Côi.

Lễ Đức Mẹ Mân Côi được cử hành vào ngày 7 tháng 10 hằng năm, kỷ niệm chiến thắng quyết định của liên minh Ki-tô giáo trước hạm đội của Đế chế Ot-to-man trong Trận hải chiến Le-pan-to năm 1571.

Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ V đã từ điện Va-ti-can thị kiến trận chiến này. Để ghi nhớ ơn ấy Ngài đã lập lễ “Đức Bà Thắng Trận” (Notre Dame de la victoire), sau đổi thành lễ Đức Bà Rất Thánh Mân Côi, và thêm vào kinh cầu Đức Bà câu: Đức bà phù hộ các giáo hữu. Cầu cho chúng con.”

Năm 1573, Đức Giê-gô-ri-ô XIII muốn đặc biệt kính nhớ chiến thắng Le-pan-to, đã truyền mừng lễ Mân Côi trọng thể vào Chúa Nhật đầu tháng 10, tại các nhà thờ có hội Mân Côi và bàn thờ kính dâng Đức Mẹ Mân Côi.

Trước đây, ngày lễ này còn được gọi là Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng.

Năm 1960, Giáo hoàng Gio-an XXIII đổi tên lễ này thành Lễ Đức Mẹ Mân Côi như ngày nay.

Năm 1716, Đức Clê-men-tê XI truyền mừng lễ Đức Bà Mân Côi trọng thể trong khắp Giáo Hội, để kính nhớ ơn chiến thắng tại vịnh Belgrade nhờ việc giáo hữu lần hạt Mân Côi kính xin Đức Mẹ.

Năm 1888, Đức Lê-ô XIII quyết định nâng lễ Mân Côi lên bậc “kép hạng nhất” (Dup lex primae classis) mừng ngày 7 tháng 10 và kính trọng thể Chúa Nhật đầu tháng 10.

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI

Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phước

Từ đời đời Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế và gìn giữ Mẹ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, nên nơi Mẹ không có chỗ cho tội lỗi.

Đức Chúa Trời ở cùng Bà

Lời bà Ê-li-sa-bet xác nhận: “Em thật có phúc” (Lc 1,42). Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ có Thiên Chúa ở cùng. Ai có Thiên Chúa ở cùng, người ấy đầy ơn phúc.

Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ

Phúc của Mẹ thật khôn ví, vì tâm hồn Mẹ trong sạch và luôn kết hiệp với Chúa. Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin như lời bà Ê-li-sa-bét nói: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng: Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1, 45).

Và Chúa Giê-su Con lòng Bà gồm phúc lạ

Về điều này thánh Au-gút-ti-nô giải thích rằng: Đức Trinh Nữ “trước hết đã thụ thai trong tâm hồn và sau là trong cung lòng Mẹ. Mẹ đã thụ thai trước là đức tin và sau là Thiên Chúa”.

Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời

Chỉ Thiên Chúa là Ðấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện. Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời, vì Mẹ được chọn làm Mẹ Ðức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa, và vì chẳng ai thực thi ý Chúa trọn vẹn như Mẹ.

Cầu cho chúng con là kẻ có tội khi này và trong giờ lâm tử

Hành trình tiến về quê Trời của Đức Maria đã bắt đầu “từ tiếng thưa “vâng” ở Nazareth, khi đáp lại lời của Sứ thần Gabriel, người đã loan báo cho Mẹ biết ý muốn của Thiên Chúa. Và thực sự là như thế, mỗi khi chúng ta thưa “xin vâng” theo ý Thiên Chúa là chúng ta tiến một bước về quê Trời, tiến về cuộc sống vĩnh cửu”.

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI            “Kính chào Đức Maria, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn...
04/10/2025

KINH KÍNH MỪNG TRONG THÁNG MÂN CÔI

“Kính chào Đức Maria, Mẹ đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ có phúc hơn mọi người nữ” (Lc 1,28)

THÁNH PHAXICO THÀNH ÁT-XI-DI      Thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di (tiếng Ý: Francesco d'Assisi); Sinh ngày 26 tháng 9, 1...
04/10/2025

THÁNH PHAXICO THÀNH ÁT-XI-DI

Thánh Phan-xi-cô thành Át-xi-di (tiếng Ý: Francesco d'Assisi); Sinh ngày 26 tháng 9, 1181 và mất ngày 3 tháng 10, 1226, còn gọi là Thánh Phan-xi-cô Khó khăn.

Ngài là một tu sĩ Công giáo Rô-ma sáng lập ra Dòng Anh Em Hèn Mọn (Order of Friars Minor), được biết đến nhiều hơn với tên Dòng Phan Sinh.

ĐÔI DÒNG TIỂU SỬ

Phan-xi-cô (Francis) là con trai của một doanh nhân thành đạt. Phan-xi-cô chào đời khi người cha đang ở Pháp, mẹ ông cho con chịu lễ rửa tội với tên Gio-an-ni di Ber-na-done, theo tên của Gio-an Bao-ti-xi-ta, với mong ước con trai của bà sẽ lớn lên trở thành một nhân vật tôn giáo.

Khi trở về Át-xi-di, người cha hết sức tức giận vì ông không muốn con mình trở nên người của giáo hội. Phan-xi-cô được gọi theo một tên khác là Francesco (một hình dung từ trong tiếng Ý nghĩa là "thuộc về Pháp", ngụ ý sự thành công của ông trên thương trường, và lòng đam mê của ông dành cho mọi sự thuộc về nước Pháp).

Đề kháng lại nghề nghiệp kinh doanh cũng như khát vọng giàu sang của người cha, cậu bé bộc lộ nỗi đam mê dành cho sách vở (biết rằng chính nhờ sự giàu có mà Phan-xi-cô được hưởng nhận một nền giáo dục ưu tú, nhờ đó ngài rất thành thạo trong kỹ năng đọc một số ngôn ngữ, trong đó có tiếng La-tin).

Phan-xi-cô nổi tiếng trong lòng bạn bè nhờ tửu lượng cao và giao du rộng, đa phần là với con cái của giới quý tộc. Ngay từ những ngày này, Phan-xi-cô đã tỏ ra thất vọng đối với thế giới mà mình đang sống.

Vào một ngày, lúc đang vui chơi trác táng với bạn bè, một người hành khất tìm đến nài xin của bố thí, trong khi mọi người không hề quan tâm đến tiếng kêu la của người ăn mày, Phan-xi-cô dốc hết túi của mình cho người ấy. Bạn bè xúm lại chế giễu, và khi về nhà, cậu lại hứng chịu cơn thịnh nộ của người cha vì nghĩa cử này.

DÒNG ANH EM HÈN MỌN

Vào cuối giai đoạn này (theo Jordanus là ngày 24 tháng 2 năm 1209), một bài thuyết giáo đã thay đổi cuộc đời của Phan-xi-cô. Nội dung bài giảng tập chú vào đoạn Tin Mừng Mt 10, 9 thuật lại lời của Chúa Giê-su bảo các môn đồ chớ đem theo mình tiền bạc, ngay cả gậy hoặc giày khi họ đi ra rao giảng Phúc âm. Từ sự soi dẫn này, Phan-xi-cô hoàn toàn cung hiến mình cho cuộc sống nghèo khó.

Mặc áo vải thô, đi chân đất, và theo giáo huấn của Chúa Giê-su đã được ghi chép trong Tin Mừng, không đem theo gậy hoặc túi xách, Phan-xi-cô khởi sự rao giảng thông điệp ăn năn. Môn đệ đầu tiên đến với Phan-xi-cô là Bernado di Quintavalle, một luật gia tên tuổi trong thành phố. Rồi những người khác tìm đến, trong vòng một năm Phan-xi-cô có được mười một môn đệ. Phan-xi-cô quyết định không tìm kiếm chức vụ linh mục, và quy định cộng đồng của ngài là sống trong tình huynh đệ, vì vậy có tên "fratres minors" nghĩa là "những anh em hèn mọn".

NHỮNG ĐÓNG GÓP CHO NÊN THƠ VĂN

Ngày 16 tháng 7 năm 1228, Phan-xi-cô được phong thánh bởi Giáo hoàng Gre-go-ry IX.

Ngày 17 tháng 7 năm 1228, Giáo hoàng đặt viên đá đầu tiên xây dựng Giáo đường Thánh Phan-xi-cô tại Át-xi-di.

Các nhà phê bình văn học xem thánh Phan-xi-cô là nhà thơ đầu tiên của nước Ý. Phan-xi-cô tin rằng giáo dân nên cầu nguyện với Thiên Chúa bằng tiếng mẹ đẻ của mình.

Những sáng tác của Phan-xi-cô được viết bằng phương ngữ Um-bri-a thay vì tiếng La-tin, chúng được xem là những tác phẩm lớn cả trong lĩnh vực văn học và tôn giáo.

Tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của ngài là bài Kinh Hòa Bình, bài kinh được hàng triệu Ki-tô hữu cất lên khi cầu nguyện cho hòa bình nhân loại trong suốt hàng trăm năm qua.

THIÊN THẦN HỘ THỦNGUỒN GỐC KINH THÁNH            Trong Cựu và Tân Ước, Thiên Chúa đã không ngừng nhắc lại và dùng các th...
01/10/2025

THIÊN THẦN HỘ THỦ

NGUỒN GỐC KINH THÁNH

Trong Cựu và Tân Ước, Thiên Chúa đã không ngừng nhắc lại và dùng các thiên thần để nói ý định của Ngài cho con người, thí dụ, với Abraham, Maisen, Jacob, Gideon, Daniel, Trinh Nữ Maria, Zachariah và Giuse, và nhiều vị thánh cũng như các tiên tri.

Kinh Thánh viết:

“Người [Thiên Chúa] truyền cho thiên sứ giữ gìn bạn trên khắp nẻo đường, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá” (Thánh Vịnh 91:11-12).

Ngoài các tổng thần, chúng ta có thiên thần bản mệnh, là những thiên thần được chỉ định để hướng dẫn và che chở cá nhân mỗi người. Thánh Thomas đồng ý với Thánh Jerome trong trích dẫn Phúc Âm Thánh Mátthêu cho rằng mỗi người chúng ta đều có một thiên thần bản mệnh (Mátthêu 18:10). Đó cũng là cách mà Ngài hằng ở bên chúng ta khi đối mặt với bão tố cuộc đời.

Chúa Giêsu khi đề cập đến các thiên thần bản mệnh đã nói: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết: các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mátthêu 18:10).

LỊCH SỬ NGÀY LỄ CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ

Năm 1670, Đức Giáo Hoàng Clê-men-tê X đã thiết lập lễ Thiên thần Hộ thủ cho toàn thể Giáo Hội để tôn kính các đấng vô hình luôn ngày ngày bảo vệ chúng ta.

Ngày 02/10 hằng năm, Giáo Hội Công Giáo dành để mừng kính các Thiên thần Hộ thủ - Thiên thần Bản mệnh.

Ngoài các Thiên thần Hộ thủ cá nhân, truyền thống Giáo Hội (được các nhà thần học như Thánh Tô-ma A-qui-nô giảng dạy) cho biết rằng: các quốc gia, các thành phố, các giáo phận, các giáo xứ đều có Thiên thần Hộ thủ riêng. Và có những người, những nơi còn có nhiều vị Hộ thủ.

ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ

1. Mỗi một người trên thế giới đều có một Thiên thần Hộ thủ (dù là Kitô hữu hay không)

Giáo lý, như được trình bày trong YOUCAT, dạy rằng "Mỗi một cá nhân đều nhận một Thiên thần Bản mệnh từ Thiên Chúa" (s. 55).

Điều này phù hợp với lời dạy của Kinh Thánh, của các Thánh như Tô-ma A-qui-nô, Ba-si-li-ô và Giê-rô-ni-mô, thậm chí phù hợp cả với kinh nghiệm của những người ngoài Ki-tô giáo có cảm nhận về một sự giúp đỡ vô hình từ một vị thiên thần (người Việt Nam ta hay nói trẻ em có một bà mụ nâng đỡ).

2. Thiên thần Hộ thủ được ban ngay từ đầu đời

Giáo lý dạy rằng: "Từ khởi đầu đến kết thúc, cuộc đời con người được vị chuyển cầu và săn sóc cẩn thận bao bọc" (GLHTCG số 336).

3. Thiên thần Hộ thủ có tên, và chỉ mình Thiên Chúa biết tên của các vị

Giáo Hội hướng dẫn chúng ta rằng: "Thói quen đặt tên cho các Thiên thần nên bị loại bỏ, trừ những vị được đề cập rõ ràng trong Kinh Thánh như Gap-ri-en, Ra-pha-en và Mi-ca-en" (Thánh bộ Phụng tự, Huấn thị về Lòng đạo đức Bình dân, số 217, năm 2001).

4. Chúng ta sẽ không trở thành Thiên thần sau khi chết

Nhiều người tin rằng chúng ta sẽ biến thành các Thiên thần sau khi chết, nhưng sự thật ngược lại, đó là chuyện không thể.

Sau khi chết, con người rời khỏi thân xác mình một thời gian, và sẽ hiệp nhất lại vào thời tận cùng. Chúng ta sẽ không trở thành các Thiên thần vô hình.

Tất cả các Thiên thần Hộ thủ đã được sáng tạo ngay từ khởi thuỷ công trình tạo dựng.

5. Thiên thần Hộ thủ luôn ở đây để giúp đỡ chúng ta

Giáo lý gọi các Thiên thần Hộ thủ là các mục tử luôn muốn bảo vệ và dẫn dắt con người vào sự sống đời đời. Công tác duy nhất của các vị là giúp chúng ta vào Thiên đàng, nên chúng ta hãy cầu nguyện cùng các vị mỗi ngày, xin các vị giúp đỡ chúng ta trong mọi vấn đề của cuộc sống.

KINH NGUYỆN CÙNG THIÊN THẦN HỘ THỦ

Lạy Thiên thần Chúa là Thiên thần Bản mệnh yêu dấu của con. Nơi ngài Chúa ban tình yêu của Người cho con. Mỗi ngày, xin ngài hãy ở cạnh bên con để soi sáng và canh giữ, để điều khiển và hướng dẫn con. Amen.

Mời xem thêm “20 điều Thiên thần Bản mệnh làm cho chúng ta”: https://www.facebook.com/photo/?fbid=195627696183710&set=a.195056599574153

THÁNH TÊ-RÊ-SA HÀI ĐỒNG GIÊ-SU       Thánh Tê-rê-sa thành Lisieux (Thánh Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su), tên thật Marie-Franç...
01/10/2025

THÁNH TÊ-RÊ-SA HÀI ĐỒNG GIÊ-SU

Thánh Tê-rê-sa thành Lisieux (Thánh Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su), tên thật Marie-Françoise-Thérèse Martin (2 tháng 1 năm 1873 - 30 tháng 9 năm 1897), là một nữ tu Công giáo được phong hiển thánh và được ghi nhận là một Tiến sĩ Hội thánh.

Tê-rê-sa thành Lisieux cũng được biết đến nhiều với cái tên "Bông hoa Nhỏ của Chúa Giê-su".

TIỂU SỬ

Tê-rê-sa chào đời tại Alençon, Pháp. Cha mẹ của Tê-rê-sa rất đạo đức. Louis đã từng muốn làm thầy tu nhưng lại bị từ chối vì không biết tiếng La-tin. Zélie-Marie đã từng muốn làm nữ tu nhưng bị cho biết là bà không có ơn gọi. Thay vào đó, bà khấn là nếu kết hôn, bà sẽ dâng hết các con mình cho Giáo hội.

Louis và Zélie-Marie gặp nhau vào năm 1858 và lấy nhau chỉ ba tháng sau đó. Họ có chín người con, nhưng chỉ có năm cô con gái - Marie, Pauline, Léonie, Céline và Thérèse (Tê-rê-sa) - là sống sót đến tuổi trưởng thành. Tê-rê-sa là con út trong nhà.

Tê-rê-sa theo học tại Tu viện Notre Dame due Pre của dòng Bê-nê-đic-tô. Khi được chín tuổi, Tê-rê-sa muốn vào Dòng Cát Minh, nhưng khổ nỗi vẫn còn nhỏ quá.

Ở tuổi 15, Tê-rê-sa lại thử xin vào dòng một lần nữa, nhưng cha bề trên của tu viện lại không cho vì Tê-rê-sa còn quá trẻ.

Trong một buổi tiếp kiến chung với Giáo hoàng Lê-ô 13, Tê-rê-sa đã xin người cho phép mình nhập dòng ở tuổi 15 nhưng Giáo hoàng lại nói: "Này con, hãy làm theo ý bề trên quyết định".

Ít lâu sau, Giám mục Bayeux ra quyền cho bề trên dòng nhận Tê-rê-sa và tháng 4 năm 1888, Tê-rê-sa đã trở thành nữ tu Dòng Cát Minh.

LỊCH SỬ

Ngày 10 tháng 6 năm 1914: Giáo hoàng Pius X ký sắc lệnh cho phép mở án phong thánh cho người nữ tu trẻ.

Giáo hoàng Benedict XV, để cho tiến trình được nhanh hơn, miễn chế sự trì hoãn 5 năm thông thường từ sau khi chết đến lúc phong chân phước.

Tháng 4 năm 1923: Tê-rê-sa được phong chân phước.

Ngày 17 tháng 5 năm 1925: Tê-rê-sa được phong hiển thánh bởi Giáo hoàng Pius XI, chỉ 28 năm sau khi người chết.

Lễ kính của Thánh Tê-rê-sa được cử hành vào ngày 3 tháng 10 hàng năm, cho đến cuộc cải cách lịch phụng vụ năm 1970, khi đó được chuyển sang ngày 1 tháng 10.

Năm 1927, Giáo hoàng Pius XI đặt thánh Tê-rê-sa làm bổn mạng các xứ truyền giáo.

Năm 1944, Giáo hoàng Pius XII đặt Tê-rê-sa làm vị thánh bổn mạng của Pháp cùng với Thánh Jeanne d'Arc.

Ngày 19 tháng 10 năm 1997: Giáo hoàng Gio-an Phao-lô II tuyên bố Thánh nữ Tê-rê-sa Hài đồng Giê-su là một trong 33 Tiến sĩ Hội thánh của Hội thánh Toàn cầu - một trong ba người phụ nữ duy nhất được trao tặng danh hiệu này (hai người kia là Tê-rê-sa thành Avila và Catarina thành Siena).

Thánh Tê-rê-sa là vị thánh duy nhất được công nhận là Tiến sĩ Hội thánh dưới đời Giáo hoàng Gioan Phaolô II.

LINH ĐẠO “ĐƯỜNG THƠ ẤU”

Thánh Tê-rê-sa được biết đến nhiều nhất bởi linh đạo "Đường Thơ ấu" của mình. Trong việc tìm kiếm sự thánh thiện, Tê-rê-sa đã thấu hiểu rằng để đạt được điều ấy và bày tỏ tình yêu của mình đối với Chúa, thì không cần phải thực hiện những việc làm anh hùng hoặc "cao siêu".

Tê-rê-sa viết: "Tình yêu chứng tỏ chính nó bởi việc làm, vì vậy làm sao con có thể chứng tỏ tình yêu của mình được? Con không thể làm những việc cao siêu được. Cách duy nhất để con chứng tỏ tình yêu của mình là bằng cách rắc hoa; những bông hoa này là tất cả những hy sinh bé nhỏ, mỗi cái nhìn, mỗi lời nói và thực hiện mọi việc làm bé nhỏ nhất với tình yêu".

Address

Ho Chi Minh City

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tìm Hiểu Công Giáo posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share