Nguồn Sáng Tạo & Tri Thức Mới

Nguồn Sáng Tạo & Tri Thức Mới Thiên Địa vạn vật đồng Nhất thể. Nhất thể tán vạn thù, vạn thù quy Nhất thể.

14/07/2023

3 GIAI ĐOẠN TRÊN ĐƯỜNG ĐẠO (TÌM ĐẠO, TU ĐẠO, THÀNH ĐẠO) GẮN LIỀN VỚI 3 CHỮ NGỘ (NGỒ NGỘ, GIÁC NGỘ, CHỨNG NGỘ).

Trước tiên Ta phải hiểu được thế nào là Đạo? Mỗi người có mỗi cách hiểu hay định nghĩa khác nhau về Đạo.

Đạo ở đây được hiểu như sau:
Đạo là chân lý bất biến, là nguyên lý vận hành, là nguồn gốc, là bản chất thật sự của toàn thể vũ trụ và muôn loài vạn vật hữu hình cũng như vô hình. Nguyên lý đó là: "Vạn vật đồng Nhất thể, Nhất thể tạo ra Vạn vật, Vạn vật quay về hợp nhất với Nhất thể".

1. Giai đoạn đầu tiên trên đường Đạo là tìm Đạo: Người tìm Đạo thường thấy cái gì cũng "ngồ ngộ". Nghĩa là thấy pháp môn nào cũng hay hay, siêu việt, mầu nhiệm, thiêng liêng, phi phàm, tối thượng... Cho nên pháp môn nào họ cũng cho là Đạo, là chân lý.

- Hạng người hạ căn: thường thì họ không tìm hiểu kỹ càng một cách bao quát những ưu và nhược điểm của pháp môn đó, họ vội vàng chấp nhận và lao vào tu tập. Và khi tu tập một thời gian, họ đạt được một số thành tựu hạn chế thì họ liền cho rằng "đây là Đạo", "đây là chánh Pháp", chỉ có pháp môn này là tối thượng, ngoài ra đều là hư vọng. Thường thì họ gắn bó cả đời với pháp môn đó mà chẳng đạt được kết quả thù thắng nào, chẳng tìm ra được Đạo.

- Hạng người trung căn: thường thì họ thích nhảy cóc, nhảy từ pháp môn này qua pháp môn khác; hoặc đứng núi này trông núi nọ. Và như vậy, cả cuộc đời họ cứ luẩn quẩn đi tìm kiếm trong nhiều pháp môn, nhiều hệ tư tưởng, nhiều triết lý. Nhưng đến cuối đời họ cũng chưa có duyên để tìm ra được Đạo.

- Hạng người thượng căn: thường thì họ luôn không hài lòng với những pháp môn, hệ tư tưởng, triết lý mà họ đã gặp bởi vì nó không giải đáp thỏa đáng được những câu hỏi, những nghi vấn mà họ đặt ra. Do vậy mà họ cũng tìm kiếm ở nhiều giáo lý khác nhau. Tuy nhiên, cuối cùng thì họ cũng tìm ra được Đạo, còn thời gian dài hay ngắn là tùy thuộc nhân duyên của mỗi người.

Nếu trên đường tìm Đạo mà Ta có duyên lành gặp được Bậc hiền trí truyền Đạo hoặc đọc được cuốn sách "Vạn vật đồng nhất thể" của tác giả Nguyễn Văn Thọ thì Ta sẽ rút ngắn được thời gian tìm kiếm Đạo rất nhiều, không cần phải đi luẩn quẩn tìm kiếm trong vô vọng. Tác giả là một bác sĩ quân y Việt Nam, ông đã bỏ ra thời gian 40 năm để nghiên cứu tất cả các tôn giáo, các hệ tư tưởng, các triết lý và cả khoa học hiện đại trên toàn thế giới để tìm ra được giáo lý chung nhất của tất cả, cái mà ông gọi là "Vạn giáo nhất lý", để tìm ra Đạo. Ai quan tâm có thể đọc sách ở link sau:

https://thuviensach.vn/thien-dia-van-vat-dong-nhat-the-958.html

2. Giai đoạn thứ hai trên đường Đạo là tu Đạo: một khi đã tìm ra được Đạo, đã hiểu biết được Đạo cũng có nghĩa là đã "Giác ngộ" được Đạo. Giác là biết, ngộ là nhận ra (biết hay nhận ra có thể là do được nghe, được đọc và mình hiểu và tin vào điều đó; hay tự mình tư duy, quán chiếu mà ra).

Khi chưa hiểu biết về Đạo, chưa tìm ra được Đạo mà đã lao vào tu cái mà Ta tưởng là Đạo, thì gọi đó là "tu mù" vậy.

Mục đích của tu Đạo là để thành Đạo.

3. Giai đoạn cuối trên đường Đạo là Thành Đạo: thành Đạo có nghĩa là quay về (hoàn nguyên), hợp nhất được cái Ta (cái bản thể thiêng liêng bên trong của Vạn thể) với cái Nhất thể (cái tạo ra Vạn thể). Lúc này thì "Ta là Đạo, Đạo cũng là Ta", hay "Một là Tất cả, Tất cả là Một". Điều này đồng nghĩa với việc tự mình "chứng ngộ" được Đạo, tự mình trải nghiệm được trạng thái hợp nhất thiêng liêng đó, chứ không phải chỉ được nghe, được biết đến như ở giai đoạn "giác ngộ".

Vậy phải tu như thế nào để thành Đạo?
Muốn vậy thì phải diệt trừ được: tham muốn, sân hận, si mê, hôn trầm, thụy miên, phóng dật, nghi ngờ, kiêu ngạo ngã mạn, khen mình chê người, ghanh ghét đố kỵ, sợ hãi, thất tình, lục dục... Hay phải luôn ở trong trạng thái: vô cầu, vô niệm, vô chấp thủ, vô vi, vô ưu, vô lo, vô thức, vô tâm... Hay như trong nhiều pháp môn của Phật Pháp dạy rằng: "phải luôn luôn phòng hộ các căn không dính mắc vào các trần", "an trú trong vô tướng tâm định là giải thoát", "tâm không trụ vào nơi nào thì đó là tâm giải thoát", "đối cảnh vô tâm, hỏi chi thiền?"...

Để được thành Đạo không phải là chuyện đơn giản, không phải là việc có thể tu trong một kiếp, mà có thể phải tu trong nhiều nhiều kiếp, tùy thuộc vào nhân duyên của mỗi người. Nếu chưa Thành Đạo thì còn phải tái sinh trở lại (luân hồi) để tu tiếp. Nếu đã thành Đạo rồi thì xem như đã được về nhà, không cần phải tái sinh trở lại nữa.

02/07/2023

BẢN CHẤT CỦA MỌI VẬT TỒN TẠI.

Uddalaka nói với con mình là Svetaketu rằng: có bao giờ con đã được chỉ dạy rằng: "Người ta nghe tất cả những gì không thể nghe được, người ta nhận thức tất cả những gì không thể nhận thức được, người ta biết tất cả những gì không thể biết được".

Svetaketu hỏi: "Lời chỉ dạy ấy nghĩa là gì, thưa cha?"

Cha cậu đáp lại:

"Này con, cũng giống như chỉ bằng đất sét mà nhiều vật dụng được tạo ra như chúng ta đã biết, mỗi một hình dạng có một tên khác nhau, tên của mỗi cái do người ta đặt cho nó, trong khi thực chất chúng đều là đất sét.

Cũng vậy, người ta chế ra nhiều thứ vật dụng từ sắt như dao, kéo... mỗi cái một hình dạng khác nhau và được đặt tên khác nhau. Nhưng thực chất chúng chỉ là sắt.

Như vậy, nhờ hiểu biết nguyên nhân người ta có thể nhận biết được bản chất của kết quả, đó là lời chỉ dạy đó con".

Svetaketu thưa: "Thưa cha, xin cha hãy nói thêm cho con về điều ấy".

Người cha đáp: "Được con yêu".

Người cha bảo:

"Mang lại đây cho cha một quả vả".

Người con mang đến và thưa:

"Thưa cha đây à".

"Hãy bổ ra", người cha bảo.

Người con bổ ra và nói:

"Thưa cha, nó đã được bổ ra rồi đây".

Người cha bảo: "Hãy bổ những hạt ấy ra".

Người con bổ ra một hạt và thưa: "Thưa cha, con đã bổ nó ra".

Người cha hỏi: "Con đã thấy gì?".

Người con thưa: "Thưa cha, chẳng thấy gì".

Người cha nói: "Này con, đó là cái bản chất tinh túy mà con không nhận thấy được, từ bản chất rất tinh túy ấy mà cây vả to lớn mọc lên".

Từ đấy, cha muốn chỉ cho con biết rằng trong lòng tất cả mọi sự vật tồn tại đều có Linh hồn, Bản ngã chứa trong ấy. Mà Linh hồn ấy chính là chân lý, là Linh hồn của toàn vũ trụ. Cái đó chính là con đấy, Svetaketu ạ".

Svetaketu thắc mắc: "Tại sao Đấng tồn tại tuyệt đối là nguồn gốc của mọi sự tồn tại, nhưng tại sao người ta không nhận thấy được?".

Người cha tiếp tục giảng giải.

Ông nói tiếp với con: "Hãy bỏ cục muối này vào trong nước và sáng mai con hãy đến đây gặp cha".

Người con đã làm như cha nói.

Người cha nói với con rằng: "Này con trai của ta, hãy mang cục muối mà con đã bỏ vào trong nước tối hôm qua lại đây cho cha".

Tìm kiếm nó, nhưng người con không thấy nó đâu cả, vì nó đã tan ra hoàn toàn vào trong nước rồi.

Người cha nói: "Này con trai của ta, hãy nếm thử một chút nước trên mặt xem nó như thế nào?".

Người con nếm thử và nói:

"Thưa cha, nước mặn".

Người cha bảo: "Nếm thử một chút giữa bình xem nó như thế nào?".

Người con nếm và thưa:

"Thưa cha, nước mặn".

Người cha bảo: "Nếm thử một chút nước dưới đáy bình xem nó như thế nào?".

Người con nếm và thưa:

"Thưa cha, Nó cũng mặn".

Người cha bảo: "Hãy đổ đi, và tới đây".

Người con đã đổ đi và thưa với cha: "Thưa cha, thực sự cục muối ấy đã tồn tại trong ấy suốt thời gian".

Người cha bảo: "Ở đây cũng vậy con à, trong thân thể này, con không nhận thấy Đấng tồn tại - Brahman, nhưng thực ra Đấng ấy đã tồn tại trong thân thể".

Cái đó là bản chất tinh túy nhất. Nhờ nó, mà mọi vật tồn tại đều có trong mình Bản ngã - Linh hồn. Đó là chân lý, đó là Linh hồn - Bản ngã vũ trụ. Cái đó cũng chính là con đấy, Svetaketu ạ".

(Nguồn: Chandogya Upanishad)

07/05/2023

TRI THỨC MỚI VỀ NGHIỆP VÀ LUÂN HỒI THEO QUAN ĐIỂM TIẾN BỘ TÍCH CỰC HƠN.

Theo quan điểm của Phật Pháp thì Nghiệp (hay Luật Nhân Quả) là kết quả của hành vi, lời nói và tư tưởng. Nghiệp có thể biểu hiện ở ngay hiện tại hoặc trong tương lai của kiếp sống này hay kiếp sau.

Luân hồi là biểu hiện kết quả của Nghiệp trong kiếp sau. Phật Pháp đưa ra 6 cõi luân hồi gồm có: Trời, Atula, người, loài vật, ngạ quỷ và địa ngục. Người tạo nghiệp thiện thì sẽ tái sinh vào 3 cõi lành (Trời, Atula, người), còn người tạo nghiệp bất thiện thì sẽ tái sinh vào 3 cõi dữ (loài vật, ngạ quỷ và địa ngục).

Theo quan điểm của các nhà thôi miên hồi quy đã tiếp nhận được thông điệp từ các sinh mạng tiến bộ cao ngoài Trái Đất và những vị thầy hướng dẫn của Linh hồn; theo thông điệp của những người có nhãn thông và năng lực ngoại cảm; theo quan điểm của hội Thông Thiên Học; và theo kết quả nghiên cứu những trường hợp trải qua trạng thái cận tử nghiệp (chết đi sống lại), thì có các quan điểm chung sau:

1. Con người là loài vật đã tiến hóa cao, nên có cấp độ ý thức cao hơn, tần số rung động của năng lượng cũng cao hơn so với loài vật. Do vậy, con người sẽ không tái sinh trở lại làm con vật, mà chỉ tái sinh trở lại làm người hoặc các dạng sống khác tiến bộ cao hơn con người như ở các hành tinh văn minh hơn, sinh mạng ở dạng cơ thể ánh sáng nhẹ nhàng thanh khiết không phải thô kệch nặng nề như cơ thể vật chất của con người.

2. Cõi ngạ quỷ là cảnh giới mà con người sau khi chết, Linh hồn họ còn tham muốn bám víu vào thế giới vật chất, không chịu từ bỏ: cơ thể đã chết, quyến luyến gia đình và người thân, tiếc nuối tài sản, công danh sự nghiệp, thù hận, kế hoạch chưa hoàn thành... Cho nên họ sẽ không chịu đi siêu thoát mà ở lại với thế giới này trong cảnh giới phi vật chất, người thường sẽ không thể nhìn thấy họ. Đây là cảnh giới thấp của cõi Trung giới.

3. Địa ngục là cảnh giới mà con người sau khi chết, Linh hồn của họ trở nên hoang mang không định hướng, họ không biết được là mình còn sống hay đã chết, họ không biết phải làm gì khi nhìn thấy Linh hồn của họ tách rời khỏi cơ thể đang nằm bất động bên dưới, họ sợ hãi khi nhìn thấy nguồn ánh sáng phía trên dẫn đường cho họ đi tái sinh, nên họ trốn tránh và đi về nơi tối tăm lạnh lẽo. Đây chính là cảnh giới của Địa ngục (còn gọi là Hạ giới).

Còn địa ngục mà nhiều người đã nhìn thấy với những hình phạt dã man ghê gớm, đó chỉ là cảnh giới ảo do tư tưởng của con người tạo ra. Người nào tin tưởng có địa ngục, có hình phạt và nghĩ rằng do họ đã làm những điều bất thiện nên sau khi chết họ sẽ sinh vào địa ngục, thì sau khi chết Linh hồn của họ sẽ đi vào cảnh giới địa ngục ảo đó.

4. Cõi Trời, Atula cũng chỉ là cảnh giới ảo được tạo ra bởi tư tưởng của con người. Nếu người sống tin tưởng tuyệt đối vào các vị Phật, Bồ Tát hay Chúa Jesus và nghĩ rằng sau khi chết họ sẽ về với các Ngài, thì điều đó sẽ xảy ra. Đây gọi là cảnh giới cao của cõi Trung giới, ở đây các Linh hồn có thể tạo ra bất kỳ thứ gì họ muốn chỉ bằng tư tưởng, ví dụ như tạo ra vô số vị Phật, Bồ Tát, Thánh, Chúa Jesus, Thiên đàng, Địa ngục...

5. Nguồn sáng (hay cõi Thượng giới) là cảnh giới cao nhất mà Linh hồn cần phải tới đó thì mới có thể tái sinh trở lại làm người. Chỉ khi nào Linh hồn chịu từ bỏ tất cả ở cõi Hạ giới cũng như Trung giới, để đi về phía Nguồn sáng thì họ mới có thể tiếp tục tái sinh trong một cơ thể mới để tiến hóa hơn.

6. Nghiệp không phải là để trừng phạt người phạm lỗi, cũng không phải để khen thưởng người làm nhiều việc thiện. Nghiệp là để điều chỉnh hành vi, lời nói và tư tưởng, để cho Linh hồn tiến hóa hơn. Cũng không có ai chỉ trích hay phán xét lỗi lầm của Linh hồn, mà bản thân Linh hồn sau khi rời khỏi cơ thể và trở về với Nguồn sáng thì Linh hồn sẽ tự có trí tuệ để nhận ra những lỗi lầm mà họ đã gây ra khi còn sống trong cơ thể con người, họ sẽ tự biết cần phải làm gì và lựa chọn cách tốt nhất để sửa chữa lỗi lầm đó.

Ví dụ, một người khi còn sống đã phạm tội cố ý giết chết 10 người do tính cách hung bạo của mình. Sau khi chết và trở về với Nguồn sáng thì Linh hồn sẽ tự nhận ra lỗi lầm mà họ đã gây ra, và họ cần phải tái sinh trở lại để sửa chữa lỗi lầm đó. Nhưng thay vì phải sinh trở lại và bị người khác giết chết trong 10 kiếp, thì Linh hồn có thể lựa chọn trả nợ nghiệp bằng cách sinh ra để chăm sóc, nuôi dưỡng, hầu hạ cho 10 người này trong cùng một kiếp, và cho dù họ có đối xử tệ bạc với mình thì mình cũng không hề oán hận họ. Như vậy cách trả nghiệp này là nhân văn hơn vì sẽ không làm cho oán thù qua lại tiếp tục diễn ra, và sẽ nhanh chóng kết thúc được nghiệp, có lợi ích hơn cho quá trình tiến hóa của Linh hồn.

Một ví dụ khác, một người làm nghề đồ tể giết chết rất nhiều chó, mèo. Sau khi chết và trở về với Nguồn sáng, Linh hồn sẽ nhận ra lỗi lầm của mình là không có tình thương đối với các con vật mà mình đã giết. Do vậy Linh hồn cần phải tái sinh trở lại để học bài học về tình thương yêu muôn loài bằng cách giải cứu những con chó, mèo ở lò mổ để mang về và nuôi dưỡng chúng, yêu thương chúng như con của mình. Như vậy là nghiệp sát sinh được kết thúc mà không có đau khổ, không có giết chóc tiếp diễn.

* Kết luận:
Nếu Ta tin vào những tri thức mới này thì Ta sẽ có cái nhìn tích cực hơn về nghiệp và luân hồi; Ta sẽ thấy cuộc sống không quá bi thương khổ đau, không quá khó khăn như quan điểm cho rằng "có được thân người là khó". Ta sẽ không sợ hãi cái chết, vì Linh hồn là bất tử, chết chỉ là quá trình chuyển đổi từ kiếp sống này sang kiếp sống khác mà thôi. Ta vẫn luôn được sinh ra làm người để trả nghiệp, và hoàn cảnh sống như thế nào đều là do Ta "tự nguyện lựa chọn" để học hỏi, trải nghiệm và tiến hóa.

Cho nên, không phải tất cả những người sinh ra có hoàn cảnh nghèo khổ, tật nguyền, ngu dốt, xấu xí... đều là do họ đã từng làm nhiều việc bất thiện.

Và cũng không phải tất cả những người sinh ra có hoàn cảnh giàu sang, xinh đẹp, tài giỏi... đều là do họ đã từng làm được nhiều việc thiện.

Một khi đã học xong tất cả những bài học, đã tiến hóa lên mức độ cao thì Linh hồn sẽ trở về hòa nhập với Nguồn Sáng Tạo hoặc ở gần hơn với Nguồn trong hình dạng cơ thể là những quả cầu ánh sáng có rất nhiều tình thương và trí tuệ (Phật Pháp gọi là giải thoát khỏi Luân hồi, hay Niết bàn). Khi đó, Linh hồn chỉ trở lại trong các dạng sống thấp hơn khi cần thực hiện nhiệm vụ cần thiết, để giúp đỡ cho sự tiến hóa của các hành tinh và các sinh mạng kém phát triển hơn (ví dụ như hiện thân của Phật, Chúa Jesus, các Thánh nhân, triết gia...).

22/04/2023

Tìm hiểu cách vận hành của Luật Nhân Quả thông qua những câu chuyện thực tế.
Câu chuyện thứ 21: CÔ ĐƠN HIU QUẠNH VÌ TỰ TỬ BỎ LẠI CON THƠ.

Một người đàn bà Anh, dạy học ở một
trường mẫu giáo và rất mong muốn lập gia đình. Cha mẹ đã qua đời từ khi cô còn nhỏ; cô được các bà dì nuôi nấng, nhưng trong một bầu không khí lãnh đạm khô khan và nghiêm khắc, mà kết quả là làm cho cô không thể hài hòa với những người cùng lứa tuổi. Suốt đời cô cảm thấy cô độc đơn chiếc, cách biệt với mọi người, và những khuynh hướng của một tâm hồn khép chặt đã biểu lộ nơi cô.

Cô đã trải qua một cuộc tình duyên, nhưng đó chỉ là một sự hấp dẫn về thể chất, và mối tình này đã chấm dứt khi sự khác biệt nhau về tâm tính với người yêu càng ngày càng biểu lộ rõ rệt.

Từ đó trở đi, cô cảm thấy cuộc đời dường như trống rỗng và vô vị. Cô làm việc sốt sắng và thành công về phương diện nghề nghiệp; thông minh lanh lợi và biết giúp đỡ người khác. Tuy nhiên, thỉnh thoảng có những lúc cô đắm chìm trong một cơn thất vọng sầu thảm, kéo dài nhiều tuần và khó nguôi.

Trong những cơn khủng hoảng đó, cô thường nghĩ đến sự tự vẫn. Người ta không thể tưởng tượng rằng một người đàn bà vừa có nhan sắc vừa khôn ngoan lại có thể bị những cơn thất chí buồn bực sâu xa như thế.

Cuộc soi kiếp cho biết rằng trong kiếp trước, cô sống ở Ba Tư, là con gái của một người tù trưởng trong xứ, và bị bắt làm tù binh của vị vương quốc Ả Rập, cùng một lượt với những người khác. Sau đó, cô bị đem gả làm hầu thiếp cho một viên phó tướng Ả Rập, sinh hạ một đứa con gái, và sau đó ít lâu thì cô tự vẫn. Đứa con gái nhỏ sống vất vưởng không người nuôi dưỡng giữa bọn tướng giặc, cho đến khi có một vị giáo sĩ đi hành hương thấy vậy bèn động lòng trắc ẩn, đem em bé ấy về nuôi cho đến khi trưởng thành.

Cuộc soi kiếp cho biết rằng người mẹ đã tự tử chỉ vì không thể chịu khuất phục theo ý muốn của người khác; và "Linh hồn này đã thất bại trong sự thử thách đó, cô tự tử chỉ vì muốn thỏa mãn lòng tự kiêu của mình, chứ không phải vì lý do tự vệ để bảo tồn trinh tiết, hay giữ gìn lý tưởng."

Xét về tâm tính của cô trong kiếp này, nó biểu lộ dưới những cử chỉ tự do và hiên ngang như đàn ông, người ta sẽ hiểu rằng có lẽ cái thói tự kiêu của cô trong kiếp sống ở Ba Tư, chính là điều chướng ngại ngăn cách cô với phái đàn ông trong kiếp hiện tại. Chính sự thiếu mềm dẻo, tế nhị, sự cứng cỏi ương ngạnh của cô làm cho đàn ông tránh xa và không muốn kết thân.

Điều lạ lùng là trong kiếp này, cô luôn luôn mong muốn có con. Nếu các bà dì của cô không ngăn cản, thì có lẽ cô đã nuôi một đứa con nuôi từ lâu. Có một điều cô mang theo từ kiếp trước, là cô thường nghĩ đến sự tự vẫn. Từ khi có cuộc soi kiếp đưa đến sự giải thích hợp lý về tình trạng của cô, cô không còn coi sự tự vẫn như một lối thoát nữa, vì hiểu rằng những gì mà cô muốn trốn tránh trong hiện tại, sẽ trở lại với cô trong một tương lai về sau.

Tuy thế, trong một cuộc soi kiếp nữa, cô được biết rằng cô còn có thể hy vọng một cuộc hôn nhân trong kiếp này, nhưng vào lúc quá tuổi xuân; và trong khi chờ đợi, cô nên giúp đỡ bằng mọi cách những người mà cô tiếp xúc trong đời sống hằng ngày. Khi hỏi rằng còn bao lâu nữa cô mới có được cái hạnh phúc đó, thì được trả lời rằng: "Khi nào cô tỏ ra xứng đáng thì điều đó sẽ đến."

(Trích dẫn sách: Những bí ẩn của cuộc đời. Theo hồ sơ của Nhà Thấu thị Edgar Cayce)

Address

Ho Chi Minh City

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Nguồn Sáng Tạo & Tri Thức Mới posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Nguồn Sáng Tạo & Tri Thức Mới:

Share