Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada

Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada Nguyện tất cả được bình an, được hòa hợp, được hạnh phúc. Sadhu! Buddhasāsanaṃ ciraṃ tiṭṭhatu Chào mừng các bạn đến với kênh của Tô Đạt. Sadhu. Lành thay!
(13)

(Mattaññu Pañña) có nghĩa là Tuệ Túc - Pháp danh do ngài Thiền Sư Kim Triệu đặt cho mình dịp Quy Y Tam Bảo và tham dự khóa thiền vipassana 10 ngày tại chùa Thiên Trúc tỉnh Kiên Giang vào tháng 6 năm 2023.

Đây là nơi mà tôi chia sẻ về những kinh nghiệm và trải nghiệm bản thân qua các khóa thiền Vipassana 10 ngày mà tôi đã trải qua. Trong đó khóa thiền vipassana 10 ngày tại Ucenlist Sóc Sơn vào cuố

i năm 2022 là khóa thiền đầu tiên của tôi. Do nhận được nhiều lợi lạc từ Dhamma nên tôi muốn lan tỏa đến những bạn hữu duyên. Tôi sẽ làm thêm các videos về trải nghiệm khóa thiền vipassana 10 ngày ở các địa điểm khác mà tôi đã từng tham dự. Nguyện các bạn được bình an, được hòa hợp, được hạnh phúc. Buddhasāsanaṃ ciraṃ tiṭṭhatu

Email: [email protected]
Facebook: https://www.facebook.com/todattn/

Hỏi: Nếu chỉ ăn thức ăn đựng trong bát là điều quan trọng để hành thiền, tại sao là thầy mà Ngài không ăn trong bát như ...
08/01/2026

Hỏi: Nếu chỉ ăn thức ăn đựng trong bát là điều quan trọng để hành thiền, tại sao là thầy mà Ngài không ăn trong bát như chúng tôi? Ngài không nghĩ rằng một vị thầy phải làm gương cho người khác noi theo sao?

Đáp: Đúng. Một vị thầy phải làm gương cho học trò noi theo. Tôi không trách bạn chỉ trích điều đó. Bạn có thể hỏi bất cứ điều gì bạn muốn. Nhưng điều quan trọng tôi muốn nói ở đây là đừng dính mắc vào vị thầy nữa.

Nếu tôi có hình thức bên ngoài hoàn toàn tuyệt hảo thì thật là kinh khủng! Tất cả các bạn sẽ dính mắc vào tôi. Ngay Đức Phật nhiều lần bảo học trò làm thế này nhưng Ngài làm thế khác. Sự nghi ngờ của bạn đối với vị thầy có thể giúp bạn.

Bạn nên theo dõi chính bản thân mình. Phải theo dõi những phản ứng của mình.

Có khi nào bạn nghĩ rằng tôi để thức ăn ở dĩa rồi đem cho những thiện tín làm việc quanh ngôi chùa này không?

Muốn có trí tuệ, chính bạn phải biết quay lại và khai triển ở chính mình. Hãy học hỏi ở thầy những điều gì tốt đẹp, và chú tâm tỉnh thức, hiểu biết mình trong khi thực hành.

Nếu tôi đang nghỉ ngơi thoải mái, trong khi bạn phải ngồi xếp bằng để tham thiền, bạn có tức tối không?

Khi tôi nói đây là màu xanh, kia là màu đỏ, đó là đàn ông, đây là đàn bà, bạn phải tự mình quan sát, đừng nghe theo tôi một cách mù quáng.

Một vị thầy của tôi trước đây ăn rất nhanh, khi ăn ông ta gây ra những tiếng động ồn ào, nhưng ông ta lại dạy chúng tôi phải ăn chầm chậm và chú tâm tỉnh thức trong khi ăn.

Quan sát thầy, tôi thất vọng và buồn nản. Tôi đau khổ trong khi ông ta vẫn tự nhiên!

Thật ra tôi đã quan sát bên ngoài mà không quan sát chính tôi. Sau này tôi mới hiểu rõ được điều đó.

Có nhiều người lái xe rất nhanh, nhưng cẩn thận. Trong khi đó một số khác lái xe rất chậm nhưng lại gây ra rất nhiều tai nạn.

Đừng dính mắc vào những quy luật có sẵn. Đừng dính mắc vào hình thức bên ngoài.

Nên nhìn người ngoài mười phần trăm, và để lại chín mươi phần trăm theo dõi chính mình. Đó là phương pháp thực hành tốt đẹp.

Trong thời gian đầu tôi thường để tâm quan sát thầy tôi là Ngài Achaan Toong Rath và có nhiều nghi ngờ đối với Ngài. Nhiều người nghi Ngài là một người bất bình thường. Ngài làm nhiều chuyện kỳ lạ và đối xử rất khắt khe với học trò. Bề ngoài Ngài có vẻ rất nóng giận, nhưng bên trong thì rất bình lặng. Tâm hồn Ngài rất trong sáng và luôn luôn chánh niệm — cho đến giây phút Ngài qua đời.

Thông thường chúng ta hay nhìn bề ngoài để so sánh phân biệt. Nếu cứ nhìn bề ngoài để quan sát thiên hạ, bạn sẽ không bao giờ có hạnh phúc.

Cũng như thế, nếu bạn muốn tìm sự an bình mà lại cứ phí thì giờ để quan sát theo dõi những người hoàn toàn hay những vị tuyệt hảo, bạn cũng sẽ không được bình an chút nào.

Đức Phật dạy chúng ta phải nhìn vào giáo pháp, chân lý, chớ đừng nhìn vào kẻ khác.

Vấn đạo với Thiền Sư Ajahn Chah
Chia sẻ bởi: Thực Hành Giáo Pháp

NGŨ UẨNNăm uẩn đối tượng của sự bám níu là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó là gì?Năm uẩn ấy là những gì mà ta luôn luôn...
08/01/2026

NGŨ UẨN

Năm uẩn đối tượng của sự bám níu là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Nó là gì?

Năm uẩn ấy là những gì mà ta luôn luôn kinh nghiệm. Không cần phải đi tìm ở đâu. Nó ở ngay bên trong chúng ta.

Khi ta thấy, nó ở trong sự thấy. Khi nghe, nó ở trong sự nghe. Khi hửi, nếm, sờ đụng hoặc suy tư, nó ở trong mùi, vị, xúc chạm, và tư tưởng.
Khi ta co vào, duỗi ra, hoặc cử động chân tay, năm uẩn ở trong sự co vào, duỗi ra, hoặc cử động. Chỉ có điều là ta không biết rằng nó là ngũ uẩn.

Bởi vì ta không hành thiền, không quán niệm và không hiểu biết đúng như thật sự nó là vậy. Vì không hiểu biết thực tướng của nó nên chúng ta bám níu vào với lòng tham ái và tà kiến.

Điều gì xảy ra khi ta co tay vào? Trước tiên, có ý định co vào. Sau đó, có những hình thức co vào liên tục tiếp nối.

Ý định co vào gồm bốn uẩn thuộc về danh, phần tâm linh. Cái tâm có ý định co tay vào là thức uẩn. Khi nghĩ đến co tay vào và sau đó, cử động co tay vào, ta có thể cảm nhận thọ lạc hay thọ khổ, hoặc thọ vô ký (không lạc không khổ).

Nếu co tay vào một cách thoải mái dễ chịu thì đó là thọ lạc. Nếu cảm nghe khó chịu hay bực mình thì đó là thọ khổ. Nếu không cảm nghe thoải mái cũng không khó chịu thì đó là thọ vô ký.

Như vậy, khi nghĩ đến sự co tay vào, có "thọ" uẩn. Rồi tiếp theo là tri giác, cái uẩn hay biết cử động co tay vào, đó là tưởng uẩn.

Rồi có trạng thái tâm giục ta co tay vào. Ta cảm nghe như có lời thúc giục, "Hãy co tay vào! Hãy co tay vào!" Đó là hành uẩn.

Như vậy trong ý định co tay vào có đủ tất cả bốn uẩn của danh: thọ, tưởng, hành, thức.
Cử động co tay vào là phần vật chất, hay hình sắc. Đó là sắc uẩn. Như vậy ý định co tay vào cùng với cử động co tay vào bao gồm tất cả năm uẩn.

Trong một cử động co tay vào có đủ ngũ uẩn. Ta cử động một lần, có ngũ uẩn phát sanh một lần. Ta cử động một lần nữa, có ngũ uẩn phát sanh một lần nữa. Mỗi cử động khơi mào cho ngũ uẩn phát sanh một lần.

Nếu ta không hành thiền, không suy niệm về ngũ uẩn và không hiểu biết ngũ uẩn một cách chân chánh, khỏi cần phải nói chuyện gì xảy ra. Chính ta sẽ tự biết lấy.

Đúng vậy, ta nghĩ, "Tôi có ý định co tay vào" và "Tôi co tay vào". Có phải vậy không? Mỗi người đều hiểu như vậy. Hỏi một em bé, em sẽ trả lời như vậy. Hỏi một người đứng tuổi mà không biết đọc biết viết, người ấy cũng trả lời y như vậy.

Bây giờ, hỏi một người biết đọc, biết viết. Nếu ông ta thành thật nói ra đúng như ông thật sự nghĩ thì câu trả lời cũng giống như vậy. Nhưng ông là người có học vấn, ông có thể chế tạo một câu trả lời thích hợp với kinh điển. Ông sẽ nói đó là "danh-sắc".
Trả lời như vậy không phải vì ông am hiểu như vậy, mà vì ông cố tạo nên một câu trả lời thích hợp với những gì mình học trong kinh điển. Sâu kín trong thâm tâm, ông ta vẫn nghĩ, "Chính 'Tôi' có ý định co tay vào", "Chính 'Tôi' co tay vào", "Chính 'Tôi' muốn cử động", "Chính 'Tôi' cử động".

Ông cũng nghĩ, "Cái 'Tôi' ấy đã có hiện hữu trước kia, đến nay vẫn còn đang hiện hữu, và sẽ còn hiện hữu trong tương lai. Ta tồn tại mãi mãi."
Lối suy tư ấy được gọi là ý niệm thường còn. Không có ai nghĩ rằng "Cái ý định co tay vào chỉ hiện hữu trong hiện tại".

Người tầm thường luôn luôn nghĩ, "Cái tâm nầy trước kia đã có hiện hữu. Cũng cái tâm trước kia đã có hiện hữu nầy, bây giờ đang nghĩ đến việc co tay vào".
Họ cũng nghĩ, "Cái 'Tôi' mà đang suy tư, đang hiện hữu trong hiện tại, sẽ còn tiếp tục hiện hữu trong tương lai."

Khi co vào hoặc cử động tay chân ta nghĩ, "Chính tay chân nầy đã có hiện hữu trước kia, và hiện giờ đang cử động. Chính cái 'Tôi' nầy đã hiện hữu và hiện đang cử động". Sau khi cử động tôi lại nghĩ trở lại, "Tay chân nầy, cái 'Tôi' nầy, luôn luôn tồn tại".

Ta không hề nghĩ rằng tất cả những cái ấy đều phải hoại diệt. Đó cũng là ý niệm thường còn. Đó là bám níu vào những gì vô thường mà xem là trường tồn, bám níu vào những gì vô ngã, không có thực chất, mà xem là bản ngã, là cái 'Tôi' vĩnh cửu.

Rồi, bởi vì ta co tay chân vào hay duỗi ra theo ý muốn, ta nghĩ rằng như vậy là rất tốt đẹp. Thí dụ như khi cảm nghe cánh tay bị tê cứng, ta xếp cánh tay lại, di động theo một chiều khác, và nghe hết tê. Ta cảm thấy thoải mái dễ chịu và nghĩ rằng như vậy là rất tốt đẹp. Ta nghĩ rằng đó là vui sướng, hạnh phúc.

Những nhà khiêu vũ thiện nghệ hay tài tử, nhảy múa, co tay co chân vào rồi duỗi ra và nghĩ rằng thật là tốt đẹp. Họ lấy làm thỏa thích và tự mãn. Khi trò chuyện với nhau chúng ta thường quơ tay và cử động đầu. Chúng ta thỏa thích nghĩ rằng đó là hạnh phúc. Khi viên mãn hoàn tất một công trình ta cũng thấy là tốt đẹp và cảm nghe hạnh phúc.

Đó là hoan hỉ, thỏa thích do tham ái và bám níu vào sự vật. Cái vô thường tạm bợ ta xem là thường còn và hoan hỉ thọ hưởng. Cái không phải là hạnh phúc, không phải là tự ngã vĩnh tồn, mà chỉ là những nhóm thành phần vật chất hay tinh thần (những uẩn), ta xem là hạnh phúc, là tự ngã và hoan hỉ thỏa thích.

Chúng ta thỏa thích với nó, bám sát vào nó, lầm tưởng rằng nó là chính ta, là tự ngã của ta, và chặt chẽ dính mắc vào nó.

Vậy, khi co vào, duỗi ra, hoặc cử động tay chân ta có ý nghĩ, "Tôi sẽ co vào" là uẩn thủ. Cử động co vào là uẩn thủ. Ý nghĩ duỗi ra là uẩn thủ. Sự duỗi ra là uẩn thủ. Ý nghĩ, "Ta sẽ cử động" là uẩn thủ. Sự cử động là uẩn thủ.

Khi nói hành thiền về ngũ uẩn thủ chúng ta chỉ đề cập đến những sự việc như vậy.
Sự việc cũng xảy diễn cùng một thế ấy khi ta thấy, nghe, hửi v.v... Khi thấy, nền tảng của sự thấy hiển nhiên là mắt. Đối tượng của sự thấy cũng biểu lộ hiển nhiên. Cả hai -- mắt và đối tượng của sự thấy -- là phần vật chất (sắc), tự chính nó không có khả năng hay biết.

Nhưng nếu không chú niệm trong khi thấy ta sẽ dính mắc vào nó. Ta nghĩ rằng toàn thể thân nầy, cùng với mắt, là thường còn, là hạnh phúc, là tự ngã của ta, và bám níu vào nó, nghĩ rằng toàn thể thế gian vật chất, cùng với đối tượng của sự thấy nói trên, là thường còn, đẹp đẽ, tốt lành, hạnh phúc, là bản ngã của ta, và bám níu vào nó. Như vậy, mắt (nhãn căn) và đối tượng của sự thấy (nhãn trần) là những uẩn thủ (những nhóm đối tượng của sự bám níu).

Và trong khi thấy, sự "trông thấy" (nhãn thức) cũng hiển nhiên. Đó là bốn uẩn thuộc về danh, phần tâm linh. Hay biết có sự thấy -- chỉ có sự thấy suông, chỉ thấy thôi mà không biết thấy gì -- là thức uẩn. Thỏa thích hay bất mãn khi thấy là thọ uẩn. Cái gì nhận ra đối tượng của sự thấy là tưởng uẩn. Cái gì hướng sự chú ý đến đối tượng của sự thấy là hành uẩn. Đó là bốn uẩn cấu thành phần tâm linh.

Nếu không niệm trong khi thấy ta có khuynh hướng nghĩ rằng cái thấy nầy "trước đây đã có hiện hữu và hiện thời đang hiện hữu". Hoặc nữa, khi thấy điều tốt đẹp ta có thể nghĩ, "Sự thấy là tốt đẹp", và khi suy tư như vậy ta theo đuổi, bám níu vào những sự việc tốt đẹp và kỳ diệu biểu hiện trong sự thấy.

Ta bỏ tiền ra để xem múa hát hay xem chớp bóng, lắm khi phải mất ngủ và tổn hại đến sức khỏe, vì ta nghĩ rằng làm như vậy là tốt, là đúng. Nếu không nghĩ là tốt ắt ta không tiêu phí tiền bạc, thì giờ và chịu để sức khỏe bị hao mòn. Ta nghĩ rằng cái gì xem múa hát là "Ta". "Ta Xem", "Ta Thỏa Thích". Đó là bám níu (thủ) với tham ái và tà kiến. Vì ta dính mắc, luyến ái, bám chặt vào danh và sắc biểu lộ trong sự thấy, nên gọi đó là uẩn thủ, những nhóm đối tượng của sự bám níu.

Cùng một thế ấy, ta bám níu trong sự nghe, sự hửi, sự nếm v.v... Ta cũng bám níu chặt chẽ hơn vào cái tâm nghĩ ngợi, tưởng tượng, suy tư, xem đó là "Ta", là "Tự Ngã" chắc thật của ta.

Như vậy, ngũ uẩn thủ không phải gì khác hơn là chấp thủ vào những gì tự biểu hiện nơi sáu cửa (lục căn, hay lục nhập) mỗi khi ta thấy, nghe, thọ cảm, hoặc hay biết. Ta phải cố gắng thấy rõ các uẩn ấy đúng theo thực tướng của nó. Hành thiền về ngũ uẩn và nhận thấy rõ ràng như đúng thực nó là vậy, thấu triệt thực tướng của ngũ uẩn, là tuệ minh sát.

Những thời Pháp do Ngài MAHASI SAYADAW thuyết giảng nhân dịp Đầu Năm Miến Điện 1320 (1959 D.L)
Maung Tha Noe dịch từ tiếng Miến Điện sang Anh
Bác Phạm Kim Khánh dịch từ Anh sang Việt

Tư tưởng của chúng ta có thể vừa thiện (kusala) vừa bất thiện (akusala).Khi chư Tăng tụng trong lễ tang: “Kusalā dhammā,...
07/01/2026

Tư tưởng của chúng ta có thể vừa thiện (kusala) vừa bất thiện (akusala).

Khi chư Tăng tụng trong lễ tang: “Kusalā dhammā, akusalā dhammā, abyākatā dhammā”, điều đó có nghĩa là có ba loại tâm hành hay ba loại tưởng tượng tâm ý:

Thiện,
Bất thiện,
Không thiện cũng không bất thiện.

Nếu bạn suy nghĩ theo cách thiện, tâm bạn sẽ được an lạc và nhẹ nhàng.
Nếu bạn suy nghĩ theo cách bất thiện, nó sẽ làm tâm bạn xao động, bất mãn, khổ (dukkha).

Nếu bạn suy nghĩ theo cách không thiện, không bất thiện, nó cũng không đem lại an lạc, mà cũng không gây xao động – nhưng không thể so sánh với tâm thiện chân chánh trong đạo (magga).

Bởi vì tâm thiện sẽ mang lại sự an ổn, dễ chịu.
Ngược lại, suy nghĩ bất thiện là thuận theo ái dục, dẫn đến khổ (samudaya).
Ví dụ, khi ở một mình, bạn có thể muốn đi gặp bạn bè, uống trà, uống cà phê, ăn đồ ngọt, hoặc tìm điều gì đó để xem trên tivi hay trong sách.

Nếu bạn suy nghĩ như vậy, đó là bất thiện, vì nó kích hoạt ái dục trong tâm.
Tâm không thể ở yên, nên nó thúc đẩy phải đi tìm cái gì đó để có hoặc để làm.
Những hành động ấy chỉ thỏa mãn ái dục một thời gian ngắn.
Rồi chẳng bao lâu, ý nghĩ và ái dục lại sinh khởi nữa, vì nó đã trở thành thói quen.

Cái gì bạn từng thích, bạn lại sẽ tiếp tục nghĩ đến nó.
Khi làm một thời gian, bạn mệt và dừng lại.
Nghỉ ngơi xong, bạn lại nghĩ đến nó nữa.
Cuộc đời bạn lặp lại trong vòng tuần hoàn theo đuổi dục vọng vô tận.

Nếu bạn để ý, bạn sẽ thấy từ khi sinh ra đến nay,
bạn luôn hành động theo ái dục.
Bạn đã bao giờ cảm thấy đủ chưa?
Bạn đã bao giờ thật sự thỏa mãn chưa?

Bạn đã xem đủ phim, dự đủ tiệc, đi chơi đủ nơi.
Đáng lẽ đã đến lúc nói: “Thôi, đủ rồi.”
Nhưng cảm giác đó chưa bao giờ xuất hiện,
vì tự tánh của ái dục là không biết đủ.

Đức Phật dạy rằng ái dục không có bờ bến:
“Ngay cả đại dương bao la còn có giới hạn,
nhưng ái dục của con người thì không có giới hạn.
Một khi ái dục đã khởi lên, nó sẽ tiếp tục mãi mãi và càng lúc càng mạnh hơn.”

Người ta vẫn nói:
“Có một tấc muốn một thước. Có một thước muốn một sải.”

Đó chính là bản chất của ái dục luôn sinh khởi không ngừng.
Vậy ai là người gánh lấy gánh nặng này?
Chính là tâm, tâm ra lệnh phải đi tìm, và bạn phải làm theo.
Khi đạt được, nó chỉ vui một chút.

Rồi nó sẽ ra lệnh mới nữa, và bạn lại phải thực hiện nữa.
Nếu không được điều mình muốn, thì
– buồn khổ,
– thất vọng,
– đau khổ xuất hiện.

Ngay cả khi đã có được rồi, mất đi nó cũng khiến khổ đau.

“Chống Lại Phiền Não”

Trích lời Ajahn Suchart Abhijāto
Fb Mindful Yogis

HÃY HÀNH THIỀN SỚM NHẤT KHI CÓ THỂMỗi ngày chúng ta phải ăn uống, tắm rửa, ngủ, đại tiện, tiểu tiện... Nó là một phần tr...
05/01/2026

HÃY HÀNH THIỀN SỚM NHẤT KHI CÓ THỂ

Mỗi ngày chúng ta phải ăn uống, tắm rửa, ngủ, đại tiện, tiểu tiện... Nó là một phần trong cuộc sống mà mỗi ngày chúng ta phải làm chỉ để phục vụ cho cơ thể này, nhưng đó không phải là những việc cao quý.

Hành thiền là việc rất cao quý, nên chúng ta phải để nó là một phần trong cuộc sống của mình.

Ngày nào mình còn ăn là còn phải hành thiền...

Như Đức Phật dạy:
- Khi khoẻ ta phải suy xét rằng: bây giờ ta còn khoẻ, ta nên cố gắng hành thiền, vì sau này ta sẽ bệnh, sẽ không hành thiền được...
- Khi ta bệnh nhẹ, ta phải suy xét rằng: bây giờ ta bệnh nhưng còn có chút sức lực, ta nên cố gắng hành thiền, vì có thể ta sẽ sớm bệnh nặng và không thể hành thiền được...
- Khi bệnh nặng, ta suy xét rằng: ta phải cố gắng hành thiền trước khi không còn cơ hội nữa.

Vậy nên, ta luôn quán tưởng và đừng chờ đợi, đừng chờ cho đến khi hết bệnh hoặc khoẻ mạnh, mà hãy cố gắng hành thiền sớm nhất khi có thể.

Sadhu Sadhu Sadhu
Sayadaw U Revata (04.11.2023)

10 ĐIỀU CHÁNH KIẾN - Sammādiṭṭhika dasavatthu1- 🔹Atthi dinnaṃ: chánh-kiến biết đúng rằng: phước-thiện bố-thí sẽ có quả t...
05/01/2026

10 ĐIỀU CHÁNH KIẾN - Sammādiṭṭhika dasavatthu

1- 🔹Atthi dinnaṃ: chánh-kiến biết đúng rằng: phước-thiện bố-thí sẽ có quả tốt, an-lạc.

2- 🔹Atthi yiṭṭhaṃ: chánh-kiến biết đúng rằng: phước-thiện cúng dường sẽ có quả tốt, an-lạc.

3- 🔹Atthi hutaṃ: chánh-kiến biết đúng rằng: phước-thiện cúng dường, đón rước, sẽ có quả tốt, an-lạc.

4- 🔹Atthi sukatadukkatānaṃ kammānaṃ phalaṃ
vipākaṃ:
chánh-kiến biết đúng rằng: đã tạo đại-thiện nghiệp, ác-nghiệp, rồi có quả an-lạc của đại-thiện-nghiệp, có quả khổ của ác-nghiệp.

5- 🔹Atthi ayaṃ loko: chánh-kiến biết đúng rằng: có cõi-giới này, nghĩa là có chúng-sinh tái-sinh đến cõi đời này.

6- 🔹Atthi paro loko: chánh-kiến biết đúng rằng: có cõi-giới khác, nghĩa là chúng-sinh sau khi chết, nghiệp của họ cho quả tái-sinh kiếp sau trong cõi khác.

7- 🔹Atthi mātā: chánh-kiến biết đúng rằng: đối xử tốt, đối xử xấu với mẹ sẽ có quả tốt, quả xấu.

8- 🔹Atthi pitā: chánh-kiến biết đúng rằng: đối xử tốt, đối xử xấu với cha sẽ có quả tốt, quả xấu.

9- 🔹Atthi sattā opapātikā: chánh-kiến biết đúng rằng: có các loài chúng-sinh hóa-sinh to lớn ngay tức thì: như chư-thiên cõi dục-giới, chư phạm-thiên cõi sắc-giới, chư phạm-thiên cõi vô-sắc-giới, chúng-sinh địa-ngục, loài ngạ-quỷ, loài a-su-ra.

10- 🔹Atthi loke samaṇabrahmaṇā samaggatā sammā-paṭipannā ye imañca lokaṃ parañca lokaṃ abhiññā sacchikatvā pavedenti:
chánh-kiến biết đúng rằng: trong đời này, có các Sa-môn, Bà-la-môn là hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-định dẫn đến chứng đắc các bậc thiền sắc-giới, các bậc thiền vô-sắc-giới, chứng đắc các phép thần thông.

Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, chứng đắc Thánh-đạo, Thánh-quả và Niết-bàn, thấy rõ, biết rõ cõi-giới này, cõi-giới khác, rồi thuyết giảng là điều có thật.

Mười điều chánh-kiến này là 10 điều trắc nghiệm khảo sát để biết mình có đầy đủ trọn vẹn hay không. Nếu xem xét thấy mình có đầy đủ trọn vẹn 10 điều chánh-kiến này thì có thể tự khẳng định mình là người có diṭṭhijukammakusala: phước-thiện chánh-kiến.

Người nào có diṭṭhijukammakusala: phước-thiện chánh-kiến, khi tạo phước-thiện bố-thí, phước-thiện giữ-giới, phước-thiện thực-hành pháp-hành thiền-định, thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, v.v... người ấy sẽ được phước-thiện vô lượng, có quả báu vô lượng không sao kể được.

Nếu người nào chưa có đầy đủ 10 điều chánh-kiến
(sammādiṭṭhika dasavatthu) thì người ấy nên cố gắng tinh-tấn theo học pháp-học Phật-giáo và nên thực-hành pháp-hành Phật-giáo, để hiểu biết rõ chánh-pháp của Đức-Phật, phát sinh đức-tin trong sạch nơi Tam-bảo, có trí-tuệ sáng suốt hiểu rõ chánh-pháp, để có được đầy đủ trọn vẹn 10 điều chánh-kiến cơ bản này.

Trích trong: PHƯỚC-THIỆN
Đại Trưởng lão Hộ Pháp biên soạn

SỐNG DỰAĐi chùa phải học giáo lý vì ngộ nhỡ một ngày không còn chùa miểu, không còn Tăng Ni mình vẫn an lạc, vẫn tự tu h...
04/01/2026

SỐNG DỰA

Đi chùa phải học giáo lý vì ngộ nhỡ một ngày không còn chùa miểu, không còn Tăng Ni mình vẫn an lạc, vẫn tự tu học được. Cái đó là cái tôi mong. Chứ còn cái kiểu mấy chục năm cắm đầu đi làm phước, cầu nguyện khấn vái tùm lum, trong khi giáo lý không biết gì hết thì chỉ cần thiếu Tăng Ni là mình đuối, đuối liền.

Cái tệ nhất là gì ?

Không có khả năng sống một mình.
Nhớ cái này quan trọng lắm nha. Không tự học, tự tu được, lúc nào cũng đi kiếm người này người kia dựa. Dựa miết chết làm con oyster.

Oyster là con hàu bám vô đá. Con ốc nó còn đi một mình được, con cua nó còn đi một mình được, con dã tràng nó còn đi một mình, con ghẹ nó đi một mình được.
Còn con oyster thì không. Con oyster luôn luôn bám vô đá, vì kiếp trước nó là những người thích dựa. Nó thích dựa.

Cho nên, mấy dân thích ăn hải sản phải tri ơn mấy người sống thiếu tự lập. Mình thích ăn hải sản mà mình thấy người nào thiếu tự lập là biết : “Rồi, kiếp sau có oyster ăn rồi”.
Đó là chuyện tự nhiên, là luật của vũ trụ.

Sư Giác Nguyên giảng
Trích bài Đại kinh Phương Quảng 4 ngày 03/10/2022

Chờ đợi thời cơ tốt nhất để thực hành Thiền & làm thiện Pháp là điều thực sự sai lầm.Nếu không sẵn sàng thực hành Thiền ...
04/01/2026

Chờ đợi thời cơ tốt nhất để thực hành Thiền & làm thiện Pháp là điều thực sự sai lầm.

Nếu không sẵn sàng thực hành Thiền miên mật ngay từ bây giờ, dấn thân hành Thiện ngay từ bây giờ, bạn sẽ không bao giờ thực hành Thiền miên mật & dấn thân hành Thiện trong tương lai.

Và cứ như thế, bạn sẽ mãi bỏ lỡ cơ hội thực hành, cơ hội vun bồi parami & thấu suốt Sự thật.

Khoảnh khắc hiện tại chính là thời điểm phù hợp nhất để bạn hành Thiền & hành Thiện.

Hãy bắt đầu ngay. Đừng lãng phí thời gian nữa.

Thiền sư Ottamathara

Có hai loại đau khổ: đau khổ dẫn đến đau khổ hơn, và đau khổ dẫn đến chấm dứt đau khổ.Đau khổ đầu tiên là chấp giữ những...
03/01/2026

Có hai loại đau khổ: đau khổ dẫn đến đau khổ hơn, và đau khổ dẫn đến chấm dứt đau khổ.

Đau khổ đầu tiên là chấp giữ những gì ưa thích và chán bỏ những gì không ưa thích.

Đau khổ thứ hai là can đảm và trì chí theo dõi không ngừng sự thay đổi của các cảm giác: hạnh phúc, đau khổ, vui vẻ, buồn chán, vừa lòng, phật ý…

Đau khổ này dẫn đến chỗ bình an.

Cố Đại Lão Thiền Sư Ajahn Chah

LÒNG BI MẪN ĐÍCH THỰCĐó là ước muốn phục vụ người khác, ước muốn giúp họ thoát khỏi khổ đau. Nhưng việc giúp người ấy ph...
03/01/2026

LÒNG BI MẪN ĐÍCH THỰC

Đó là ước muốn phục vụ người khác, ước muốn giúp họ thoát khỏi khổ đau. Nhưng việc giúp người ấy phải không để dính mắc.

Nếu bạn khóc than cho nỗi khổ của người khác, bạn chỉ làm cho mình buồn khổ mà thôi. Đây không phải là Đạo lộ của Pháp.

Nếu bạn có tâm bi thực thụ, với tất cả lòng từ, bạn cố gắng giúp người khác với hết khả năng của mình. Nếu bạn không thành công, bạn vẫn mỉm cười và cố gắng theo cách khác để giúp họ.

Bạn phục vụ mà không quan tâm đến những kết quả của việc phục vụ. Đây là tâm bi đích thực, xuất phát từ một cái tâm quân bình.

Cố Đại Lão Thiền sư S.N Goenka

CÂU HỎI: Chúng ta có thể giúp được nhau như thế nào, khi mỗi người đều phải đương đầu với quả nghiệp riêng của mình?TRẢ ...
01/01/2026

CÂU HỎI: Chúng ta có thể giúp được nhau như thế nào, khi mỗi người đều phải đương đầu với quả nghiệp riêng của mình?

TRẢ LỜI: Tâm hành (những hoạt động trong tâm) của chúng ta có một ảnh hưởng nhất định trên những người chung quanh. Nếu chúng ta chỉ phát ra những tiêu cực trong tâm, tư duy tiêu cực ấy sẽ có một ảnh hưởng tai hại đến những người tiếp xúc với chúng ta.

Nếu chúng ta để cho tâm chúng ta ngập tràn những tư duy tích cực, những tư duy từ ái đối với tha nhân, lúc đó nó sẽ có một ảnh hưởng hữu ích đến những người chung quanh chúng ta.

Bạn không thể điều chỉnh được nghiệp (những hành động) của người khác, nhưng bạn có thể tự kiềm chế mình để có một ảnh hưởng tích cực trên những người chung quanh bạn được.

2️⃣ CÂU HỎI: Chẳng phải kỹ thuật (thiền niệm thọ) này là ích kỷ sao? Như vậy làm sao chúng ta có thể trở nên năng động và giúp ích cho tha nhân được?

TRẢ LỜI: Trước tiên bạn phải ích kỷ đã, bạn phải làm lợi ích cho chính mình đã. Trừ phi bạn giúp được cho bản thân mình, bằng không bạn không thể nào giúp người khác.

Một người yếu đuối không thể nào giúp một người yếu đuối khác. Bạn phải làm sao để cho mình trở nên mạnh mẽ đã, và rồi dùng sự mạnh mẽ của mình để giúp người khác và làm cho họ cũng được mạnh mẽ như bạn. Thiền Minh Sát sẽ giúp bạn phát triển sức mạnh này để giúp mọi người.

Cố Đại Lão Thiền Sư Goenka
Tỳ Kheo Pháp Thông dịch Việt
Chia sẻ bởi Thực Hành Giáo Pháp

TÁM CÁCH TU TẬP TÙY NIỆM MARAṆĀNUSSATINiệm Maraṇānussati theo tám cách khác nhau như sau:1🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – S...
01/01/2026

TÁM CÁCH TU TẬP TÙY NIỆM MARAṆĀNUSSATI

Niệm Maraṇānussati theo tám cách khác nhau như sau:

1🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến”, hoặc “Jīvitindriyaṃ upacchijjissati – Mạng căn sẽ bị cắt đứt”, hoặc “Maranantaṃ jīvitaṃ – Mạng sống có kết thúc là chết”.

Rồi hành giả suy xét: Mạng sống vừa sanh ra thì sự chết đã gắn liền, cái chết sẽ đoạt mạng sống, ví như người bị kẻ sát nhân cầm gươm kề cổ vậy. Đó là cách niệm chết thấy mạng sống bị đe dọa.

2🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Mọi sự thành công trong cuộc sống cũng phải suy sụp. Cũng vậy mọi sức khỏe sẽ chấm dứt bằng tật bệnh, mọi tuổi trẻ sẽ chấm dứt bằng già nua, mọi sự sống sẽ chấm dứt bằng cái chết. Đó là cách niệm chết thấy mạng sống bị ngã đổ.

3🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Người có danh vọng cũng chết, người có đại phước cũng chết, người dũng mãnh cũng chết, bậc đại thần thông cũng chết, bậc đại trí tuệ cũng chết, bậc đại giác cũng chết, thế thì ta cũng phải chết. Đó là cách niệm chết so sánh với người khác.

4🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Cái thân này là chỗ trú ẩn của các loại ký sinh trùng, khi các loại ký sinh trùng ấy nổi loạn thì thân này sẽ bị bệnh thống khổ và sẽ có thể đi đến cái chết. Đó là cách niệm chết thấy thân thể bị tổn hại do là chỗ trú của ký sinh trùng.

5🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Mạng sống này gắn liền với hơi thở, khi hơi thở dừng lại là chết; Mạng sống này gắn liền với bốn oai nghi, khi bốn oai nghi không hoạt động là chết; Mạng sống này gắn liền nhiệt độ, khi nóng quá hoặc lạnh quá là chết; Mạng sống này còn tồn tại do bốn đại điều hòa, khi bốn đại bất hòa là có thể chết; Mạng sống này được nuôi dưỡng nhờ thức ăn, khi không còn ăn được thì chết. Đó là cách niệm chết thấy mạng sống mỏng manh do bị lệ thuộc.

6🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Có năm điều xảy ra không biết trước được, ấy là thọ mạng, tật bệnh, thời điểm chết, nơi bỏ xác, sanh thú. Cái chết sẽ xảy ra không biết lúc nào và ở đâu? Đó là cách niệm chết thấy mạng sống bất định.

7🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Mạng sống này có giới hạn thời gian, tuổi thọ dài hay ngắn tùy theo phước nghiệp, nhưng thời kỳ này trung bình là trăm tuổi, có sanh ra phải có chết. Đó là cách niệm chết sự sống có giới hạn.

8🔹Niệm: “Maraṇaṃ bahvissati – Sự chết sẽ xảy đến” v.v...

Rồi hành giả suy xét: Mạng sống này thật sự ngắn ngủi vì mỗi tâm sanh chỉ tồn tại một sát-na (khoảnh khắc nhanh hơn một cái chớp mắt), và tế bào sắc hình thành chỉ tồn tại mười bảy sátna, rồi tâm pháp và sắc pháp ấy sau khoảnh khắc đã hoại diệt, gọi là sự chết xảy ra trong từng sát-na. Đó là cách niệm chết nghĩ đến mạng sống quá ngắn ngủi.

------------

Mọi chúng sanh sẽ chết,
Mạng sống, chết kết thúc,
Tùy nghiệp, họ sẽ đi,
Nhận lãnh quả thiện ác,
Ác nghiệp, đọa địa ngục,
Thiện nghiệp, lên Thiên giới.
Do vậy hãy làm lành,
Tích lũy cho đời sau,
Công đức cho đời sau,
Làm hậu cứ cho người.

SN3.22
Vism
TỲ KHƯU GIÁC GIỚI
THANH TỊNH ĐẠO YẾU LƯỢC
Nguồn : Vepulla Bhikkhu

GIỚI VỰC TỈNH GIÁCĐức Phật luôn nhắc nhở các tỳ kheo hãy hằng sống trong giới vực của mình, có nghĩa là hãy có chánh niệ...
31/12/2025

GIỚI VỰC TỈNH GIÁC

Đức Phật luôn nhắc nhở các tỳ kheo hãy hằng sống trong giới vực của mình, có nghĩa là hãy có chánh niệm không ngừng nghỉ với các đối tượng thân tâm. Ở đây, giới vực tỉnh giác có nghĩa đơn giản là hành thiền Minh Sát Niệm Xứ.

Chánh niệm ví như máy tìm dò (sensor) bén nhạy bắt được, dò được tất cả các loại đối tượng đang sanh khởi qua sáu cửa giác quan, hay qua thân, thọ, tâm và pháp. Khi quán thân trong lúc ngồi thiền, hành giả ghi nhận, theo dõi đề mục chính là chuyển động phồng xẹp của bụng hay mọi diễn biến của đất, nước, gió, lửa... một cách tinh cần, chánh niệm và tỉnh giác. Khi đi, hành giả cũng ghi nhận, theo dõi từng chuyển động giở, bước, đạp của bước chân một cách tinh cần, chánh niệm, và tỉnh giác.

Sự hành thiền theo phép quán thọ, quán tâm, quán pháp niệm xứ cũng đều giống như vậy thôi. Ví như, bằng cấp kỹ sư tuy có nhiều ngành như điện tử, cơ khí, cầu cống... nhưng đều đem đến lợi ích như nhau là phục vụ đời sống con người.

Vậy trong pháp hành Minh Sát Niệm Xứ, giới vực tỉnh giác còn có nghĩa rốt ráo là hành giả ở trong một giới vực nào, cứ đi cho đúng đường là sẽ tới đích, tới thành công. Không phải đối tượng này hay hơn đối tượng kia, không phải Thân Niệm Xứ kém thâm sâu hơn Thọ Niệm Xứ; không phải chỉ Tâm Niệm Xứ mới đi đến giác ngộ còn Thân, Thọ Niệm Xứ thì không giác ngộ, không diệt trừ được phiền não... Ta cứ hành đúng trong giới vực, chỗ nào chặt chẽ, chính xác, tỉ mỉ, xuyên thấu, quân bình... thì chỗ đó mới gọi là có giới vực tỉnh giác.

Về loại tỉnh giác này, Sư cũng có một kinh nghiệm khó quên. Sư hành thiền Minh Sát Niệm Xứ bên Ấn Độ cả chục năm rồi mà chưa thấy kết quả gì đáng kể. Trong khi đó một người bạn đồng tu với Sư - Đại Đức Rastrapala - chỉ hành thiền có một, hai năm theo phương pháp Ngài Mahasi mà đã thành thiền sư rồi! Có lần vị ấy đến gần và chia sẻ với Sư, “Sư có biết không, cái pháp Thân Quán Niệm Xứ này dễ hành, dễ kinh nghiệm lắm! Chỉ cần có đức tin và nỗ lực làm đúng theo lãnh vực của mình, y theo lời hướng dẫn là sẽ kinh nghiệm được.”

Vị Sư ấy chỉ nói như vậy, không giải thích gì thêm cả. Và rồi Sư suy nghiệm trong cả cuộc đời mình, Sư cũng thấy đúng như vậy. Cứ hành cho đúng đắn trong lãnh vực của mình thì pháp nào cũng đem đến kết quả, lợi lạc như nhau. Lấy một ví dụ cho dễ hiểu, như nếu Sư muốn đi về Việt Nam, Miến Điện, v.v. Sư đâu có cần phải đi học lái máy bay để lái được phi cơ đến các nơi đó. Chỉ cần làm sao cho có vé máy bay là được rồi. Phi cơ, phi công đã có sẵn, mình chỉ leo lên ngồi cho đúng chuyến, đúng giờ. Cứ ngồi yên trên đó, không mong
cầu gì cả, rồi máy bay nó sẽ đưa mình đi đến nơi, về
đến chốn.

Cũng vậy, Đức Phật đã chỉ cách thiền rồi, bổn phận của chúng ta là nỗ lực chánh niệm ghi nhận để kinh nghiệm được các đặc tánh chung vô thường, khổ, vô ngã của các đối tượng sanh khởi trong từng giây, từng phút qua sáu cửa giác quan. Có như vậy, ta mới không dính mắc vào đối tượng. Khi bỏ được cái vô thường, ta sẽ bắt được cái thường của “cõi Phật”. Thường mới là vui mãi mãi.

Cho nên, một giây phút kinh nghiệm thực sự được Vô Thường, Khổ, Vô Ngã là một giây phút kinh nghiệm được Niết Bàn. Chỗ này mới thật gọi là giới vực tỉnh giác.

Trích trong Vài Làn Hương Pháp
Đại Trưởng Lão Thiền Sư Kim Triệu
Chia sẻ bởi Thực Hành Giáo Pháp

Address

Hanoi

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Phật Giáo Nguyên Thủy Theravada:

Share