Nhang thảo dược Vimutti gồm 28 loại thảo dược của 3 miền Việt Nam. Có tác dụng lưu thông khí huyết và không có các hóa chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe.
18/10/2024
TRƯỜNG BỘ TẬP BA - PHẨM PĀTHIKA
DĪGHANIKĀYO TATIYO BHĀGO - PĀTHIKAVAGGO
Tam Tạng Pāḷi (Tipiṭakapāḷi) gồm có 3 Tạng:
- Vinayapiṭaka - Tạng Luật,
- Suttantapiṭaka - Tạng Kinh,
- Abhidhammapiṭaka - Tạng Luận / Tạng Vô Tỷ Pháp / Tạng Vi
Diệu Pháp / Tạng Thắng Pháp.
Suttantapiṭaka - Tạng Kinh gồm có 5 bộ:
- Dīghanikāya - Trường Bộ,
- Majjhimanikāya - Trung Bộ,
- Saṃyuttanikāya - Tương Ưng Bộ,
- Aṅguttaranikāya - Tăng Chi Bộ,
- Khuddakanikāya - Tiểu Bộ.
Dīghanikāya - Trường Bộ được chia làm ba phần (bhāga), gọi là phẩm (vagga):
- Paṭhamabhāga - Phần Một: Sīlakkhandhavagga - Phẩm Giới Uẩn,
- Dutiyabhāga - Phần Hai: Mahāvagga - Đại Phẩm
- Tatiyabhāga - Phần Ba: Pāthikavagga - Phẩm Pāthika.
Đây là tập thứ ba thuộc Dīghanikāya - Trường Bộ, và là tập thứ 12
trong số 58 tập của Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi - Việt (TTPV 12). Tập này là Tatiyabhāga - Phần Ba và có tên là Pāthikavagga - Phẩm Pāthika; tên gọi này được lấy theo tên của bài Kinh đầu của phẩm, Pāthikasuttaṃ. Pāthikavagga - Phẩm Pāthika gồm có 11 bài Kinh có tựa đề và nội dung tóm lược như sau:
1. Pāthikasuttaṃ - Kinh về Pāthika (24):
Bài Kinh thuật lại câu chuyện trao đổi giữa đức Phật và du sĩ Bhaggavagotta về việc quay trở lại cuộc sống tại gia của tỳ khưu Sunakkhatta có xuất thân là một vương tử thuộc tộc Licchavi. Vì không có đủ khả năng để sống Phạm hạnh, vị này đã đã lìa bỏ sự học tập viện dẫn hai lý do: Đức Phật không thi triển thần thông và không giải thích sự khởi nguyên của bản ngã và thế giới bên ngoài cho vị ấy. Trong lúc là tỳ khưu, Sunakkhatta mặc dầu tán thán ân đức Tam Bảo nhưng lại đánh giá cao sự tu tập của các đạo sĩ ngoại đạo,lại còn xúi giục sự thi triển thần thông giữa đức Thế Tôn và đạo sĩ lõa thể Pāthikaputta. Kết cuộc là đạo sĩ lõa thể này đã trốn tránh không dám đối diện đức Thế Tôn. Về khởi nguyên của thế giới, đức Thế Tôn phủ nhận quan điểm thế giới được hình thành do sự sáng tạo của một đấng Chúa Tể hay của một đấng Phạm Thiên, không phải do sự sa đọa của hai hạng chư Thiên bị hư hỏng, và cũng không phải đã được sanh lên một cách ngẫu nhiên. Kết thúc bài Kinh, đức Phật nhấn mạnh Giáo Pháp được chỉ bảo bởi Ngài nhằm diệt tận khổ thông qua việc giải thoát hoàn toàn (vimutti) không còn ô nhiễm, không phải là sự giải thoát tạm thời (vimokkha) thông qua thiền định.
2. Udumbarikasuttaṃ - Kinh tại Khu Vườn của Udumbarikā (25):
Bài Kinh dẫn nhập với cuộc trò chuyện giữa gia chủ Sandhāna với du sĩ Nigrodha, trong đó vị cư sĩ đã chỉ trích sự ồn ào của các du sĩ trong khi trao đổi về các câu chuyện thế tục, khác biệt với sự an tịnh độc cư ở nơi thanh vắng của đức Phật. Đáp lại, du sĩ Nigrodha đã lên tiếng chê bai đức Phật. Nhờ vào thần thông, đức Phật đã nghe được cuộc đối thoại này và Ngài đã đi đến trú xứ của du sĩ Nigrodha ở khu vườn dành cho du sĩ của hoàng hậu Udumbarikā. Tại đấy, du sĩ Nigrodha đã thỉnh đức Thế Tôn nói về giáo pháp của Ngài nhưng Ngài đã từ chối, viện dẫn rằng sẽ khó hiểu đối với các vị du sĩ, và gợi ý du sĩ Nigrodha hãy hỏi Ngài về chính học thuyết khổ-hạnh-và-ghê-tởm của họ. Trả lời câu hỏi của du sĩ Nigrodha về sự thực hành của các du sĩ như thế nào là được làm đầy đủ và như thế nào là không được làm đầy đủ, đức Thế Tôn không những trình bày chi tiết về sự thực hành của các du sĩ mà còn nêu ra hệ quả là những pháp ô uế xảy đến cho người tu khổ hạnh. Du sĩ Nigrodha đã thú nhận rằng một kẻ khổ hạnh nào đó có thể hội đủ toàn bộ tất cả các sự ô uế ấy. Kế đến, đức Phật chỉ ra những phương thức để vị tu khổ hạnh có thể đạt đến tột đỉnh và cốt lõi ở pháp tu khổ hạnh của họ. Và Ngài nhấn mạnh rằng Pháp mà Ngài hướng dẫn các vị tỳ khưu là vượt trội hơn và cao quý hơn so với những gì Ngài vừa trình bày. Du sĩ Nigrodha đã thấy ra sai lầm, đã bày tỏ, và đã cầu xin sự tha thứ. Cuối cùng, đức Thế Tôn khẳng định những gì Ngài vừa trình bày không nhằm thuyết phục các du sĩ làm đệ tử của mình mà Ngài chỉ ra Giáo Pháp để những ai thực hành theo có thể dứt bỏ được mọi ô nhiễm và chứng ngộ giải thoát.
3. Cakkavattisuttaṃ - Kinh Chuyển Luân Vương (26):
Bài Kinh này đức Thế Tôn thuyết giảng tại thành Mātulā, xứ Magadha nhằm mục đích khuyên bảo các tỳ khưu hãy sống lấy bản thân, lấy Giáo Pháp là hòn đảo, là nơi nương tựa, không nơi nương tựa khác, và khuyến khích các vị hãy chuyên chú thực hành bốn pháp thiết lập niệm: có sự quan sát thân ở thân, thọ ở các thọ, tâm ở tâm, và pháp ở các pháp, với sự nhiệt tâm, có sự nhận biết rõ, có niệm, sau khi đã loại trừ tham đắm và ưu phiền ở thế gian. Ngài nhấn mạnh việc thọ trì và tu tập các thiện pháp sẽ làm tăng trưởng phước báu về cả hai lãnh vực hữu lậu và vô lậu. Đức Phật đã liên hệ đến câu chuyện quá khứ vào thời đức vua Daḷhanemi, là vị Chuyển Luân Vương có đầy đủ bảy báu vật. Với việc thường xuyên thực hành các phận sự cao quý của vị Chuyển Luân, đức vua Daḷhanemi đã chinh phục và ngự trị trái đất được biển bao quanh này một thời gian dài cho đến lúc
bánh xe báu thuộc cõi Trời bị lún xuống, bị lệch khỏi vị trí, thì đức vua đã trao truyền ngôi vua lại cho con trai trưởng rồi xuất gia làm ẩn sĩ. Truyền thống thực hành phận sự cao quý của vị Chuyển Luân đã được duy trì trải qua bảy đời vua, và đến đời vị vua thứ tám thì phận sự cao quý này đã bị xao lãng, truyền thống của tiên đế đã không được duy trì, và vị vua này đã cai trị xứ sở theo ý riêng của mình. Kết quả là đạo đức xã hội đã bị suy đồi: trộm cắp, giết hại sinh mạng, nói dối, nói đâm thọc, v.v… phát triển và tuổi thọ của loài người giảm dần từ tám mươi ngàn năm xuống đến chỉ còn mười năm, khi ấy các cô gái năm tuổi sẽ được gả chồng, đạo
đức xuống thấp, khái niệm về “thiện” không còn, chúng sinh thù hằn, chém giết lẫn nhau, v.v… Một số chúng sinh sống sót qua thời kỳ ấy nhận thấy mọi sự suy đồi là do nhân các pháp bất thiện, và họ đã vận động thực hành các pháp thiện, khởi đầu là tránh xa việc giết hại sinh mạng, tránh xa việc trộm cắp, v.v… kết quả tuổi thọ của loài người tăng dần từ mười năm, hai mươi năm, cho đến tám mươi ngàn năm, khi ấy tuổi gả chồng cho các cô gái sẽ là năm trăm năm, xứ sở sẽ được trị vì bởi đức Chuyển Luân Vương Saṅkha, và đấng Toàn Giác Metteyya sẽ hiện khởi ở thế gian. Kết thúc bài Kinh, đức Thế Tôn nhắn nhủ rằng do nhân thọ trì các pháp thiện mà tuổi thọ, sắc đẹp, tài sản của loài người được tăng trưởng, còn đối với các tỳ khưu là được thành tựu Thánh pháp.
4. Aggaññasuttaṃ - Kinh Khởi Nguyên của Thế Giới (27):
Bài Kinh này đức Phật giảng cho Vāseṭṭha và Bhāradvāja, hai thanh niên Bà-la-môn đang sống thử thách ở nơi các vị tỳ khưu với ước muốn trở thành tỳ khưu, nhằm phản bác lại quan điểm cho rằng trong số bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Thương nhân, và Lao công thì chỉ mỗi giai cấp Bà-la-môn là cao thượng là được sanh ra từ miệng của Phạm Thiên, là những người thừa tự của Phạm Thiên. Ngài bác bỏ học thuyết cho rằng chúng sinh đã được tạo nên từ một Thượng đế toàn năng, mà do chính họ đã đến từ thế giới Quang Âm Thiên thông qua việc tái sanh, và chúng sinh đến đầu tiên đã lầm tưởng bản thân mình có công tạo nên các chúng sinh khác. Vào thời kỳ sơ khai ấy, toàn bộ thế giới đều là nước, tối mù, tối mịt, mặt trăng và mặt trời, các tinh tú, các vì sao, đêm và ngày, tháng
và nửa tháng, mùa tiết và năm đều không được biết đến, ngay cả giới tính nữ và nam cũng chưa xuất hiện; chúng sinh chỉ được gọi là ‘chúng sinh.’ Dần dà, do bản tánh bất thiện nảy sanh ở các chúng sinh mà các hiện tượng trên lần lượt xảy ra, và sự phân hạng đã xảy ra rồi hình thành nên bốn giai cấp. Khi một cá nhân ở một trong bốn giai cấp trên chỉ tríchpháp của bản thân rồi rời nhà, xuất gia, sống không nhà, thì tạo nên quần thể Sa-môn. Ngài nhấn mạnh rằng do thiện hạnh hay uế hạnh thông qua thân khẩu ý khiến cho chúng sinh, vào lúc mạng chung, sẽ đi đến nhàn cảnh hay khổ cảnh bất luận chúng sinh ấy thuộc giai cấp nào.
Và ai trong số bốn giai cấp ấy có sự thu thúc về thân khẩu ý, có sự tu tập bảy pháp dự phần vào việc giác ngộ, có sự đoạn trừ các ô nhiễm và chứng ngộ Niết Bàn ngay ở bản thể này, vị ấy được được xem là tối cao trong số các chúng sinh ấy.
5. Sampasādanīyasuttaṃ - Kinh Khởi Niềm Tịnh Tín (28): Vào
lúc đức Thế Tôn trú tại Nāḷandā, nơi rừng xoài của Pāvārika, đại đức
Sāriputta đã đến và tuyên bố niềm tịnh tín của mình đối với đức Thế Tôn về thắng trí vượt trội của Ngài: ‘Đã không có, sẽ không có, và hiện nay không tìm thấy vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có thắng trí cao hơn đức Thế Tôn, tức là trí Toàn Giác.’ Đến khi đức Phật hỏi lý do thì đại đức Sāriputta đã trả lời là do bản thân biết được truyền thống của Giáo Pháp:
‘Tất cả các đức Thế Tôn quá khứ, vị lai, và hiện tại, đều đã dứt bỏ năm pháp che lấp là các sự ô uế của tâm làm cho tuệ yếu đuối, đã khéo thiết lập tâm ở bốn sự thiết lập niệm, đã phát triển bảy chi phần đưa đến giác ngộ, và đã hoàn toàn giác ngộ phẩm vị Chánh Đẳng Giác vô thượng.’ Và đại đức đã cho biết nhờ vào sự chỉ bảo Pháp của đức Thế Tôn mà bản thân đã thấu hiểu được bốn Chân Lý Cao Thượng và đã được giải thoát. Đại đức đã tán dương sự chỉ bảo của đức Thế Tôn về các đề tài thuộcGiáo Pháp: về các pháp thiện, về các xứ, về các trường hợp nhập thai, về các phương thức biết được tâm của người khác, về các sự thể nhập việc thấy, về sự phân loại các hạng người, về các sự nỗ lực, về các lối thực hành, về hành vi nói năng, về hành vi đạo đức, về các cách thức giáo huấn, về trí giải thoát của người khác, về các học thuyết trường tồn, về trí
nhớ lại các kiếp sống quá khứ, về trí sanh tử, về các loại thần thông, và kết luận rằng sự chỉ bảo của Ngài là vô thượng, không ai có thể vượt trội Ngài về lãnh vực này. Khi ấy, đại đức Udāyi đã ca ngợi đức Thế Tôn rằng:
‘Bạch Ngài, thật là kỳ diệu! Bạch Ngài, thật là phi thường! Đức Như Lai có tánh ít muốn, có tánh tự biết đủ, có tánh khắc khổ! Đức Như Lai thật sự có đại thần lực như vậy, có đại oai lực như vậy, thế mà Ngài không bao giờ bộc lộ bản thân.’ Đức Thế Tôn xác nhận điều ấy và bảo đại đức Sāriputta hãy thường xuyên thuyết bài giảng Pháp này đến tứ chúng, nhờ thế những ai được nghe bài giảng Pháp này thì sẽ dứt bỏ các điều nghi ngờ hoặc nghi vấn về Ngài.
6. Pāsādikasuttaṃ - Kinh Khơi Dậy Niềm Tin (29):
Vào lúc đức Thế Tôn trú tại xứ sở của dòng họ Sakya, trong khu
rừng xoài của những người Sakya tên Vedhañña, Ngài đã hay tin đạo sĩ lõa thể Nātaputta vừa mới mệnh chung ở Pāvā và nội bộ các đạo sĩ lõa thể bị phân hóa, nảy sanh sự xung đột, nảy sanh sự cãi cọ, tiến đến sự tranh luận, châm chích lẫn nhau bằng lời lẽ; các đệ tử cư sĩ mặc y phục màu trắng của đạo sĩ lõa thể Nātaputta cũng có vẻ nhàm chán, có vẻ không còn yêu mến, có vẻ quay lưng lại đối với các đạo sĩ lõa thể đệ tử của Nātaputta. Hai vị đại đức, Ānanda và Sa-di Cunda, đã đi đến gặp đức Phật và trình bày sự việc trên. Đức Thế Tôn đã nêu ra ba yếu tố:
1. Vị đạo sư không phải là bậc Chánh Đẳng Giác;
2. Pháp được thuyết vụng về, được công bố vụng về, không liên quan đến việc thoát ra khỏi luân hồi, không đưa đến sự an tịnh, được công bố bởi vị không phải Chánh Đẳng Giác;
3. Vị đệ tử sống trong giáo pháp ấy, không thực hành đúng pháp và thuận pháp, không thực hành đúng đắn, không cư xử theo pháp, và vận hành chệch khỏi giáo pháp ấy. Và Ngài cho biết rằng Phạm hạnh do Ngài tuyên thuyết là được thành tựu về mọi mặt: về vị Đạo sư, về Pháp thuyết giảng, về sự trưởng thành của các đệ tử xuất gia và tại gia, và Phạm hạnh của Ngài là được thành tựu và phát triển, được phổ biến, có tính phổ thông, trở nên phổ cập, và được giảng giải khéo léo đến chư Thiên và loài người. Ngài đã khuyên các vị tỳ khưu nên tụ hội lại, nên cùng nhau đọc tụng, nên giúp nhau tìm hiểu về ý nghĩa cũng như từ ngữ, và không nên tranh cãi lẫn nhau về các pháp mà Ngài đã biết thấu đáo và chỉ bảo lại, gồm có: bốn sự thiết lập niệm, bốn chánh cần, bốn nền tảng của thần thông, năm quyền, năm lực, bảy yếu tố đưa đến giác ngộ, đạo lộ thánh
thiện tám chi phần. Và Ngài cũng nhấn mạnh rằng Ngài chỉ bảo Giáo Pháp nhằm ngăn ngừa các lậu hoặc ngay trong đời này và nhằm diệt trừ các lậu hoặc trong đời sau. Vì thế, đối với bốn nhu cầu cần thiết là ăn, mặc, ở, thuốc men trị bịnh, Ngài cho phép sử dụng chúng mới mức độ vừa đủ để duy trì mạng sống. Cũng vậy, Ngài chỉ trích sự gắn bó với việc đam mê lạc liên quan đến việc sát sanh, trộm cắp, nói dối, hưởng thụ năm loại dục, và khuyến khích sự gắn bó với việc đam mê lạc của thiền đem lại quả báo được mong đợi là bốn đôi Thánh Đạo và Thánh Quả.
Sau cùng, Ngài đề cập đến chín sự việc mà vị tỳ khưu là bậc A-la-hán không bao giờ vi phạm, đến việc có những câu hỏi mà Ngài sẽ không trả lời bởi vì những câu hỏi ấy không liên quan đến giải thoát. Tóm lại, 'Đây là Khổ,' 'Đây là nhân sanh Khổ,' 'Đây là sự diệt tận Khổ,' 'Đây là lối thực hành đưa đến sự diệt tận Khổ' là điều được trả lời bởi đức Thế Tôn. Và Ngài kết luận bốn sự thiết lập niệm được chỉ bảo, được tuyên bố bởi Ngài là nhằm để dứt bỏ, nhằm vượt qua hẳn các lập luận tà kiến liên hệ đến quá khứ và các lập luận tà kiến liên hệ đến vị lai.
7. Lakkhaṇasuttaṃ - Kinh Tướng Trạng (30):
Đức Phật giảng về ba mươi hai đại nhân tướng của bậc đại nhân
lúc Ngài trú tại thành Sāvatthī, ở Jetavana, nơi tu viện của ông
Anāthapiṇḍika (rằng): Bậc đại nhân nào hội đủ các tướng này chỉ có hai số phận: Nếu vị ấy sống tại gia thì trở thành đức Chuyển Luân Vương, bậc cai trị bốn phương, vị đã đạt được sự bền vững của xứ sở, có đầy đủ bảy báu vật, nếu xuất gia rời nhà sống không nhà thì trở thành bậc A-la-hán, đấng Chánh Đẳng Giác, không còn ô nhiễm. Ngài tuyên bố bản thân có đầy đủ ba mươi hai tướng trạng này, và Ngài cho hay rằng các vị ẩn sĩ thuộc ngoại giáo cũng ghi nhớ về ba mươi hai đại nhân tướng này của bậc đại nhân, nhưng họ không biết do tạo những nghiệp nào mà có được các tướng trạng này. Rồi Ngài đã giải thích chi tiết về ba mươi hai đại nhân tướng, về những thiện hạnh, về những công đức mà tiền thân Ngài đã thực hiện trong các kiếp sống quá khứ, về những quả báo đã được thọ hưởng ở cõi Trời, đến khi sanh lại làm người thì được thành tựu các đại nhân tướng ấy. Có một số công hạnh thù thắng có liên quan đến sự thành tựu của hai hay ba đại nhân tướng, ví dụ: Do nhân đã dứt bỏ việc sát hại sinh mạng, đã xa lánh việc sát hại sinh mạng, do việc sống có liêm sỉ, có lòng trắc ẩn, có lòng thương tưởng đến lợi ích cho mọi loài có sinh mạng, đến khi sanh lại làm người, Ngài đạt được ba đại nhân tướng này, là có gót chân dài, đầy đặn, có ngón (tay, chân) dài, và có thân hình cao thẳng, v.v… Vì thế, đại nhân tướng có ba mươi hai nhưng phần trình bày công
hạnh được thấy chỉ có hai mươi tiêu đề.
8. Sigālasuttaṃ - Kinh về Sigāla (31):
Đức Thế Tôn, trong lúc đi vào thành Rājagaha để khất thực, đã
nhìn thấy thanh niên gia chủ Sigāla đi ra khỏi thành Rājagaha vào lúc sáng sớm với y phục ướt đẫm, với đầu tóc ướt đẫm, đang chắp tay cúi lạy khắp các hướng, hướng đông, hướng nam, hướng tây, hướng bắc, hướng dưới, và hướng trên. Ngài hỏi nguyên do thì Sigāla cho biết là làm theo lời dạy của thân phụ. Đức Phật đã giải thích trong Luật của bậc Thánh sáu hướng không nên được cúi lạy như vậy. Theo lời yêu cầu của Sigāla, đức Phật đã giảng rằng: Bốn ô nhiễm do hành động (việc giết hại sinh mạng, lấy vật không được cho, hành vi sai trái ở các dục, nói dối) của vị Thánh đệ tử là đã được dứt bỏ, vị ấy không làm hành động xấu xa bởi bốn lý do (vì mong muốn, vì sân hận, vì si mê, vì sợ hãi), và không thân cận sáu cửa ngõ dẫn đến sự tiêu hoại của cải (việc uống chất say, lai vãng
ở các đường phố vào ban đêm, thăm viếng các cuộc hội hè, chơi các trò cờ bạc, giao lưu với bạn bè ác xấu, lười biếng); như vậy vị ấy là đã xa lánh mười bốn ác pháp. Rồi Đức Phật giải thích thêm về bốn hạng người không phải là bạn: Kẻ chỉ lấy đi, kẻ chỉ giỏi nói, kẻ nói lấy lòng, bạn (rủ rê) hoang phí, và về bốn hạng thân hữu chí tình: Bạn là người giúp đỡ, người đồng vui đồng khổ, người khuyên bảo điều lợi ích, và người có lòng thương tưởng đến mình. Cuối cùng, đức Phật giải thích sáu hướng, trong Luật của bậc Thánh, đại diện cho sáu hạng người: Hướng đông là mẹ và cha, hướng nam là các vị thầy dạy học, hướng tây là con và vợ, hướng bắc là bạn bè và thân hữu, hướng dưới là tôi tớ và nhân công, hướng trên là Sa-môn và Bà-la-môn. Và Ngài đã chỉ dạy về các bổn phận cần được thực hiện của bản thân đối với từng hạng người, và cách đối xử đáp trả của các hạng người này, ví dụ: con cái đối với cha mẹ, cha mẹ đối
với con cái; trò đối với thầy, thầy đối với trò, chồng đối với vợ, vợ đối với chồng, v.v… Như vậy, chính do sự đối xử đúng pháp này mà sáu phương của vị Thánh đệ tử là được bao bọc, an toàn, không có hoảng sợ.
9. Āṭānāṭiyasuttaṃ - Kinh Hộ Trì Āṭānāṭiya (32):
Vào lúc đức Thế Tôn trú tại Rājagaha, ở núi Gijjhakūṭa, bốn vị đại
(Thiên) vương cùng với các đội quân Dạ-xoa, Càn-thát-bà, Cưu-bàn-trà, Na-ga đông đảo đã đi đến yết kiến Ngài và vị Đại (Thiên) vương Vessavaṇa đã trình báo với Ngài về thực trạng đa phần các Dạ-xoa không tịnh tín với đức Thế Tôn, bởi vì đức Thế Tôn chỉ bảo xa lánh những việc làm mà phần đông các Dạ-xoa thường xuyên thực hành như là việc giết hại sinh mạng, việc lấy vật không được cho, tà hạnh ở các dục, việc nói dối, việc uống rượu và chất lên men, rồi vị Đại (Thiên) vương đã thỉnh cầu đức Thế Tôn hãy học bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya nhằm tạo ra niềm tin ở các Dạ-xoa, đồng thời tạo được sự hộ trì, sự bảo vệ, sự không nhiễu hại,sự sống thoải mái cho các tỳ khưu, các tỳ khưu ni, các nam cư sĩ, các nữ cư sĩ. Được sự chấp thuận của đức Thế Tôn, vị Đại (Thiên) vương Vessavaṇa đã nói bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya này. Mở đầu bài kệ là phần tán thán và đảnh lễ chư Phật, cụ thể là sáu vị Phật quá khứ: Vipassī, Sikhī, Vessabhū, Kakusandha, Koṇāgamana, Kassapa, thêm đức Gotama thuộc thời hiện tại là bảy, và luôn cả các bậc Tịch Tịnh ở thế gian. Kế đến bài kệ đề cập đến bốn vị Đại (Thiên) vương hộ trì bốn hướng: hướng Đông là vị Dhataraṭṭha chúa tể các Càn-thát-bà, hướng Nam là vị Virūḷha chúa tể của các Cưu-bàn-trà, hướng Tây là vị Virūpakkha chúa tể của các Na-ga, hướng Bắc là vị Kuvera chúa tể của các Dạ-xoa. Mỗi vị Đại (Thiên) vương có chín mươi mốt người con trai có cùng tên là Inda, và tất cả các vị ấy đều đảnh lễ đức Phật Gotama. Trải qua đêm ấy, đức Thế Tôn đã thuật lại câu chuyện và bảo các vị tỳ khưu hãy học thuộc lòng, hãy ghi nhớ bài kệ hộ trì Āṭānāṭiya này hầu có được sự hộ trì, có được sự bảo vệ, có được sự không nhiễu hại, có được sự sống thoải mái đến các tỳ khưu, đến các tỳ khưu ni, đến các nam cư sĩ, đến các nữ cư sĩ.
10. Saṅgītisuttaṃ - Kinh Hợp Tụng (33): Vào lúc đức Thế Tôn đi du
hành ở xứ sở của những người Malla, Ngài đã đi đến thành phố Pāvā và trú ở rừng xoài của Cunda, con trai người thợ kim hoàn. Vào lúc bấy giờ, những người Malla cư dân ở Pāvā đã thỉnh mời đức Thế Tôn và năm trăm vị tỳ khưu ngự đến hội trường Ubbhataka mà họ vừa mới cho xây dựng xong. Tại đó, đức Thế Tôn đã thuyết Pháp cho những người Malla cư dân ở Pāvā đến tận đêm khuya. Khi các cư dân đã ra về, đức Thế Tôn cảm thấy mỏi lưng nên đã nằm nghỉ và bảo ngài Sāriputta giảng Pháp đến các vị tỳ khưu. Ngài Sāriputta, nhân việc đạo sĩ lõa thể Nātaputta vừa mới từ trần ở Pāvā và việc chia rẽ đã xảy ra ở các đạo sĩ lõa thể sau cái chết của vị giáo chủ, đã giải thích là do tập thể đạo sĩ lõa thể có pháp và luật được thuyết vụng về, được công bố vụng về, được công bố bởi vị
không phải Chánh Đẳng Giác. Trái lại, Pháp và Luật này của các vị tỳ
khưu là được thuyết khéo léo, được công bố khéo léo bởi dức Thế Tôn, là bậc Chánh Đẳng Giác. Vì thế, tất cả các vị tỳ khưu nên cùng nhau đọc tụng Pháp ấy, không nên tranh cãi, nhờ thế Phạm hạnh này có thể được lưu truyền và tồn tại lâu dài; việc ấy là vì sự lợi ích cho nhiều người, vì sự an lạc cho nhiều người, vì lòng bi mẫn đối với thế gian, vì sự tấn hóa, vì sự lợi ích, vì sự an lạc của chư Thiên và nhân loại. Và ngài Sāriputta đã tuần tự thuyết giảng Pháp được phân thành nhóm, từ nhóm Một Pháp chỉ có một chi pháp là “Tất cả chúng sinh có sự tồn tại nhờ vào yếu tố nuôi dưỡng,” nhóm Hai Pháp gồm có 33 nhóm tức là 66 chi pháp, nhóm Ba Pháp gồm có 60 nhóm tức là 180 chi pháp, … cho đến nhóm Mười Pháp gồm có 6 nhóm tức là 60 chi pháp; tổng cộng gồm có 229 nhóm và 1009 chi pháp. Đức Thế Tôn gọi đây là “Saṅgītipariyāya” (Bài giảng Hợp Tụng).”
11. Dasuttarasuttaṃ - Kinh Thập Thượng (34): Vào lúc đức Thế Tôn
đang trú tại thành Campā, bên bờ hồ Gaggarā cùng với năm trăm vị tỳ khưu, ngài Sāriputta đã thuyết giảng bài Kinh này. Tương tự như bài Kinh trước, Saṅgītisuttaṃ - Kinh Hợp Tụng, các pháp được trình bày ở bài Kinh này cũng phân thành mười nhóm từ một chi pháp đến mười chi pháp, trong mỗi nhóm như vậy các pháp được trình bày theo mười tính chất: cần được tu tập, cần được biết toàn diện, cần được dứt bỏ, dự phần vào thoái hóa, dự phần vào thù thắng, khó được thấu triệt, cần được làm cho sanh khởi, cần được biết thấu đáo, cần được chứng ngộ. Như vậy, nhóm Một có mười chi pháp, nhóm Hai có hai mươi chi pháp, … nhóm mười có 100 chi pháp; tổng cộng bài Kinh có 550 chi pháp. Một số chi pháp ở bài Kinh này cũng được tìm thấy ở bài Kinh trước, ví dụ: ở phần Một Pháp là một pháp cần được biết thấu đáo: “Tất cả chúng sinh có sự
tồn tại nhờ vào yếu tố nuôi dưỡng,” ở phần Hai Pháp mười tám pháp là trùng lặp, ngoại trừ hai pháp khó được thấu triệt: “1. Cái nào là nhân và cái nào là duyên đưa đến ô nhiễm của các chúng sinh, 2. Cái nào là nhân và cái nào là duyên đưa đến sự thanh tịnh của các chúng sinh,” v.v… Và ngài Sāriputta đã nhấn mạnh rằng đây là Pháp đã được hoàn toàn giác ngộ một cách đúng đắn bởi đức Như Lai nhằm mục đích đưa đến việc đạt được Niết Bàn, đưa đến việc làm chấm dứt khổ đau, và cởi bỏ tất cả trói buộc.
Trong số mười một bài Kinh của Phẩm này, ba bài Kinh: Sampasādanīyasuttaṃ - Kinh Khởi Niềm Tịnh Tín (28), Saṅgītisuttaṃ - Kinh Hợp Tụng (33), Dasuttarasuttaṃ - Kinh Thập Thượng (34) là lời của ngài Sāriputta, và tám bài Kinh còn lại là do đức Phật thuyết.
*****
Văn bản Pāḷi được trình bày ở tập Kinh này đã được phiên âm lại từ
văn bản Pāḷi - Sinhala, ấn bản Buddha Jayanti Tripitaka Series của
nước quốc giáo Sri Lanka. Chúng tôi xin thành tâm tán dương công đức của Venerable Mettāvihārī đã hoan hỷ cho phép chúng tôi sử dụng văn bản đã được phiên âm sẵn đang phổ biến trên mạng internet. Tuy nhiên văn bản Pāḷi này chưa đạt được sự hoàn chỉnh theo như dự kiến và có rất nhiều sai sót. Điểm đóng góp của chúng tôi trong việc thực hiện văn bản Pāḷi Roman này là dò lại kỹ lưỡng văn bản đã được phiên âm và so sánh kiểm tra những điểm khác biệt về văn tự ở các văn bản Pāḷi mà chúng tôi đang có, cụ thể là văn bản của Thái Lan, Campuchia, Miến Điện, và Anh Quốc, rồi ghi ở phần cước chú, đồng thời bổ sung thêm một số điểm khác biệt đã phát hiện được trong lúc so sánh các văn bản với nhau.
Về phương diện dịch thuật, trải qua thời gian dài tính bằng thập niên, chúng tôi đã định hình và tuân thủ một số nguyên tắc sau:
- Phần dịch tiếng Việt được bám sát văn bản gốc theo tinh thần cố
gắng không bỏ sót chữ nào không dịch, và các chữ đệm thêm cho rõ nghĩa đều được để trong ngoặc đơn ().
- Cách hành văn ở bản dịch cũng được ghi theo cấu trúc của câu văn Pāḷi nhằm chuyển tải được khái niệm gần nhất với văn bản gốc. Điều này đã có nhiều độc giả chỉ trích là “văn phong mang đậm hơi hướng Pāḷi;” tuy nhiên, lại là điều được trân trọng bởi những độc giả có khuynh hướng hoài cổ (!).
- Hạn chế sử dụng những từ khó hiểu và những từ chỉ có “âm” nhưng không rõ ràng về khái niệm chuyển tải.
- Việc chọn nghĩa cho từ Pāḷi chủ yếu được căn cứ vào từ gốc, tiếp đầu
ngữ, tiếp vĩ ngữ, và quy luật hình thành từ ngữ của Pāḷi.
- Đầu tư nhiều thời gian hơn để tham khảo Aṭṭhakathā (Chú Giải) và Ṭīkā (Sớ Giải).
- Tranh thủ tham khảo cách giải quyết những cụm từ, những câu văn khó từ bản dịch của các xứ quốc giáo thông qua các vị xuất gia đã và đang tu học ở các quốc gia ấy, cũng như thu thập thêm nhiều phản hồi từ những người đọc có trình độ học vấn khác nhau.
- Lời văn tiếng Việt của chúng tôi có chứa đựng những mấu chốt giúp cho những ai có ý thích nghiên cứu Pāḷi thấy ra được cấu trúc của loại ngôn ngữ này, đồng thời tạo sự thuận tiện cho công việc hiệu đính trong tương lai.
- Về từ vựng, chúng tôi chủ trương chọn cho mỗi từ Pāḷi một nghĩa
Việt riêng biệt, cố gắng tránh trường hợp nhiều từ Pāḷi có chung một nghĩa Việt, hoặc một từ Pāḷi có nhiều nghĩa Việt. Việc làm này của chúng tôi chưa hẳn là hoàn hảo, dẫu sao cũng là bước khởi đầu nhằm thúc đẩy phong trào nghiên cứu cổ ngữ Phật Học của người Việt Nam. Tất nhiên, một số sai sót trong quá trình phiên dịch đương nhiên không thể tránh khỏi, chúng tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về trình độ có hạn.
Nhân đây, chúng tôi cũng xin chân thành ghi nhận sự quan tâm chăm sóc trực tiếp hoặc gián tiếp đối với công tác phiên dịch của chúng tôi về phương diện vật thực bồi dưỡng và thuốc men chữa bệnh của các vị hữu ân sau: Phật tử Phạm Thị Thu Hương, Gia đình Phật tử Giang & Cầm, Phật tử Yến Phan Spear, Gia đình Phật tử Lê thị Kim Anh, Nhóm Phật Tử Hộ Độ Tàng Kinh Các, cùng một số Phật tử khác nữa đã hỗ trợ và quan tâm đến sức khỏe của chúng tôi trong thời gian qua, tiếc rằng không thể liệt kê ra tất cả vì quá dài. Nói rõ hơn, công việc soạn thảo này được thông suốt, không bị gián đoạn, chính là nhờ có sự hỗ trợ nhiệt tình và quý báu của quý vị. Thành tâm cầu chúc quý vị luôn giữ vững niềm tin và thành tựu được nhiều kết quả trong công việc tu tập giải thoát.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng không quên ghi nhận sự nhiệt tình của Phật tử Trương Hồng Hạnh, đã sắp xếp thời gian để đọc lại toàn bộ bản thảo một cách kỹ lưỡng và đã đóng góp nhiều ý kiến xác đáng. Cũng không quên tán dương gia đình Phật tử Paññavara Tuệ Ân Vũ Đình Lâm đã nhiệt tình đảm nhiệm các công việc về in ấn và phân phối các tập Kinh đã được in xong.
Chúng tôi cũng xin thành tâm tùy hỷ và tán dương công đức của các thí chủ đã nhiệt tâm đóng góp tài chánh giúp cho Công Trình Ấn Tống Tam Tạng Song Ngữ Pāḷi - Việt được tồn tại và phát triển. Mong sao phước báu Pháp thí này luôn dẫn dắt quý vị vào con đường tu tập đúng theo Chánh Pháp, thành tựu Chánh Trí, chứng ngộ Niết Bàn, không còn luân hồi sanh tử nữa.
Cuối cùng, ngưỡng mong phước báu phát sanh trong công việc soạn thảo tập Kinh này được thành tựu đến thầy tổ, song thân, và tất cả chúng sinh trong tam giới. Nguyện cho hết thảy đều được an vui, sức khỏe, có trí tuệ, và tinh tấn tu tập ngõ hầu thành đạt cứu cánh giải thoát, chấm dứt khổ đau.
Tàng Kinh Các, Fayetteville, GA - USA
Mùa An cư PL 2568 - DL 2024
Ngày 07 tháng 10 năm 2024
Tỳ Khưu Indacanda
Kính bút
02/08/2024
MẠN ĐÀM VỀ LỄ VU LAN ĐỂ BIẾT TRẢ ƠN SÂU BẬC DƯỠNG DỤC SINH THÀNH CHO ĐÚNG CÁCH
Lễ hội rằm tháng Bảy là một ngày lễ quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Ðây được coi là ngày vu lan báo hiếu, đồng thời là ngày mãn mùa an cư kiết hạ (tự tứ) của chư Tăng hệ phái Phật giáo phát triển. Tuy nhiên với Phật giáo Nguyên thủy thì ngày này cũng chỉ là ngày lễ bình thường, vì lịch sử của ngày này không thấy ghi trong Chánh Tạng Tipiṭaka. Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo Bắc truyền trong hơn ngàn năm lịch sử, nên ý niệm về ngày rằm tháng Bảy đã hằn sâu vào trong tâm tư của đại chúng. Vì thế, cứ độ thu về, Phật giáo nguyên thủy cũng hòa chung với các hệ phái Phật giáo khác để tổ chức lễ rằm tháng Bảy nhưng theo nghi thức riêng của mình.
"Vu-lan" tiếng Pāḷi gọi là Ullambana là cái chậu cứu nạn treo ngược, Bồn là tiếng Hán, nghĩa là dụng cụ đựng thức ăn. "Vu-lan bồn" là pha tạp tiếng Hán lẫn tiếng Pāḷi, tức là dụng cụ cứu nạn treo ngược (theo quan niệm Bắc truyền thì hương linh tội đồ bị treo ngược ở cõi địa ngục). Giáo lý của Phật giáo Bắc truyền giải thích tiệc Vu-lan bồn là để thức ăn trong chậu đem cúng dường đến chư Tăng nhân ngày rằm tháng Bảy để chư Tăng nhân danh Tam Bảo cầu nguyện cho vong hồn khỏi bị đọa ở cảnh địa ngục. Còn về nguồn gốc của kinh Vu-lan là do vị sư tên Dharmaraksa đời Tây Tấn, thế kỷ thứ ba hoặc thứ tư dịch từ chữ Phạm sang chữ Hán, trong nội dung kinh này đề cập đến việc đức Phật khuyên đại chúng nên cầu siêu cho thân quyến đã quá vãng và cầu an cho thân bằng quyến thuộc còn hiện tiền nhân ngày rằm tháng Bảy. Kinh còn đề cập đến một chi tiết quan trọng nữa là khi ngài Mục-Kiền-Liên đắc đạo, ngài nhớ đến công ơn mẹ, dùng thần thông quan sát tìm mẹ, thấy mẹ do tạo trữ ác nghiệp nên đã sinh vào cõi địa ngục. Ngài thương tiếc, mang cơm xuống dâng mẹ nhưng người mẹ không ăn được. Khi về thế gian, Ngài đem chuyện này bạch đức Phật và được đức Phật dạy hãy chờ đến rằm tháng Bảy khi chư Tăng mãn hạ, Ngài Mục-Kiền-Liên làm phước hồi hướng cho mẹ thì người mẹ mới có thể nhận được phước báu để thoát khỏi cảnh khổ.
Tuy nhiên, có một điều khiến ta phải để tâm xem xét, đó là việc trong Chánh Tạng Tipiṭakapāḷi không thấy có phần kinh nào tương đương với quyển kinh Vu-lan bồn của Phật giáo phát triển. Không biết những nhà kết tập kinh điển Tipiṭaka có lược bỏ kinh văn nào hay không, hay kinh này là do Phật giáo sau này sáng tạo thêm vào? Có một điều khó hiểu theo quan điểm của Phật giáo nguyên thủy là tại sao đức Phật lại khuyên ngài Moggallāna muốn trả hiếu cho mẹ phải đợi đến rằm tháng Bảy? Chắc có lẽ là vào ngày này, khi chư Tăng Bắc truyền mãn mùa an cư nên Tăng chúng đông đảo và phước báu sẽ nhiều hơn. Nhờ oai lực đó thì cầu nguyện dễ siêu thoát. Thế nhưng, theo giới luật được quy định trong Chánh Tạng Tipiṭaka thì Tăng chúng Theravāda nhập hạ ngày rằm tháng Sáu và mãn hạ vào ngày rằm tháng Chín. Như thế, nếu đại chúng học theo giáo lý của Phật giáo nguyên thủy tin theo quyển kinh Vu-lan bồn thì họ phải điều chỉnh lại ngày Vu-lan báo hiếu đến ngày rằm tháng Chín chứ không phải rằm tháng Bảy.
Một vấn đề nữa cần xem xét vì đạo Phật là đạo dựa trên nền tảng lý nhân quả và nghiệp báo. Ðức Phật từng tuyên bố gieo giống nào gặt quả nấy. Ngài đã trầm lặng, không thể can cứu khi hay biết vua Suppabuddha (cha vợ) bị đất rút và dòng họ Thích-Ca (Sakya) bị tàn sát. Ngài có nhiều phép thần thông siêu xuất trong tam giới này nhưng Ngài vẫn phải để cho nghiệp lực chúng sinh trổ quả theo chu trình tự nhiên. Mặc dù biết trước việc tàn sát dòng họ Sakya và đã hơn hai lần đến thương lượng, cuối cùng thì Ngài cũng không giúp được gì hơn, bởi vì nghiệp dòng họ Sakya gieo trong kiếp quá khứ nay đến chu kỳ phải trả quả. Cho rằng ngài Moggallāna dù là một đại thánh tăng đã đắc quả Arahán, có nhiều thần thông mà vẫn không cứu mẹ được, phải nhờ đến chư Tăng cùng cầu nguyện mới cứu được, có thể sẽ dễ đưa đến một ngộ nhận cho rằng bây giờ chúng ta không cần phải tu tập tâm tính, cứ thoải mái tạo nghiệp bất thiện và dành dụm một số tiền lớn để lại cho thân nhân để nhờ họ sau khi ta qua đời, nhớ rước thầy đông đảo để cầu nguyện cho siêu thoát. Một quan niệm như thế có thể sẽ có những hậu quả tiêu cực, không có lợi chi trên con đường tu tập giải thoát.
Sau một thời gian tu tập nghiên cứu theo Kinh điển Pāḷi, xin chia sẻ 3 tích để quý vị có thể hiểu đúng về việc báo hiếu cha mẹ như sau:
1 - CHUYỆN NGÀI MAHĀMOGGALLĀNA
(Chuyện này kể về Ngài Mahāmoggallāna sinh ở tại Ấn Độ thời đức Phật không liên quan đến vị Mục-Kiền-Liên nào đó ở Trung quốc nhé)
Trong tiền kiếp, Ngài Mahāmoggallāna là người con trai duy nhất chí hiếu đối với cha mẹ bị mù đôi mắt. Hằng ngày, sáng sớm người con lo cơm nước cho cha mẹ ăn, giặt giũ quần áo,... xong mọi công việc trong nhà, rồi mới đi ra ngoài lo công việc đồng áng. Chiều về, người con lo tắm rửa cho cha mẹ,... Cha mẹ thấy con vất vả như vậy, nên muốn tìm cho con một người vợ để lo giúp đỡ công việc trong nhà, nhưng người con trai một mực từ chối. Cha mẹ cứ khuyên dạy như vậy nhiều lần, nếu không vâng lời cha mẹ, thì sợ cha mẹ sẽ buồn, cho nên bất đắc dĩ, người con phải chịu lấy vợ cho cha mẹ vui. Người vợ lo phục vụ cho cha mẹ chồng được một thời gian ngắn, sau đó, nàng bịa đặt chuyện nói xấu cha mẹ chồng.
Người vợ than vãn với người chồng rằng:
- Em chịu đựng không nổi với cha mẹ anh. Em không thể sống chung cùng với cha mẹ của anh được nữa....
Mặc dù người chồng khuyên can, năn nỉ vợ, nhưng người vợ vẫn khăng khăng cự tuyệt không chịu sống chung với cha mẹ của mình. Đế chiều theo ý vợ, người con thưa với cha mẹ rằng:
- Thưa cha mẹ, từ lâu rồi, cha mẹ chưa đi thăm người bà con ở xóm bên kia, xin cha mẹ lên ngồi trên chiếc xe bò, con sẽ đưa cha mẹ đến thăm người bà con ấy.
Hai ông bà mù tin lời của người con lên xe, người con đưa cha mẹ đến khu rừng, rồi thưa với cha mẹ rằng:
- Thưa cha mẹ, khoảng khu rừng này thường có nhiều bọn cướp đón đường cướp của giết người, xin cha mẹ ngồi trên xe để con xuống đi thăm dò đường.
Người con xuống xe, một lát sau quay trở lại giả làm bọn cướp đến đánh đập cha mẹ già mù đến chết, rồi bỏ xác ở trong rừng.
Người con phạm ác nghiệp vô gián giết cha, giết mẹ. Sau khi người con chết, ác nghiệp vô gián giết cha, giết mẹ ấy cho quả tái sinh trong cõi đại địa ngục Avīci chịu khổ bị thiêu đốt suốt nhiều đại kiếp trái đất trong địa ngục ấy.
Đến thời gian mãn quả của ác nghiệp vô gián ấy, do nhờ thiện nghiệp đã được tạo trong những kiếp quá khứ cho quả tái sinh trở lại làm người. Người ấy đã tạo mọi thiện nghiệp nhất là 10 pháp hạnh ba-la-mật, cho nên hậu kiếp của người con trai giết cha, giết mẹ trong kiếp quá khứ ấy, nay là tu sĩ ngoại đạo Kolita, sau đó xuất gia trở thành Tỳ-khưu trong giáo pháp của Đức Phật Gotama, có tên gọi theo dòng dõi là Ngài Moggallāna. Ngài thực hành thiền tuệ, chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán cùng với Tứ tuệ phân tích, đặc biệt chứng đắc Lục thông. Đức Phật tuyên dương: “Ngài Mahāmoggallāna là bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn của đức Phật xuất sắc nhất về thần thông trong hàng Thánh Thanh Văn đệ tử của đức Phật”.
Vào hạ cuối cùng, sau khi Ngài Sāriputta tịch diệt Niết Bàn, Đức Phật cùng chư Tỳ-khưu Tăng từ kinh thành Sāvatthi ngự đến kinh thành Rājagaha, ngự tại ngôi chùa Veluvana. Khi ấy, Ngài Mahāmoggallāna đang trú tại làng Kaḷasilā trong xứ Magadha, nhóm ngoại đạo thuê mướn nhóm cướp vây đánh Ngài, đã biết bao lần Ngài đều tránh được; lần cuối cùng Ngài quán xét thấy nghiệp ác cũ đến thời kỳ cho quả, do tiền kiếp của Ngài Đại đức Mahāmogallāna đã từng tạo bất thiện nghiệp đánh đập cha mẹ Ngài đến chết trong kiếp quá khứ. Nay bất thiện nghiệp ấy trở thành bất thiện nghiệp sát hại có phận sự cắt đứt ngũ uẩn và đồng thời ngũ uẩn Niết-Bàn, chấm dứt tử sinh luân hồi trong tam giới. Nên Ngài nhẫn nại chịu đựng để nhóm cướp đánh đập Ngài tan xương nát thịt. Chúng tưởng Ngài đã chết nên ném xác Ngài vào bụi cây rồi bỏ đi. Ngài vận dụng thần thông liên kết xương thịt lại, bay đến hầu đảnh lễ Đức Thế Tôn xin phép tịch diệt Niết Bàn. Ngài Mahāmoggallāna tịch diệt Niết Bàn vào ngày 30 tháng 10 (âm lịch), tại làng Kaḷasilā trong xứ Magadha .
Lễ hỏa táng xong, Đức Phật truyền dạy xây ngôi tháp tôn thờ Xá lợi Ngài Mahāmoggallāna tại kinh thành Rājagaha.
2 - TÍCH NGÀI SĀRIPUTTA CỨU THÂN MẪU TIỀN KIẾP BỊ ĐỌA THÀNH NGẠ QUỶ - SĀRIPUTTATTHERAMĀTUPETA
Tích về ngạ quỷ thân mẫu của Ngài Sāriputta được tóm lược như sau:
Nữ ngạ quỷ tiền thân đã từng là thân mẫu của Ngài Sāriputta kiếp thứ 5 trong quá khứ, kể từ kiếp hiện tại.
Tiền thân của nữ ngạ quỷ là vợ của ông Bà la môn giàu có nhiều của cải. Ông Bà-la-môn có đức tin trong sạch, có tác ý thiện tâm, thường làm phước thiện bố thí cúng dường vật thực, đồ uống, y phục... đến Sa-môn, Bà-la-môn. Bố thí ban bố, phân phát đến những người nghèo khổ, người qua đường....
Một hôm, ông Bà-la-môn có công việc phải đi nơi khác, ông dạy bảo vợ ở nhà thay ông gìn giữ phong tục tập quán, lo công việc làm phước thiện bố thí cúng dường đến Sa môn, Bà-la-môn, phân phát vật thực, đồ dùng đến những người nghèo khổ đói khát.... Người vợ ở nhà không làm theo sự dạy bảo của chồng. Hễ có ai đến nương nhờ, bà ta buông lời mắng nhiếc là đồ ăn phẩn, uống nước tiểu, liếm máu mủ, nước miếng....
Sau khi bà ta chết, do ác nghiệp ấy cho quả tái sanh vào hàng ngạ quỷ đói khát, ăn đồ dơ bẩn, ăn phẩn, uống nước tiểu, mủ, nước miếng... chịu bao nỗi khổ cực đói khát, lạnh lẽo do ác nghiệp của mình đã tạo. Nữ ngạ quỷ nhớ lại tiền kiếp đã từng là thân mẫu của ngài Sāriputta, muốn đến nương nhờ ngài, chư thiên giữ cổng ngăn cản không cho nữ ngạ quỷ vào. Nữ ngạ quỷ thưa với vị chư thiên rằng:
- Thưa chư thiên, tiền kiếp tôi đã từng là thân mẫu của ngài Sāriputta, xin chư thiên cho tôi vào thăm ngài.
Nữ ngạ quỷ được vào đứng khép nép, Ngài Sāriputta nhìn thấy nữ ngạ quỷ, với tâm bi mẫn bèn hỏi rằng:
- Này ngạ quỷ! Thân trần truồng, hình dáng đáng thương hại, ốm yếu da bọc xương, thân mình run rẩy. Ngươi là ai mà đến đứng nơi này?
Nghe Ngài hỏi, nữ ngạ quỷ thưa rằng:
- Kính bạch ngài, tiền kiếp của con đã từng là thân mẫu của Ngài, do nghiệp ác cho quả tái sanh làm ngạ quỷ chịu cảnh đói khát, đành phải ăn những đồ dơ dáy như nước miếng, nước mũi, đàm người ta nhổ bỏ, uống nước vàng chảy từ xác chết, uống máu của đàn bà đẻ, uống máu mủ của đàn ông bị chặt tay chân, ăn máu mủ các loài động vật, sống không có nương tựa, các nơi nghĩa địa, bãi tha ma.
Kính bạch ngài, xin ngài làm phước thiện bố thí, rồi hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho mẹ với. Nhờ phước thiện ấy, may ra mẹ mới thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ như thế này.'
Ngài Sāriputta lắng nghe lời nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu trong tiền kiếp, phát sinh tâm bi mẫn, nên tìm cách cứu khổ nữ ngạ quỷ, Ngài bàn tính với ngài Mahāmoggallāna, ngài Anuruddha và ngài Mahākappina.
Ngài Mahāmoggallāna đi khất thực vào cung điện gặp đức vua Bimbisāra, đức vua thỉnh mời yêu cầu ngài cần thứ vật dụng nào để đức vua dâng cúng. Nhân dịp ấy, Ngài Mahāmoggallāna thưa cho đức vua biết chuyện nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu của ngài Sāriputta sống trong cảnh khổ không có nơi nương nhờ.
Nghe vậy, đức vua truyền lệnh xây cất 4 cái cốc, chỗ ở của chư Tỳ-khưu Tăng. Khi xây cất xong, đức vua làm lễ dâng đặc biệt đến ngài Sāriputta 4 cái cốc ấy.
Một lần nữa, ngài Sāriputta làm lễ dâng những cốc này đến chư Tỳ-khưu Tăng từ bốn phương, có đức Phật chủ trì, xin hồi hướng phần phước thiện này đến cho nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu trong tiền kiếp. Nữ ngạ quỷ hoan hỉ phần phước thiện bố thí mà ngài Sāriputta hồi hướng. Ngay sau khi hoan hỉ phần phước thiện bố thí ấy, liền thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, tái sinh lên làm thiên nữ có hào quang sáng ngời, có thân hình xinh đẹp, y phục lộng lẫy, có lâu đài nguy nga tráng lệ, có đầy đủ của cải của chư thiên, hưởng sự an lạc cao quý trong cõi trời.
Hôm sau, vị thiên nữ ấy hiện xuống đảnh lễ ngài Moggallāna, ngài hỏi thiên nữ rằng:
- Này thiên nữ, ngươi có sắc đẹp tuyệt trần, có hào quang sáng chói khắp mọi nơi, như vầng trăng sáng.
- Do phước thiện gì mà ngươi có được như vậy?
- Do phước thiện gì mà ngươi được sanh trong lâu đài nguy nga tráng lệ như thế ấy?
- Do phước thiện gì mà ngươi có đầy đủ mọi thứ trong cõi trời đáng hài lòng như vậy?
Này thiên nữ, ngươi có nhiều oai lực đặc biệt, vậy, khi sống cõi người, ngươi tạo phước thiện gì, mà nay có được những quả báu đáng hài lòng như vậy?
Vị thiên nữ bạch với ngài Moggallāna rằng:
- Kính bạch ngài Mahāmoggallāna, con là thân mẫu của ngài Sāriputta trong tiền kiếp, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm nữ ngạ quỷ chịu cảnh khổ đói khát đành phải ăn đồ dơ dáy như máu, mủ.... Vừa qua, con đã đến đảnh lễ ngài Sāriputta cầu xin ngài có lòng bi mẫn cứu khổ con, ngài đã làm phước thiện bố thí xong hồi hướng đến cho con; con đã hoan hỉ phần phước thiện ấy, nên con thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, được tái sanh làm thiên nữ có được tất cả như Ngài đã thấy.
Kính bạch Ngài, con hiện xuống đây để đảnh lễ tri ân ngài và ngài Sāriputta là bậc Thánh thiện trí, có tâm bi mẫn cứu khổ chúng sinh trong đời.
(Nguồn: Khuddakanikāya, Petavatthu, truyện Sāriputtattheramātupeta)
CÁCH BÁO HIẾU THÂN MẪU CỦA BẬC THÁNH TỐI THƯỢNG THANH VĂN - NGÀI SĀRIPUTTA
Đức Phật dạy rằng: “Này chư Tăng! Có hai người mà ta không thể nào đền ơn cho hết được, đó là Cha và Mẹ. Nếu có kẻ vai trái cõng cha, vai phải cõng mẹ, đi xa ngàn dặm, cung phụng đủ mọi thức ăn, đồ mặc, chăn nệm và thuốc thang, thậm chí cha mẹ có tiểu tiện, đại tiện trên vai đi nữa, cũng chưa trả được ân sâu cha mẹ. Ta phải biết rằng ân cha mẹ nặng lắm, bồng bế nuôi nấng, dưỡng dục đúng lúc, làm cho ta trưởng thành. Vì thế, mà biết ân đó khó trả. Do vậy, người con hiếu thảo muốn báo đáp công ơn cha mẹ đúng chánh pháp cần phải thực hành những việc sau đây:
- Nếu cha mẹ chưa có niềm tin, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm tin tưởng và kính ngưỡng Tam Bảo.
- Nếu cha mẹ xan tham, phải khuyết khích cha mẹ phát tâm bố thí.
- Nếu cha mẹ theo điều ác, phải khuyết khích cha mẹ hướng về đường thiện.
- Nếu cha mẹ theo tà kiến, phải khuyết khích cha mẹ trở về với chánh kiến.
Làm được như vậy là trả ơn cha mẹ đúng với chánh pháp, khiến cha mẹ không những được an vui trong hiện tại, mà còn gieo phước lành trong tương lai”.
Xin được nhắc lại câu chuyện ngài Sāriputta báo hiếu thân mẫu mình như sau:
Một ngày nọ, ngài Sāriputta quán xét rằng:
Chư Phật với bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn, vị nào sẽ tịch diệt Niết-Bàn trước? Ngài biết rõ rằng: Bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn tịch diệt Niết-Bàn trước đức Phật. Ngài quán xét về tuổi thọ của Ngài, biết rõ tuổi thọ của Ngài chỉ còn 7 ngày nữa.
Đại đức Sāriputta liền đến để đảnh lễ đức Thế Tôn lần cuối cùng, xin phép tịch diệt Niết-Bàn.
Đức Phật bèn hỏi Đại đức Sāriputta rằng:
- Này Sāriputta, con sẽ tịch diệt Niết-Bàn tại nơi nào?
Ngài Đại đức Sāriputta bạch với Đức Thế Tôn:
- Kính bạch Đức Thế Tôn, con sẽ tịch diệt Niết Bàn tại ngôi làng Nālākagāma xứ Magadha nơi con đã sinh trưởng, đồng thời để tế độ cho thân mẫu của con. Tuy bà có bảy người con thành bậc Thánh Arahán, song bà vẫn chưa có đức tin nơi Tam Bảo.
Ngài Đại đức Sāriputta cùng 500 đệ tử đảnh lễ Đức Thế Tôn, xin phép từ giã Đức Phật. Ngài trở về lại ngôi nhà, ở tại căn phòng xưa của mình. Trong đêm cuối cùng của cuộc đời, Ngài phát bệnh kiết lỵ đi ngoài, phân lẫn nhiều máu, bệnh tình rất trầm trọng. Khi ấy, bà thân mẫu của Ngài đứng nhìn qua căn phòng của Ngài, thấy lần lượt các vị Tứ Đại Thiên Vương có hào quang sáng ngời đến chiêm bái đảnh lễ Ngài lần cuối cùng, rồi lui ra. Tiếp đến, Đức vua trời Sakka từ cõi Tam Thập Tam Thiên đến chiêm bái đảnh lễ Ngài, rồi lui ra. Tuần tự các Đức vua ở cõi Dạ Ma Thiên, Đức vua cõi Đẩu Suất Đà Thiên, Đức vua cõi Hóa Lạc Thiên, Đức vua cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên trong các cõi trời dục giới và tiếp đến chư Đại Phạm Thiên cõi trời sắc giới cũng đều đến chiêm bái đảnh lễ Ngài lần cuối cùng.
Bà thân mẫu của Ngài nhìn thấy chư thiên, Đại Phạm Thiên có hào quang sáng ngời, vị sau hơn vị trước, bà muốn biết những vị chư thiên ấy là vị nào, mà có lòng tôn kính con của bà đến như thế! Nên bà đến phòng của Ngài, hỏi Đại đức Cunda (con trai của bà) rằng:
- Này Cunda, các vị chư thiên nào mà có lòng tôn kính đến chiêm bái đảnh lễ sư huynh của con như vậy?
Đại đức Cunda thưa rằng:
- Thưa thân mẫu, bốn vị chiêm bái, đảnh lễ đầu tiên đó là Tứ Đại Thiên Vương.
Bà nghĩ thầm: “Tứ Đại Thiên Vương có lòng tôn kính chiêm bái, đảnh lễ con ta; con ta cao thượng như vậy sao! Nếu vậy, thì Đức Phật là Bậc Thầy của con ta chắc chắn Ngài còn cao thượng hơn nhiều”. Và bà hỏi tiếp:
- Này Cunda, còn các vị chư thiên khác là vị nào vậy?
Đại đức Cunda thưa tiếp:
- Thưa thân mẫu, kế đến là Đức vua trời Sakka từ cõi trời Tam Thập Tam Thiên, Đức vua trời Sujāma cõi trời Dạ Ma Thiên, Đức vua trời Santussita cõi trời Đẩu Suất Đà Thiên, Đức vua trời Sunimmita cõi trời Hóa Lạc Thiên, Đức vua trời Paranimmita từ cõi trời Tha Hóa Tự Tại Thiên, và tiếp đến Chư Đại Phạm Thiên từ các tầng trời sắc giới...
Nghe vậy bà thầm nghĩ rằng: “Đại Phạm Thiên mà ta tôn kính, chư Đại Phạm Thiên ấy lại có lòng tôn kính, chiêm bái đảnh lễ con của ta, con ta cao thượng đến như vậy sao! Nếu vậy, Đức Phật là Bậc Thầy của con ta, chắc chắn Ngài còn cao thượng biết dường nào!”
Nghĩ vậy, bà phát sinh tâm hỷ lạc chưa từng có, bà ân cần thăm hỏi bệnh tình của Ngài Sāriputta và bày tỏ ý nghĩ của mình. Ngài Đại đức Sāriputta biết đúng lúc hợp thời, nên Ngài thuyết giảng về Ân đức Phật để tế độ thân mẫu của Ngài. Sau khi lắng nghe pháp xong, bà liền chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo - Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu có đức tin trong sạch vững chắc nơi Tam Bảo.
Ngài Đại đức Sāriputta suy tư rằng: “Nay ta đã đền đáp công ơn sinh thành dưỡng dục của thân mẫu”. Khi ấy, sắp rạng đông, Ngài Đại đức Sāriputta bảo Đại đức Cunda, cho truyền gọi chư Tỳ khưu đến tụ hội đông đủ, rồi đỡ Ngài ngồi dậy và Ngài dạy rằng:
- Này chư hiền giả, quý vị đã theo tôi suốt 44 năm, nếu tôi có làm điều gì, có nói lời nào làm phật lòng quý vị; nay xin quý vị hiền giả hãy bỏ lỗi cho tôi.
Chư Tỳ khưu bạch rằng:
- Kính bạch Đại đức, Ngài là vị Thầy khả kính, khả ái của chúng con; chúng con không chấp một điều gì cả; và chúng con đã theo Ngài như bóng theo hình, suốt 44 năm qua, nếu chúng con có làm điều gì, có nói lời nào làm phật lòng Ngài; thì nay kính xin Ngài từ bi tha thứ cho chúng con. Bạch Ngài.
Sau buổi lễ chân thành sám hối lẫn nhau, vào ngày rằm tháng 10 (âm lịch) Ngài Đại đức Sāriputta tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt mọi cảnh khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài, ngay khi ấy đồng thời trái đất cũng tự nhiên rùng mình chuyển động. Sau khi lễ hỏa táng thi thể Ngài Đại đức Sāriputta xong, Đại đức Cunda thỉnh Xá lợi của Ngài Sāriputta đến dâng Đức Thế Tôn tại ngôi chùa Jetavana, Đức Thế Tôn truyền dạy xây ngôi tháp tôn thờ Xá lợi Ngài Sāriputta tại kinh thành Sāvatthi.
Trong bài kinh Brahmasutta, Đức Thế Tôn có dạy rằng, cha mẹ là hai đấng có công ơn vô lượng vô biên đối với con. Nếu người con nào có hiếu thu phục năm châu bốn biển để cho cha mẹ cai trị, hưởng sự an lạc như thế, là cùng tột rồi, nhưng cũng chưa gọi là đáp đền được công ơn sinh dưỡng. Chỉ người ấy chỉ lo phần vật chất của cha mẹ thôi, hay có thể nói theo Phật giáo, chỉ lo cho cha mẹ kiếp hiện tại thôi. Phàm người con có hiếu phải cố gắng làm sao cho cha mẹ biết tu tập để giải thoát, hay làm sao cho cha mẹ biết thực hành bốn pháp:
1. Saddhā: đức tin, nghĩa là tin Tam Bảo, tin nơi nghiệp.
2. Cāga: bố thí hay dứt bỏ, tức là dứt bỏ lòng tham lam, biết bố thí cúng dường (đó chính là lộ phí cho mình trong ngày vị lai).
3. Sīla: trì giới, là giữ cho thân, khẩu, được an tịnh, không phạm vào năm điều tội ác.
4. Pañña: trí tuệ, nghĩa là trí tuệ để quan sát thấy thân này vô thường, khổ não và vô ngã, nghĩa là có minh sát tuệ để quán tưởng thấy chán ngán thân này, không còn quyến luyến và chấp ngã vào mọi việc đời.
Nếu cha mẹ đã quá vãng thì bổn phận làm con nên cố gắng làm mọi việc phước thiện, rồi hồi hướng đến cha mẹ hàng ngày. Người con nào làm được như thế mới gọi là con có hiếu và đáp đền được công ơn sinh dưỡng của cha mẹ.
Người nào có phước mới còn cha mẹ tại tiền. Người còn có cha mẹ tại tiền trong nhà, cũng như có chư thánh nhân trong nhà vậy. Theo Đức Thế Tôn, cha mẹ có thể sánh với chư thánh nhân, bởi vậy cúng dường đến cha mẹ có phước vô lựợng vô biên, cũng như cúng dường cho các bậc Arahán vậy.
Phàm người biết công ơn cha mẹ thì phải lo cách đáp đền bằng vật chất và bằng tinh thần.
*Đền đáp công ơn bằng vật chất phải thực hành như thế này là:
1. Phải hết lòng cung kính cha mẹ, không bao giờ dám nói một lời nào vô lễ, làm trái ý.
2. Phải lo phụng dưỡng cha mẹ, cung cấp vật thực, thuốc uống, y phục và chỗ ở. Phải quạt nồng đắp lạnh, sớm thăm tối viếng cha mẹ, cũng như khi ta còn nhỏ cha mẹ lo cho ta.
3. Phải lo chăm nom săn sóc cha mẹ khi có bệnh.
4. Phải bỏ việc gia đình của mình để làm việc cho cha mẹ trước, và không bao giờ nghĩ đến việc riêng của mình khi chưa làm xong công việc của cha mẹ.
*Đền đáp công ơn cha mẹ về tinh thần là:
1. Gắng hết sức giữ gìn thanh danh của gia đình, không để cho người đời khinh bỉ, hơn nữa gắng làm sao thanh danh của gia đình càng ngày càng được người ca tụng.
2. Gắng làm cho mình ra người đáng thọ hưởng gia tài của cha mẹ để lại.
3. Khi cha mẹ ta không có đức tin với Tam Bảo, không thọ tam qui ngũ giới, tự mình cố gắng khuyên; nếu không được, thì gắng nhờ các bậc trí thức giảng giải hộ mình hoặc chư Tăng hay các bậc đại đức thuyết pháp độ cha mẹ.
4. Ít lắm ta cũng phải làm sao thuyết phục được cha mẹ thọ tam qui ngũ giới.
5. Dẫn dắt cha mẹ vào chùa nghe pháp, bố thí và học minh sát tuệ. Người làm tròn được những đều trên đây mới gọi là con biết yêu thương cha mẹ và báo đền được ân đức cao dày của cha mẹ.
Phần người con biết đền đáp công ơn cha mẹ, thì được những sự hạnh phúc là:
1. Không bị mất sự lợi ích.
2. Sẽ được thoát khỏi những điều kinh sợ.
3. Sẽ thoát khỏi được tất cả tai nạn.
4. Sẽ được lợi lộc do các bậc trí thức hay vua chúa ban cho.
5. Sẽ được quyền cao chức lớn do vua phong.
6. Hằng được sự ngợi khen của hàng đại chúng ở mọi nơi và mọi trường hợp.
7. Sẽ thoát khỏi sự ám hại của kẻ bất lương.
8. Khi có bị tai nạn cũng có chư thiên đến cứu.
9. Sau khi chết được sinh về cõi trời.
10. Sẽ được sinh về cõi Niết Bàn.
11. Đi theo con đường của chư Bồ tát và chư thánh nhân.
Xin đừng ai thấy bất bình, bi phẫn khi biết sự thật trong kinh tạng gốc của đạo Phật lưu lại về tiền kiếp Ngài Moggallāna giết cha mẹ nên đến kiếp chót, dù Ngài là Bậc Thánh Arahán nhưng vẫn phải chịu trả ác nghiệp còn dư sót trước khi tịch diệt Niết Bàn. Còn trong tiền kiếp, thân mẫu của Ngài Sāriputta mới là tạo ác nghiệp, để kiếp gặp được Ngài Sāriputta trong hình dạng ngạ quỷ điêu linh rồi được hưởng phước báu do người con tiền kiếp - giờ này là Bậc Tối Thượng Thanh Văn khởi tâm bi mẫn báo hiếu phụ mẫu, để được kết quả sinh thiên hưởng an vui lâu dài.
Về mặt sử liệu và kinh điển của các hệ phái Phật giáo khác biệt nhau như thế. Nhưng về mặt hướng thiện, đạo đức của quần chúng Phật tử thì việc tổ chức ngày rằm tháng bảy rất hữu ích. Việc này giúp cho người tại gia lẫn xuất gia có một ngày trọn vẹn để tưởng nhớ đến hai đấng sanh thành dưỡng dục, giúp họ có ý thức vững chắc để hành thiện, bố thí, đền đáp công ơn trời biển của cha và mẹ.
Hòa nhịp trong sinh hoạt chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đến rằm tháng bảy, các chùa PG Theravāda cũng tổ chức lễ đặt bát hội chư Tăng. Nghi lễ thường là người Phật tử sắm thực phẩm và tứ sự như cơm, nước, trái cây ... để đợi đến giờ chư Tăng xếp hàng đi chậm rãi trong chánh niệm, theo thứ tự hạ lạp, Phật tử thành kính để thức ăn vào trong bình bát của chư Tăng. Chư Tăng hoan hỷ thọ nhận và đọc kinh phúc chúc để Phật tử thành tâm chú nguyện chia đều phần phước này thấu đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, rồi sau đó Phật tử cùng đọc kinh hồi hướng. Chương trình lễ thường có buổi thuyết giảng của chư Tăng để người Phật tử hôm đó được dịp ôn lại trọn vẹn hình ảnh công ơn bao la của cha mẹ, để thấy rằng bổn phận làm con là phải đáp đền công ơn cao cả này.
Thêm vào đó, Phật tử cũng cần hiểu rằng việc trả hiếu phải thực hiện trong bất cứ ngày, tháng, năm nào chứ không phải đợi đến rằm tháng bảy. Ví như người thân chúng ta thiếu nước thì chúng ta phải cung cấp cho họ ngay. Trong kinh Tăng chi bộ, Đức Phật dạy người con chí hiếu phải phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sinh tiền những nhu cầu vật chất, không làm cha mẹ phiền lòng, thậm chí nếu cha mẹ không hiểu đạo thì người con phải cố gắng an trú cha mẹ vào trong chánh pháp, khi cha mẹ qua đời mới hồi hướng phước cho cha mẹ. Chứ không phải lúc cha mẹ còn sống thì người con ăn nói thô lỗ, bất hiếu, đến khi cha mẹ qua đời thì lại khóc lóc, cầu trời vái Phật, hoặc đi nhiều chùa để cầu siêu cho cha mẹ, vì rằng làm như thế cũng sẽ không có kết quả gì nhiều.
Tóm lại, tổ chức lễ ngày rằm tháng bảy hằng năm là để nhắc nhở những người con nam nữ phải nhớ đến công ơn vô bờ bến của cha mẹ. Nếu cha mẹ còn sinh tiền thì người con nên mua món quà nào đó để kính dâng lên cha mẹ để nhớ đến ơn nghĩa sinh thành, để tự nhắc nhở đến sự hiện hữu vi diệu của một niềm hạnh phúc rất đáng giá, ghi khắc trong tâm và tự hứa với đất trời không thể quên lãng người cha yêu dấu, người mẹ hiền thân thương. Nếu như người đã ngàn thu vĩnh biệt thì người con phải làm phước, bố thí, trì giới, tham thiền và hồi hướng phước báu cho cha mẹ. Trên nền tảng căn bản đó, người Phật tử luôn ghi nhớ trong tâm: hiếu hạnh là truyền thống của chư Phật. Vì thế bổn phận làm con phải nhớ đến ơn nghĩa sinh thành và phải đáp đền ân cao nghĩa dày đó. Không phải đợi đến ngày rằm tháng bảy mới nhớ đến công ơn của cha mẹ mà phải suốt đời, suốt năm, suốt tháng, chúng ta đáp đền công ơn hiếu dưỡng của hai đấng sinh thành.
LỜI HỒI HƯỚNG
Tất cả chúng sinh trong ba giới bốn loài, chỉ có loài người trong cõi Nam thiện bộ châu này có được thuận lợi tạo mọi phước thiện, nhất là phước thiện bố thí. Ngoài ra, các chúng sinh còn lại và các cõi khác, khó có cơ hội tạo phước thiện bố thí. Chư thiên muốn tạo phước thiện bố thí cần phải hiện xuống cõi người, biến hóa thành con người mới có thể tạo phước thiện bố thí.
Như vậy, chúng ta đã là con người trong cõi Nam thiện bộ châu này, có điều kiện và cơ hội tạo nên được phước thiện bố thí, thì chúng ta nên có tâm từ, tâm bi quan tâm đến những chúng sinh khác, họ không phải ai xa lạ, họ chính là những người thân bằng quyến thuộc của chúng ta từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ và kiếp hiện tại.
Ðức Phật dạy: "Không thấy một chúng sinh nào không từng là thầy, tổ, ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, em, chú, bác, cô, dì, bà con thân bằng quyến thuộc... của chúng ta".
Như vậy, tất cả chúng sinh đều là những người thân quyến của chúng ta gần kiếp này, hoặc xa trong những kiếp quá khứ. Nay chúng ta có điều kiện, có cơ hội tạo nên phước thiện bố thí, thì ta nên hồi hướng, ban bố, phân phát... phần phước thiện bố thí này đến cho tất cả chúng sinh, thân bằng quyến thuộc của chúng ta. Có số chúng sinh đang sống trong cảnh khổ, đang khao khát, trông ngóng, chờ đợi phần phước thiện của thân quyến hồi hướng, nếu họ hay biết mà hoan hỉ phần phước thiện ấy, ngay tức khắc, họ thoát khỏi cảnh khổ, được tái sanh lên cõi thiện giới, hưởng mọi sự an lạc trong cõi ấy.
Muốn vậy, chúng ta cần phải thành tâm hồi hướng và có lời hồi hướng như sau:
Ðọc câu Pāḷi: "Idaṃ no ñātīnaṃ hotu, Sukhitā hontu ñātayo..."
(đọc âm bồi: í đăng/nô/nhã tí năng ho tụ/sú khí ta/hon tụ/nhã tá yô)
Hoặc bằng tiếng Việt:
Con xin thành tâm hồi hướng tất cả những phần phước thiện đã từng tạo trữ từ vô lượng kiếp trong quá khứ cho đến kiếp hiện tại này, nhất là phước thiện cung kính lễ bái Tam Bảo, bố thí, trì giới và tham thiền, phước thiện tụng kinh, nghe kinh, cúng dường Pháp Bảo, hộ độ chư đại đức Tăng cũng như phụng dưỡng cha mẹ, tiếp độ vợ chồng con cái và cá phước thiện ngoài đời khác... Nay con xin thành tâm hồi hướng những phần phước thiện thanh cao đó đến tất cả chư thiên trên khắp các cõi trời, nhất là chư thiên hộ trì Phật giáo, chư thiên hộ trì bản mệnh mỗi người chúng con, chư thiên hộ trì đường phố, chư thiên hộ trì nhà cửa, chư thiên hộ trì thành phố, chư thiên hộ trì quốc độ này, chư thiên hộ trì toàn thế giới, chư thiên ở cội cây, chư thiên ở trên mặt đất, chư thiên ở dưới nước, chư thiên ở trên hư không;
- Chư Tứ Ðại Thiên Vương gồm: đức vua Dhataraṭṭha, đức vua Viruḷhaka, đức vua Virūpakkha, đức vua Kuvera cùng tất cả chư thiên trong cõi Tứ đại thiên vương thiên.
- Ðức vua trời Sakka cùng tất cả chư thiên trong cõi Tam thập tam thiên.
- Ðức vua trời Suyāma cùng tất cả chư thiên trong cõi Dạ ma thiên.
- Ðức vua trời Santussita cùng tất cả chư thiên trong cõi Ðâu xuất đà thiên.
- Ðức vua trời Sunimmita cùng tất cả chư thiên trong cõi Hoá lạc thiên.
- Ðức vua trời Paranimmita cùng tất cả chư thiên trong cõi Tha hóa tự tại thiên. v.v....
Ngưỡng mong quý vị chư thiên tùy hỷ phần phước thiện thanh cao này của con đồng nhau cả thảy, làm cho tăng thêm sự an lạc lâu dài.
Và ngưỡng mong các Ngài mách bảo cho các bậc ân nhân đã quá vãng của chúng con từ vô lượng kiếp trong quá khứ kiếp cho đến hiện tại này, nhất là cửu huyền thất tổ, ông bà, cha mẹ nội ngoại hai bên, cả những vong linh hữu danh vô vị, hoặc là hữu vị vô danh, những vị đang bị đọa trong hàng ngạ quỷ, nhất là hương linh của (ai mà ta muốn hồi hướng). Cầu mong cho các vị đó hay biết và đến đây hoan hỉ tùy hỷ phước thiện thanh cao này của con rồi được giải thoát khỏi mọi cảnh khổ, được tăng trưởng phước thiện, được sinh về cảnh giới an lành.
Và cầu xin các Ngài chia phần phước thiện thanh cao này của con tới cho các bậc ân nhân còn hiện tiền của con, nhất là thầy tổ, ông bà, cha mẹ nội ngoại hai bên, anh chị em, con cháu, bà con thân bằng quyến thuộc, bè bạn của con... Nhất là chư Tôn đức đang tu tập theo chánh Pháp của Đấng Đạo Sư. Xin cho các vị ấy sau khi nhận được phần phước thiện này rồi thân tâm thường an lạc, tiến hóa trong mọi thiện pháp, gặp được nhiều thiện duyên trong cuộc sống cũng như trong tu tập giải thoát khổ, để tránh được những điều rủi ro tai hại, cho được thành tựu những hạnh phúc ở cõi người, hạnh phúc ở cõi trời và hạnh phúc cao thượng Niết Bàn. Khiến cho tất cả sự khổ não, kinh sợ và bệnh tật thảy đều tiêu tan.
Chúng con thành tâm hồi hướng phần phước thiện thanh cao này đến chúng sinh trong địa ngục, các hàng atula, các hàng ngạ quỷ, các loại súc sinh, đặc biệt đến chúa địa ngục Yāma và các chúng sinh đang bị đọa ở địa ngục. Mong quý vị hoan hỉ thọ hưởng phần phước thiện thanh cao này của con đồng đều nhau cả thảy, cầu mong quý vị thoát khỏi cảnh khổ, được tái sinh nơi cõi thiện giới cho được an lạc.
Con xin thành tâm hồi hướng đến tất cả 4 loài chúng sinh luân hồi trong 31 cõi. Cầu mong tất cả chúng sinh hoan hỉ thọ hưởng phần phước báu thanh cao này của con đồng nhau cả thảy, cầu mong tất cả chúng sinh giải thoát mọi cảnh khổ, được an lạc lâu dài, tiến hóa trong mọi thiện pháp làm duyên lành trên con đường giải thoát khỏi khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.
Xin quý vị hoan hỉ phước thiện này đồng đều nhau cả thảy và xin quý vị đồng thanh nói lên lời hoan hỉ:
Nguyện cho Phật giáo được trường tồn!
Nguyện cho tất cả chúng sinh đều tôn kính Pháp.
Nguyện cho người người được an vui.
Nguyện cho nơi nơi mưa thuận gió hòa.
Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay!
Tuệ Ân mùa An cư kiết hạ PL 2568
Address
Hanoi
Telephone
Website
Alerts
Be the first to know and let us send you an email when Nhang Thảo Dược Vimutti posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.
Contact The Place Of Worship
Send a message to Nhang Thảo Dược Vimutti: