Thanh Âm Phật Pháp Nhiệm Màu

Thanh Âm Phật Pháp Nhiệm Màu Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thanh Âm Phật Pháp Nhiệm Màu, Religious Center, Hanoi.

Quan Niệm Thời Gian Theo Kinh Pháp HoaHT Thích Trí QuảngTuy sắc thân Phật vắng bóng trên cuộc đời, nhưng Pháp thân Ngài ...
16/02/2023

Quan Niệm Thời Gian Theo Kinh Pháp Hoa
HT Thích Trí Quảng
Tuy sắc thân Phật vắng bóng trên cuộc đời, nhưng Pháp thân Ngài vẫn thường trụ hằng hữu. Thật vậy, những lời dạy cao quý và cuộc sống phạm hạnh thanh tịnh của Ngài, uy đức của Ngài vẫn còn là kim chỉ nam soi đường dẫn bước cho hàng đệ tử trên khắp năm châu. Đối với Pháp thân Phật vĩnh hằng bất tử ở thế giới Thường Tịch Quang mãi mãi là điểm nương tựa an bình cho nhân loại trải qua hơn 2.600 năm, thì thời gian trở thành vô nghĩa. Và bước theo dấu chân Phật, những hành giả Pháp Hoa luôn sống tỉnh giác trong từng phút giây hiện tại dưới sự soi sáng của Phật huệ để nuôi lớn Báo thân và Pháp thân của chính mình, góp phần làm vững mạnh thêm cho sự trường tồn của mạng mạch Phật pháp trên cõi nhân gian này.

Thời gian là tác nhân chi phối sự hình thành và sự tiến hóa của vạn vật trong vũ trụ. Khái niệm này hầu như được các học thuyết xưa nay công nhận.

nguyetsangiacngo-188-bia2Khi Đức Phật thành đạo ở Bồ Đề Đạo Tràng, với tuệ giác, Ngài thấu suốt tận cội nguồn sự tồn tại và sự biến dịch của vạn pháp trong vũ trụ, nhưng hầu như Đức Phật ít đề cập đến sự khởi đầu của sự sống trên trái đất này, hay những vấn đề liên quan đến thời gian. Ngài thường đưa ra ví dụ người bị trúng mũi tên độc thì phải cần thiết và cấp bách cứu sống họ hơn là lo tìm hiểu những việc cao siêu khác.

Trong Phật giáo Nguyên thủy cũng như trong các kinh điển Đại thừa đều khẳng định rằng, khái niệm về thời gian chỉ hiện hữu đối với tâm thức của phàm nhân còn bị chi phối bởi vọng kiến, phân biệt. Và tiến xa hơn nữa, các bộ kinh lớn của Phật giáo Đại thừa như kinh Hoa Nghiêm, hay kinh Đại Bát Nhã đã nói lên sự dung thông của ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai, vì có chung một đặc tính là vô tướng. Vì vậy, với tri thức rất hạn hẹp của con người, lại thêm bị vô minh vọng kiến ngăn che, thì hàng phàm phu không thể nào biết được sự khởi đầu cho đến sự kết thúc của dòng thời gian, một sự biến dịch kéo dài từ vô thỉ đến vô chung, mà chỉ có bậc Đại trí Thế Tôn mới thấu tỏ được.

Ngoài ra, tùy theo chánh báo của mỗi loài chúng sinh mà thời gian thay đổi khác nhau, thí dụ như một kiếp ở thế giới Ta bà của Đức Phật Thích Ca bằng một ngày một đêm ở thế giới Cực lạc của Đức Phật Di Đà, một kiếp ở thế giới Cực lạc bằng một ngày một đêm ở thế giới Ca Sa Tràng của Đức Phật Kim Cang Kiên. Trong kinh cũng nói rõ, chư Phật hằng hữu trong những cảnh giới, không bị sự chi phối bởi thời gian và không gian, vì nơi đó thời gian là vô tận và không gian là vô cùng.

Ngài Long Thọ trong Trung Luận đã khẳng định rằng thời gian không thực có và là vô tướng. Luận sư Vô Trước trong A Tỳ Đạt Ma Tập luận lý giải rằng: “Thời gian là tên gọi chỉ cho sự tiếp nối tương tục của nhân và quả”.

Riêng trong kinh Pháp Hoa, thời gian đã được diễn tả một cách sâu sắc trong các phẩm của kinh. Thật vậy, ngay trong phẩm Phương tiện thứ hai, Đức Phật đã khẳng định về pháp khó hiểu ít có là thập như thị, qua đó, nhân quả được kiến giải rất tinh tế giúp chúng ta có thể nhận chân rằng khái niệm thời gian là sự tương tục nối tiếp một cách mật thiết của sự vận hành theo quy luật “Thập như thị”. Tất cả các pháp đều chịu sự tác động của quy trình trải qua 10 trạng thái thay đổi khác nhau là như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị lực, như thị tác, như thị nhân, như thị duyên, như thị quả, như thị báo, như thị bản mạt cứu cánh. Đó có thể được coi như là nền tảng cho sự nhận thức về thời gian theo quan điểm của kinh Pháp Hoa. Và thể hiện sự thông suốt về sự diễn tiến của thập như thị, Đức Phật đã phóng quang cho chúng hội thấy cuộc đời của Ngài từ vô thỉ kiếp đến khi thành Phật, Ngài đã bố thí tài sản, thân mạng, hoặc thiền định, giáo hóa chúng sinh khắp mười phương (Phẩm Tựa thứ nhất).

Nếu phân biệt theo tri thức bình thường của thế nhân, thì thời gian là những quy ước mà con người đặt ra một cách cụ thể như ngày giờ, năm tháng. Nhưng thời gian trong kinh Pháp Hoa, một bộ kinh quan trọng diễn tả áo nghĩa của tư tưởng Đại thừa, thì không hạn cuộc trong vòng năm tháng của sự phân biệt theo trí phàm nhân. Vì vậy, trong phẩm Tựa thứ nhất, mở đầu bộ kinh đã giới thiệu cho chúng ta thời gian mà Đức Phật và hội chúng thâm nhập thế giới Pháp Hoa như sau: “Bấy giờ Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh từ trong chánh định mà dậy, vì Diệu Quang Bồ tát nói kinh Đại thừa tên Diệu Pháp Liên Hoa Giáo Bồ tát Pháp Phật Sở Hộ Niệm, trải qua 60 tiểu kiếp chẳng rời chỗ ngồi. Lúc ấy, trong hội người nghe pháp cũng ngồi một chỗ đến 60 tiểu kiếp, thân tâm đều không lay động, nghe Đức Phật nói pháp cho như là trong khoảng bữa ăn”.

1 tiểu kiếp = 16.798.000 năm mà chúng hội thấy như khoảng bữa ăn. Vậy thời gian này phải hiểu như thế nào? Bộ kinh Pháp Hoa mà Đức Phật Nhật Nguyệt Đăng Minh nói lâu đến hơn 16 triệu năm, chắc chắn không phải là bộ kinh bình thường bằng giấy trắng mực đen và càng không phải là Phật nói bằng ngôn ngữ con người. Thời gian diễn ra thế giới Pháp Hoa đó phải được điều động bởi một bậc đại trí đã vượt khỏi vòng sanh diệt của luân hồi, nghĩa là vượt ngoài sự ràng buộc của thời gian. Và chúng hội thâm nhập vào thế giới Pháp Hoa cảm nhận thời gian hơn 16 triệu năm đó như khoảng bữa ăn. Điều này thật là vi diệu khi hành giả Pháp Hoa được an trú trong diệu lực kỳ vĩ của Đức Phật, nên cũng vượt ngoài sự chi phối của căn trần thức, của hệ lụy thời gian. Thiết nghĩ, đây là cảnh giới nằm ngoài vọng tưởng phân biệt của hành giả hội đủ phước duyên tham dự hội Pháp Hoa mà người ngoại cuộc lạm bàn cũng khó nói cho chính xác.

Trong kinh Pháp Hoa, Đức Phật thấy được mọi diễn biến của muôn sự muôn vật theo thập như thị, đó là cái thấy như thật và siêu thời gian, Phật thấy suốt từ quá khứ đến vị lai của mọi người và tất cả các pháp, không phải một pháp, Ngài mới thọ ký được. Không còn gì mà Phật không am tường, dù là việc nhỏ nhất lâu xa nhất, gọi là bản mạt cứu cánh. Vì vậy, bằng tuệ giác của bậc Đại trí, Đức Phật đã thọ ký cho Xá Lợi Phất: “Ông đến đời vị lai quá vô lượng vô biên bất khả tư nghị kiếp, cúng dường bao nhiêu nghìn muôn ức Phật, phụng trì Chánh pháp, đầy đủ đạo tu hành của Bồ tát, sẽ thành Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư Phật Thế Tôn” (Phẩm Thí dụ thứ 3). Ngoài ra, Đức Phật cũng thọ ký cho Ca Diếp, Tu Bồ Đề, Ca Chiên Diên, Mục Kiền Liên, Phú Lâu Na, A Nan, La Hầu La và 2.000 vị hữu học.

Qua phần thọ ký của Đức Phật cho các vị Thanh văn, chúng ta nhận thấy điểm nổi bật ở đây là tất cả các vị đại đệ tử này đều phải trải qua vô lượng kiếp tu hạnh Bồ tát như phụng thờ, cúng dường, cung kính, tôn trọng ngợi khen nghìn muôn ức Phật, xây dựng tháp miếu, phụng trì Chánh pháp, diễn nói vô lượng đại pháp của các Đức Phật, thường tu hạnh thanh tịnh, v.v… cho đến thành tựu viên mãn hạnh Bồ tát, mới thành Phật, nếu chỉ tu trong vài chục năm theo hình thức thì quả vị Thánh còn xa, nói chi đến Phật quả.

Phải trải qua vô lượng kiếp phát huy trí giác và đạo hạnh, điều đó nhằm nhắc nhở hành giả Pháp Hoa phải nỗ lực, tinh cần thực hiện Bồ tát hạnh trong từng phút giây hiện tại, tinh tấn và tinh tấn không gián đoạn trên con đường Phật đạo cho đến vô số kiếp; đó là điều rất quan trọng theo tinh thần Pháp Hoa. Việc tận dụng giá trị của thời khắc hiện tại cũng đã được Đức Phật dạy trong kinh Trung Bộ III rằng, không nên truy tìm quá khứ vì quá khứ thì đã qua, cũng chẳng nên ước mơ về tương lai vì tương lai thì chưa đến, chỉ có hiện tại là phút giây quý báu đích thực giúp cho sự phát huy đạo hạnh của mỗi người.

Thật vậy, nếu thời khắc hiện tại được sử dụng có ý nghĩa, lợi lạc cho việc tiến tu Bồ tát đạo, thì nó sẽ trở thành hành trang quý báu dành dụm được vào kho tư lương quá khứ khi thời gian hiện tại qua đi và với nền tảng là quá khứ tốt đẹp như vậy, cùng với nhịp bước hiện tại tiếp theo đúng Chánh pháp thì chắc chắn sẽ mở ra một chân trời tương lai tươi sáng cho hành giả. Thời gian quá khứ, hiện tại và vị lai theo Pháp Hoa cứ như vậy mà thông suốt một cách sâu sắc và tốt đẹp.

Bồ tát theo kinh Pháp Hoa lấy sinh mạng tương tục làm chính yếu, nghĩa là thời gian thọ mạng của Báo thân Bồ tát không phải được tính trong thời gian hữu hạn của phàm nhân là vài chục năm, hay trong một đời người. Thọ mạng của Báo thân Bồ tát trên lộ trình tiến tu Bồ tát đạo cho đến ngày thành Phật được coi là siêu thời gian, mà kinh thường diễn tả là trải qua vô lượng vô số kiếp. Thật vậy, cứ mỗi một đời, Bồ tát tu tạo được một số công đức, thành tựu được một phần Báo thân. Đến khi chấm dứt thân hiện đời, Bồ tát tái sanh thì sinh mạng của Báo thân Bồ tát lại được tiếp nối trong đời kế tiếp và thăng tiến hơn, cứ như vậy mà Bồ tát Pháp Hoa luôn dấn thân vào thế giới Ta bà để tiếp tục hành trình thượng cầu Phật đạo hạ hóa chúng sinh của mình, đó là sinh mạng tương tục của Báo thân Bồ tát, bất kể thời gian dài hay ngắn, hay nói đúng hơn, Bồ tát không bị ràng buộc bởi sự hạn cuộc của thời gian, mà Bồ tát chỉ chuyên tâm tinh cần phát huy Bồ tát hạnh cho mình và cho mọi người trong từng sát na tâm, để thẳng tiến đến mục tiêu là thành tựu viên mãn Báo thân và đạt được quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy, thời gian hành Bồ tát đạo của Bồ tát Pháp Hoa là vô cùng và có giá trị siêu việt đối với những bậc xuất trần thượng sĩ, tự tại an nhiên ra vào cõi Ta bà ngũ trược mà quy luật vô thường không lay động được một mảy tâm của các Ngài.

Trên dòng sinh mệnh tương tục, Bồ tát tu tạo công đức theo từng bước chân đi trong thời gian vô tận như vậy, còn Đức Phật đối với thời gian thì như thế nào? Trong phẩm Như Lai thọ lượng thứ 16, kinh Pháp Hoa, Đức Phật xác định rằng Ngài thành Phật từ ngũ bách ức trần điểm cho đến nay vẫn ở thế giới Ta bà thuyết pháp giáo hóa chưa từng ngừng nghỉ, nhưng có người thấy Phật, có người không thấy. Vì thương chúng sinh nghiệp cấu nặng không thấy Phật, sanh tâm buông lung kiêu mạn, Phật dùng phương tiện nói có Phật ra đời và Phật Niết bàn.

Tuy sắc thân Phật vắng bóng trên cuộc đời, nhưng Pháp thân Ngài vẫn thường trụ hằng hữu. Thật vậy, những lời dạy cao quý và cuộc sống phạm hạnh thanh tịnh của Ngài, uy đức của Ngài vẫn còn là kim chỉ nam soi đường dẫn bước cho hàng đệ tử trên khắp năm châu. Đối với Pháp thân Phật vĩnh hằng bất tử ở thế giới Thường Tịch Quang mãi mãi là điểm nương tựa an bình cho nhân loại trải qua hơn 2.600 năm, thì thời gian trở thành vô nghĩa. Và bước theo dấu chân Phật, những hành giả Pháp Hoa luôn sống tỉnh giác trong từng phút giây hiện tại dưới sự soi sáng của Phật huệ để nuôi lớn Báo thân và Pháp thân của chính mình, góp phần làm vững mạnh thêm cho sự trường tồn của mạng mạch Phật pháp trên cõi nhân gian này.

CHỌN PHÁP MÔN NÀO TU ĐỂ GIẢI THOÁT?Hòa Thượng Tôn Sư Thích Trí Quảng khai thịNgày nay, phong trào học Phật phát triển rộ...
02/02/2023

CHỌN PHÁP MÔN NÀO TU ĐỂ GIẢI THOÁT?
Hòa Thượng Tôn Sư Thích Trí Quảng khai thị

Ngày nay, phong trào học Phật phát triển rộng và các giảng sư mỗi người dạy một cách, hướng dẫn một pháp môn. Vì vậy, đôi khi, pháp môn này được triển khai không thích hợp với pháp môn khác, khiến cho Phật tử hoang mang và chấp trước, thì dù tu pháp môn nào cũng không thành công và không giải thoát.

Cần nhớ rằng Phật nói nhiều pháp môn, nhưng mục đích chỉ có hai chữ giải thoát, tức làm sao chúng ta không bị phiền não chi phối, quấy rầy, không bị việc trần gian hành hạ. Tu pháp môn nào cũng nhằm giải quyết như vậy là chính yếu.

Riêng tôi, khi nghiên cứu giáo pháp và giảng dạy, thực tập trong đời tôi, nhận ra đúng nghĩa mà Phật nói nước bốn biển chỉ có một vị mặn; cũng vậy, pháp Phật có 84.000 pháp môn nhưng chỉ có một vị giải thoát mà thôi.

Vì vậy, học pháp môn này mà chê pháp môn khác là sai lầm và bị đọa. Chọn pháp môn thích hợp với mình, nên áp dụng để được giải thoát, nghiệp nhiều đời của mình được lắng yên. Được chừng đó, tôi nghĩ đã đủ và nếu tiến tu xa hơn, chúng ta đi trên lộ trình giải thoát, đến được thế giới chư Phật.





Ý nghĩa Bổn Môn Pháp HoaHT. Thích Trí QuảngBổn môn Pháp Hoa được hoàn thành năm 1990, nhưng có thể những năm sau, tôi th...
02/02/2023

Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa
HT. Thích Trí Quảng

Bổn môn Pháp Hoa được hoàn thành năm 1990, nhưng có thể những năm sau, tôi thăng tiến trên đường đạo, sẽ gặt hái những nhận thức khác cao hơn. Tuy nhiên, cũng có thể tôi đánh mất những gì tu tạo được, nếu bị tụt hậu. Lên hay xuống, tốt hay xấu, hãy để cho thời gian trả lời.

Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa - Phần 1
Đức Phật giảng nói pháp nhiều vô số, thường được tiêu biểu bằng con số tám mươi bốn ngàn pháp môn tu. Tuy nhiên, trước khi Niết bàn, Đức Phật lại phủ nhận tất cả, Ngài khẳng định rằng chưa từng nói một lời. Đứng trước hai lời dạy hoàn toàn trái ngược này, người tu hành phải biết tổng hợp cả hai vấn đề mà Phật đưa ra, để thấy được điều gì là chân lý và điều nào cần phủ nhận, ngõ hầu tìm được pháp thích hợp với mình, vận dụng lợi lạc trong cuộc sống.

Trên căn bản tìm pháp tương ưng để tu, nếu hành trì đúng sẽ đạt đến cứu cánh Phật quả; ngược lại, tu sai, chỉ chuốc lấy khổ đau. Đức Phật thường ví pháp như thuyền bè đưa chúng ta qua sông mê bể khổ; đừng dại dột đội thuyền mà đi. Riêng tôi, thuở nhỏ cũng phạm lỗi lầm này. Vì hết lòng thương đạo, tôi luôn luôn tâm niệm phải bảo vệ đạo pháp. Thực ra, lớp người trẻ thường có ý niệm sống chết cho đạo, để bảo vệ đạo pháp trường tồn. Tuy nhiên, về sau trưởng thành, nhờ thọ trì chánh pháp và được minh sư khai ngộ, tôi mới nhận ra ý niệm đó mặc dù tốt, nhưng hoàn toàn sai lầm. Nếu tôi mang bệnh cố chấp, chắc chắn không thể tiến tu được như ngày nay.

Thật vậy, khi chúng ta khư khư giữ ý nghĩ bảo vệ đạo pháp, ai động đến cái chúng ta muốn bảo vệ, thì tham sân nổi dậy liền. Không biết đạo pháp chúng ta bảo vệ được đến đâu, nhưng trước mắt thấy rõ chúng ta đã đi ngược lại lời Phật dạy. Từ ý niệm tốt ban đầu khởi lên, nay trở thành sân hận, bực tức, nói lời thô tục, thậm chí muốn hại người nào chống đối lại ý kiến của ta; nghĩa là chúng ta đã phát sinh ý niệm đối kháng và muốn tiêu diệt người khác ý mình. Đó chính là ác tâm đã sanh ra chỉ vì muốn bảo vệ đạo pháp. Ai có ý trái lại, chúng ta sẵn sàng ăn thua. Nếu sức yếu, chúng ta không chống nổi; nhưng có người khác hại được họ, chúng ta vô cùng sung sướng. Như vậy, chỉ tu sai một chút, nhận lầm giặc là con, khổ sẽ chồng chất thêm khổ và cửa địa ngục mở ra chào đón chúng ta. Đức Phật e ngại chúng ta rơi vô bệnh cố chấp này, cho nên Ngài phủ nhận trong kinh Văn Thù rằng suốt bốn mươi chín năm, Phật chưa nói một lời.

Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa - Phần 2
Khi rời Việt Nam sang Nhật, nhờ Thiền sư khai ngộ, tôi nhận được ý niệm hoàn toàn khác hẳn trước kia; Phật bảo vệ, che chở chúng ta, không phải chúng ta bảo vệ Phật pháp. Thực sự, chư Phật, Bồ tát, Hộ pháp Long thiên mới bảo vệ được đạo pháp. Chúng ta chưa thoát khỏi sự chi phối của đói khát, nóng lạnh; nói cho cùng, không tự bảo vệ nổi bản thân mình, nói chi đến khả năng bảo vệ đạo pháp. Riêng tôi, cảm thấy mình nhỏ bé trước vũ trụ bao la và trở về thực tế cuộc sống, còn biết bao quy luật chi phối, có sự liên hệ hỗ tương chằng chịt giữa ta và người, giữa ta và xã hội, giữa quốc gia này với quốc gia khác, cho đến sự hiện hữu cộng tồn giữa các loài sống chung trên trái đất này. Quả thật có vô số vấn đề tồn tại nằm ngoài tầm hiểu biết và vượt khỏi khả năng hành động của chúng ta.

Tuy nhiên, sống trong biển sanh tử không chút an toàn này, tôi vẫn cảm nhận hoàn toàn an lạc trong pháp Phật. Từ đó, một lòng lo tu hành, thẳng tiến trên con đường giải thoát mà Đức Phật vạch ra. Mỗi ngày, an trụ trong pháp Như Lai, kinh Duy Ma gọi là ăn cơm Hương Tích, tâm hồn cảm thấy thanh thản và đạo đức, trí tuệ của chúng ta lớn dần. Đến một ngày nào, dìu dắt dược người tiến tu đạo hạnh, tự biết mình đã trưởng thành trên đường đạo.

Chúng ta ý thức sâu sắc rằng pháp Phật rất nhiều và không cố định, không nên chấp chặt pháp nào, nhưng cũng không rời bỏ pháp. Cộng cả hai, để tìm được pháp tu vượt sông mê bể khổ, đến cứu cánh Niết bàn. Trách nhiệm ở chúng ta phải tự tìm. Đức Phật đưa ra ý này hay ý khác nhằm giúp chúng ta tìm được pháp tương ưng với mìn. Ngài không làm thế cho ta được.

Đầu tiên, tôi tìm trong văn tự ngữ ngôn của tám mươi bốn ngàn pháp môn tu là các phương thuốc chữa bệnh cho chúng ta. Tìm xong, tôi đưa vị thuốc Phật vào biển khổ trần lao cho tác động. Tôi nhận ra được ý Phật dạy rằng Ngài không nói lời gì và trở lại thực tế, có pháp tu riêng cho mỗi người khác nhau.

Có phải tụng kinh Pháp Hoa thì mọi tội lỗi đều tiêu tan?

Pháp tôi hành trì là Bổn môn Pháp Hoa, chuyển hóa từ thọ trì 28 phẩm kinh Pháp Hoa và Hồng danh Pháp Hoa. Từng giai đoạn tu, tôi thấy pháp khác. Quả đúng như Phật dạy rằng không có pháp cố định nào dẫn đến Vô thượng Đẳng giác.

Tiến tu, chúng ta nhận được các pháp khác nhau, vì mỗi lần thay đổi pháp, đưa đến kết quả là nhận thức và cuộc đời của chúng ta cũng thay đổi theo, tiến từ xấu đến tốt. Trên bước đường tu, khởi đầu không ai biết đến chúng ta, lần lần tu càng lâu, đạo đức và tri thức càng thăng hoa, được người quý mến kính trọng, chứng tỏ chúng ta đã đi đúng con đường giải thoát. Ngược lại, có người mới xuất gia, tự cho mình là Thầy thiên hạ, xem ai cũng là "con” mình, để rồi hưởng hết phước, phải bị đọa.

Bổn môn Pháp Hoa được hoàn thành năm 1990, nhưng có thể những năm sau, tôi thăng tiến trên đường đạo, sẽ gặt hái những nhận thức khác cao hơn. Tuy nhiên, cũng có thể tôi đánh mất những gì tu tạo được, nếu bị tụt hậu. Lên hay xuống, tốt hay xấu, hãy để cho thời gian trả lời.

Đối với tôi, mới tu thì xem giáo lý là khuôn vàng thước ngọc không thể thay đổi. Trên đường tu, với thời gian, tri thức phát triển, nhận ra được pháp Phật và kiến thức loài người từng bước đổi khác theo thời đại. Từ đó, pháp Phật cũng có giá trị tùy người, tùy chỗ, tùy lúc, không bao giờ có tác dụng giống nhau. Nếu rời bỏ pháp Như Lai, chỉ lấy nhận thức của con người, chúng ta đã lạc đường, không còn là đệ tử Phật. Tuy nhiên, người chấp Phật pháp mà không phù hợp thực tế, cũng rớt vô bệnh giáo điều như Tổ thường quở: "Y kinh giải nghĩa, Phật oan tam thế”. Người tu lấy pháp Phật rọi vô nhận thức thế gian, để thấy rõ yêu cầu của chúng sanh, đưa ra giải pháp đúng đắn cho họ. Từng thời kỳ, vào biển khổ, tiếp xúc với chúng sanh, mới thấy được chân lý.

Ý nghĩa Bổn Môn Pháp Hoa - Phần 3
Trong quá trình hành đạo, bước đầu, tôi thọ trì 28 phẩm kinh Pháp Hoa; sau đó, tôi hành trì pháp sám hối Hồng danh Pháp Hoa và đến Bổn môn Pháp Hoa. Trên đường tu học, có thể nghiệm pháp thì tri kiến thay đổi theo thời gian; nghĩa là tôi đã kết hợp Phật pháp và sự nhận thức của con người.

Riêng Tăng Ni, Phật tử, mỗi người phải có sở đắc riêng. Tôi mong quý vị làm thế nào đạt kết quả tốt. Đức Phật không muốn tôi lệ thuộc Ngài và tôi cũng không muốn quý vị bị ràng buộc vì tôi. Chỉ mong mọi người tự phát triển, làm lợi ích cho đời.

Có người nghi ngờ rằng Bổn môn Pháp Hoa kinh quá ngắn, chỉ có bảy phẩm so với bộ kinh Pháp Hoa 28 phẩm có từ trước; không biết tụng ít như vậy có phước hay không, có linh nghiệm, hay có đầy đủ ý nghĩa chăng. Trái lại, cũng có người nhận xét Bổn môn Pháp Hoa ngắn gọn, dễ tụng, không chiếm nhiều thì giờ và có thể thuộc lòng, nên ở đâu cũng suy nghĩ, đọc thầm được.

Đối với tôi, kinh Phật nhiều hay ít, khó hay dễ không quan trọng. Vấn đề chính yếu làm thế nào đạt hiệu quả trong công phu tu tập. Giá trị hiệu quả được đặt trên năm tiêu chuẩn để chúng ta tiến tu. Trước tiên, thọ trì bộ kinh nào của Phật, không riêng gì kinh Pháp Hoa, chúng ta phải cảm thấy an vui. Nương tựa bộ kinh đó, chúng ta sống bình yên. Nói rộng hơn, bước đầu tu, phải tìm chùa, nơi đó chúng ta cảm thấy tâm hồn thanh thản, sống chung với vị minh sư, nhận được giải thoát và tìm kinh nào thọ trì mà mình cảm thấy an vui. Không phải chùa nào cũng tới, Thầy nào cũng theo và kinh nào cũng thọ trì; vì căn lành của chúng ta chỉ phát được là nhờ có sự thích hợp với chùa, với pháp tu và vị đạo sư hướng dẫn.

02/02/2023

HT Thích Trí Quảng - Đệ Tứ Pháp Chủ - Pháp Chủ GHPGVN chúc tết Tăng Ni, Cư sĩ, phật tử nhân dịp đầu xuân năm mới 2023.

Ý NGHĨA TỤNG KINH DƯỢC SƯ VÀ NIỆM PHẬT DƯỢC SƯ (phần 2)Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giảiNguyện thứ hai củ...
02/02/2023

Ý NGHĨA TỤNG KINH DƯỢC SƯ VÀ NIỆM PHẬT DƯỢC SƯ (phần 2)
Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giải

Nguyện thứ hai của Đức Phật Dược Sư là có được thân ngọc lưu ly, trong ngoài sáng suốt, tinh sạch hoàn toàn, hào quang chiếu khắp mười phương khiến cho chúng hữu tình trông thấy là được an lành. Người Ta bà phát triển trí tuệ, nhưng thân tâm ác độc, ô uế, nên đã tạo ra khổ đau cho nhau. Thực tế cho thấy con người càng khôn thì càng làm khổ nhiều người. Ngày xưa, con người đánh nhau bằng tay, sau đánh bằng đá, cho đến bằng gươm giáo và tiến đến súng đạn, vũ khí tàn phát giết người hàng loạt.Văn minh kèm theo tâm tham vọng và sự ác độc đã gây tác hại vô cùng cho chính con người và cho mọi loài.

Nguyện thứ hai của Đức Phật Dược Sư rất hay, nên Thầy cũng phát nguyện theo. Thân tâm của Đức Phật Dược Sư tinh sạch hoàn toàn, đọc đến đây, tự xét thân và tâm chúng ta có tỳ vết hay không, để chúng ta bắt đầu điều chỉnh, sửa lần.
Tâm trong sạch là không phiền não, nghiệp chướng, trần lao. Còn ba thứ này là có tỳ vết. Và tất nhiên người thấy tỳ vết của ta, họ sẽ chỉ trích. Tu hành, chấp nhận sự phê phán của người, không buồn giận; nhưng cám ơn họ, vì ta không thể thấy lỗi mình. Họ không thích, không kính, vì ta có lời nói không êm tai, mát lòng tiêu biểu cho khẩu nghiệp. Từ khẩu nghiệp, mói tạo thành ngôn ngữ mà người không chấp nhận.

Con thân nghiệp vì mình đã tạo nhiều tội, nên thân hôi dơ, xấu xí, bệnh hoạn.
Vì thế, tu hành, chúng ta chuyển đổi nghiệp thân thành thân công đức, bằng cách dùng thân này phục vụ chúng sinh hay xã hội. Thầy thấy nhiều người có ngoại hình không đẹp, nhưng họ biết tu, lo phục vụ người khác; đó là dùng công đức trang nghiêm thân, nên họ cũng được nhiều người quý mến. Thầy có kinh nghiệm pháp tu này. Lúc còn là học Tăng, Thầy lo quét dọn sạch sẽ nhà vệ sinh của đại chúng. Chắc chắn địa chúng không cần mình đẹp, chỉ cần nhà vệ sinh sạch đẹp. Thầy đã nhiệt tình và vui vẻ làm công việc này, mọi người đều thọ ơn, nên họ thương quý Thầy. Do làm công việc tốt mà nhận được cảm tình của người khác là dùng công đức trang nghiêm. Người nghĩ đến ta, hay nhìn thấy ta là thấy việc tốt của ta. Chúng ta tu hành không có gì trang nghiêm, làm sao người thương. Phải dùng công đức trang nghiêm như Đức Phật Dược Sư. Về thân bên ngoài, dễ thấy nhất, nên lo phục vụ, không gây phiền hà thì người ta sẽ nghĩ mình tốt, biết lo cho mọi người.

Đọc kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, chúng ta phải sửa đổi thân cho trong sạch và nhờ người phát hiện chỉ giùm. Khi có được thân tốt rồi, nghĩa là không ai chê trách. Chúng ta không làm lợi ích cho người, nhưng cũng không làm phiền ai; đó là giai đoạn tu Tiều thừa. Nhưng sang bước thứ hai; tu Đại thừa, phải dùng công đức trang nghiêm, tức làm việc tốt để trang nghiêm thân. Tinh thần này của Bồ tát được Tổ sư dạy trong bài sám Quy mạng rằng: “Kỳ hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát Bồ đề tâm, vĩnh xuất luân hồi khổ…”, nghĩa là ta thành tựu được nhiều việc tốt lành đến mức người trông thấy, hoặc chỉ nghe đến tên, học cũng phát tâm Bồ đề, mãi mãi thoát khỏi khổ đau của kiếp sống luân hồi.

Chúng ta theo Đức Phật Dược Sư phát nguyện tu hành, chuyển hóa thân mình cho trong sạch, dùng giới đức trang nghiêm thân, người ngoài không chỉ trích được. Ngoài ra, làm nhiều việc lợi ích cho đời, khiến người phát tâm là đã thể hiện phần nào ý nghĩa của Đức Dược Sư nguyện: “Chúng hữu tình ở nơi tăm tối cũng thấy thân ta và được an lành”.

Song song với thân trong sạch, sâu kín trong tâm chúng ta, cũng nhận chân được tâm khởi lên vọng tưởng điên đảo, hay tâm lắng yên. Phải giữ cho tâm trí lắng yên. Chúng ta tụng kinh, lễ Phật, kinh hành, ăn uống, v.v…, nói chung, mọi sinh hoạt đều phải ở trong trạng thái tỉnh thức, tâm trí lắng yên.

Thí dụ, ăn thì lo ăn, không nghĩ ngon dở; vì tâm lắng yên, không phân biệt thức ăn. Chỉ cần ăn để sống, là ăn trong tỉnh thức, tâm không phân biệt là không vọng niệm, nên thức ăn ngon dở cũng vậy. Còn khởi tâm thức ăn dở thì nuốt không vô.

Tụng kinh cũng vậy, tập trung tâm trí, theo dõi lời Phật dạy, suy nghĩ về những lời nguyện của Đức Dược Sư như thế nào mà Ngài thành Phật. Đức Phật Thích Ca nói về việc làm của Đức Phật Dược Sư để nhắc nhở chúng ta làm theo Ngài. Nói cách khác, Đức Phật đưa ra mẫu người tiêu biểu là Đức Phật Dược Sư nhằm dạy chung ta hành Bồ tát đạo, để tự trang nghiêm mình, trong tương lai chúng ta cũng đạt được quả vị như Đức Phật Dược Sư.





Ý NGHĨA TỤNG KINH DƯỢC SƯ VÀ NIỆM PHẬT DƯỢC SƯ (phần 1)Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giảiĐức Phật Thích Ca...
02/02/2023

Ý NGHĨA TỤNG KINH DƯỢC SƯ VÀ NIỆM PHẬT DƯỢC SƯ (phần 1)
Hòa Thượng Tôn Sư Thượng Trí Hạ Quảng giảng giải

Đức Phật Thích Ca cho biết trong thế giới mười phương đều có vô số các Đức Phật. Và Ngài giới thiệu cho chúng ta hai vị Phật đặc biệt có duyên với chúng sinh ở Ta bà. Đó là Đức Phật Di Đà ở thế giới phương Tây và Đức Phật Dược Sư ở thế giới phương Đông.

Hai vị Phật Di Đà và Dược Sư cũng phát xuất từ con người như chúng ta, cũng bị vô minh ngăn che, phiền não quấy rầy. Nhưng các Ngài khác chúng ta ở điểm đã chuyển hóa những hiểu biết sai lầm của con người thành hiểu biết đúng đắn hoàn toàn và chuyển đổi những việc làm xấu trở thành công đức, cũng như đã phát huy được ba nghiệp thân khẩu ý đến mức thanh tịnh hoàn toàn, sáng suốt trọn vẹn và thành tựu nhiều việc làm lợi ích cho cuộc đời. Những thành quả tuyệt vời như thế trên bước đường hành Bồ tát đạo mới tạo thành quả vị Phật của Đức Di Đà và Đức Dược Sư.
Phật Thích Ca đến thành Quảng Nghiêm, nói kinh Dược Sư dưới cây tiếng nhạc là cây thông. Phật thuyết pháp trong rừng thông, gió lay động làm tiếng thông reo, người có tâm thanh tịnh cảm nhận như là tiếng nhạc Trời.

Thành Quảng Nghiêm là tên khác của thành Tỳ Da Ly, nơi Phật đã thuyết kinh Duy Ma. Đây là thành phố tương đối văn minh, sạch đẹp, con người và thiên nhiên sống hài hòa với nhau. Đức Phật đưa đại chúng đến thành phố an vui, để nói việc vui; Phật thuyết pháp tùy duyên là như thế.

Đến thành Quảng Nghiêm, một cảnh vui tươi, an lạc, khác với cảnh chết người của thành Vương Xá, Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hỏi Phật về Tịnh Độ của các Đức Phật; nói cách khác, ngoài thành này còn có thành nào tốt đẹp hơn nữa không.

Đức Phật trả lời rằng từ đây hướng đến phương Đông cách mười muôn ức cõi nước chư Phật, có một thế giới tên là Tịnh Lưu Ly. Giáo chủ cõi này là Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai. Khi còn tu hạnh Bồ tát, Ngài có phát mười hai lời nguyện, để cứu giúp mọi người có được cuộc sống vật chất và tinh thần tốt đẹp nhất.

Đức Phật đã giới thiệu thế giới Tịnh Lưu Ly cách chúng ta rất xa, xa đến mười muôn ức thế giới và cũng đẹp như thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà. Tuy nhiên, hai thế giới này có hai mô hình khác nhau, có cách trang nghiêm khác nhau; vì mỗi vị Phật có tâm nguyện, hạnh nguyện khác nhau, tức nhân địa tu hành Bồ tát đạo của hai vị khác nhau. Tuy nhiên, dù khác thế nào chăng nữa, thế giới của các Đức Phật đều hoàn toàn tốt đẹp.

Đức Phật Dược Sư xây dựng thế giới Tịnh Lưu Ly trên căn bản của 12 lời nguyện, trong đó cũng có những nguyện giống với 48 nguyện của Đức Phật Di Đà. 12 lời nguyện này để ứng vào hoàn cảnh xã hội và yêu cầu của mọi người ở Ta bà. Chúng ta còn nhớ Đức Phật Thích Ca xưa kia phát Bồ đề tâm hành Bồ tát đạo, tình thương của Bồ tát rất lớn và đối tượng của tình thương đó là chúng sinh đau khổ vô cùng. Thấy chúng sinh khổ thì thương, nhưng khả năng còn giới hạn, làm sao cứu được. Đức Phật Thích Ca cũng nguyện thành Vô thượng Đẳng giác, nghĩa là có đầy đủ khả năng cứu giúp, mới trở lại độ chúng sinh. Phật Dược Sư cũng phát nguyện như vậy và 12 lời nguyện của Ngài rất thực trong cuộc sống.

Nguyện thứ nhất, Đức Dược Sư phát nguyện chứng được Vô thượng Bồ đề là đạt được trí tuệ tột đỉnh để giúp cho mọi người hết khổ, được an vui và họ biết phục vụ lại người khác. Vì Ngài biết rõ tất cả chúng ta đều có khả năng mang an vui, hạnh phúc cho mình, cho người; nhưng vì thiếu trí tuệ, bị vô minh ngăn che, nên không thể giải thoát, không làm được việc lợi ích cho đời.

Thời Phật Dược Sư xa xưa vậy mà Ngài đã biết được lợi ích vô cùng của trí tuệ. Ngày nay chúng ta dễ dàng nhận thấy sức mạnh của con người không bằng con hổ, con voi, nhưng khống chế được chúng nhờ trí tuệ.

Và thời hiện đại là thời văn minh khoa học, cũng do trí tuệ loài người được phát huy cao nên tạo ra được những tiện nghi tốt đẹp cho cuộc sống của con người. Nhưng loài người phát huy trí tuệ mà không có tình thương chỉ đạo, không hướng đến việc phục vụ con người một cách tốt đẹp, mà lại gây ra đau khổ rất nhiều cho chính con người và cho muôn loài. Thí dụ con người tìm ra nguyên tử năng là sức mạnh lớn nhất, nhưng không sử dụng để phục vụ hoàn toàn cho con người; trái lại, dùng nó để giết người. Điển hình là hàng triệu người chết vì bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki ở Nhật Bản. Hoặc trong chiến tranh ở Việt Nam, người Mỹ cũng sử dụng vũ khí hiện đại là chất độc da cam, khiến cho chiến tranh chấm dứt đã 30 năm mà vẫn còn để lại hậu quả thật là thảm khốc cho nhiều người.

Trí tuệ con người phải kèm theo lòng từ bi mới có thể phục vụ lợi ích cho nhân loại. Xây dựng thế giới Tịnh Lưu Ly, Đức Phật Dược Sư phát nguyện phát huy hiểu biết cao nhất để phục vụ cho người dân ở đó được hưởng cuộc sống sung sướng nhất. Thế giới Cực Lạc của Đức Phật Di Đà cũng vậy. Đó là hai mô hình thế giới văn minh của Phật chỉ có tình thương và xây dựng hạnh phúc tối đa cho người dân; ở Tịnh Độ đó không có ác độc, nguy hiểm, giết người, đói khát, bệnh tật, đau khổ, v.v… như thế giới văn minh của loài người ngày nay thường hủy diệt mạng sống của con người và các loài hữu tình khác, cũng như gây ra vô số bệnh tật quái ác, tạo ra những rủi ro vô cùng, hiểm nguy vô tận.

Bồ tát muốn cứu chúng sinh, phải có trí tuệ cao nhất để khai thác tài nguyên trong không gian, trong lòng đất nhằm phục vụ con người mà không gây thiệt hại cho các loài, cho sự sống của trái đất. Và Đức Phật Dược Sư đã đạt được mục tiêu đó. Ngài chuyển những khó khăn thành tiện nghi tốt nhất của thế giới thuần tịnh, cũng đẹp nhất và an vui nhất như Cựu Lạc vậy.

Tụng kinh Dược Sư, niệm Phật Dược Sư, nghĩ đến lời nguyện thứ nhất của Đức Dược Sư, chúng ta nỗ lực nâng hiểu biết của mình lên đến tầm cao. Giả sử chúng ta sinh về đó, cũng để học hỏi, thực hành và xây dựng được thế giới văn minh như Đức Phật Dược Sư, không phải để hưởng thụ. Thật vậy, Tịnh độ của Đức Phật Dược Sư có những vị Bồ tát như Nhật Quang, Nguyệt Quang, Dược Vương, Dược Thượng, Bảo Đàn Hoa… và nhiều vị Bồ tát lớn. Các Ngài là những bậc Thầy có trí tuệ tuyệt vời để chúng ta theo học, chắc chắn việc kiến tạo những Tịnh độ không phải là việc làm ngoài tầm tay của chúng ta.





Address

Hanoi

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thanh Âm Phật Pháp Nhiệm Màu posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share