Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺

Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺 ⛩️沱城第一祖庭☸️
TỔ ĐÌNH SẮC TỨ VU LAN là tổ đình lâu đời thuộc môn phái Chúc Thánh tại Đà Nẵng. Tọa lạc tại 84 Núi Thành, Tp. Đà Nẵng. Thương hứa tính cử.

Viện chủ: Đại lão HT Thích Như Thọ. Trụ trì: Đại đức Thích Hạnh Viên. (💥TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA TỔ ĐÌNH💥) Biết được danh thắng Ngũ Hành Sơn là nơi quy tụ biết bao bậc Tăng tài, các vị bô lão trong làng Hòa Thuận đã nhất tâm cung thỉnh Tăng mục Phạm Hưng Long làm vị tổ sư khai sơn, dưới sự chứng tri của Đức Tăng cang Nguyễn Từ Trí, Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí. “…御製三台靈應二寺敕賜僧綱阮慈智本師敕準住持黎慈忍阮福智本

師垂情擬量仝單禀敍候承商許併擧.三台寺僧目范興隆為住持…” (..Ngự chế Tam Thai – Linh Ứng nhị tự Sắc tứ Tăng Cang: Nguyễn Từ Trí Bổn sư, Sắc chuẩn trụ trì: Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí Bổn sư. Thùy tình nghĩ lượng, đồng đơn bẩm tự hậu thừa. Tam Thai tự Tăng Mục Phạm Hưng Long vi trụ trì…)
Giữa năm Thành Thái thứ 18 (1907), Hòa Thượng Phạm Hưng Long cùng sự hộ trợ của ngài Tú Tài Hồ Tiên Phong chính thức xây chùa theo lối nhà 3 gian 2 chái. Năm Duy Tân thứ 3 (1910), ngài chú tạo quả hồng chung nặng 250 cân dưới sự chứng minh của Tổ sư Từ Trí và các bảo tượng, pháp khí tại chùa để phụng thờ dài lâu. “…秀才胡仙峰相擇至成泰十八年丙午中建維新三年鑄大銅鐘嗣此像影…” (tú tài Hồ Tiên Phong tương trạch chí Thành Thái thập bát niên, Bính Ngọ trung kiến, Duy Tân tam niên, chú đại hồng chung tự thử tượng ảnh). Được sự bảo hộ của quan Tổng Đốc Nam Ngãi kiêm Thái Tử thiếu bảo họ Hồ. Năm Khải Định nguyên niên (1916), Hòa Thượng đại trùng tu chùa. Năm Giáp Tý (1924?), Tổ khai sơn viên tịch. Ngài Tăng Cang Tôn Bảo được sơn môn thỉnh cử làm Tự trưởng. Năm Bảo Đại thứ 3 ( 1928), Hòa Thượng Tôn Bảo cùng cư sỹ Phạm Vinh Lương, Ngô Văn Vân… trùng tu tiền đường, tăng xá, xây dựng nhà bia… với sự cúng dường của các Quan lại, các tỉnh phía Bắc, ngoại quốc,..Mãi đến thập niên 30, chùa mới dựng cổng tam quan. Năm Bảo Đại thứ 5 (1930), Hòa Thượng Tôn Bảo được chính quyền quan tòa công nhận lý bạ chùa Vu Lan, từ đây ngài chính thức đăng ngôi vị Trụ trì. Từ đó ngài thế độ đồ chúng, truyền bá giáo lý. Mùa thu năm Bảo Đại thứ 9 (1934), chùa Vu Lan được triều đình khâm ban “Sắc Tứ”. Giữa thập niên 40, Hòa thượng Tôn Bảo được triều đình cải bổ làm Tăng Cang cai quản hai ngôi Quốc tự Tam Thai - Linh Ứng. Năm Nhâm Thìn (1952), Hòa Thượng Thích Tôn Bảo đúc quả hồng chung nặng 210 cân và quả chuông gia trì, đặt dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Tăng Cang Thiện Quả, hộ chú bởi cư sỹ Trần Ngọc Lan. Năm Đinh Mùi (1967), chùa Vu Lan được trùng tu theo lối kiến trúc chùa hội. Năm 1973, Hòa Thượng Thích Tôn Bảo chú tạo pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng cao 1,2 m. Năm Giáp Dần (1974), Hòa Thượng Thích Tôn Bảo viên tịch. Đệ tử ngài là Hòa Thượng Thích Như Nghĩa kế vị trụ trì. Năm 1995, HT Thích Như Nghĩa trùng tu lại tam quan, hậu tổ và xây dựng tượng Quan Âm lộ thiên. Năm 2010, Hòa thượng Thích Như Nghĩa vì tuổi cao, Hòa Thượng Thích Như Thọ cùng môn phái Chúc Thánh đứng ra trùng tu ngôi Già Lam Vu Lan huy hoàng như ngày hôm nay, xây cổng tam quan mới, chú tạo Hồng chung nặng 1 tấn, đúc tượng Phật Thích Ca và nhị vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền. Năm 2012, Đại Lão Hòa Thượng Thích Như Nghĩa viên tịch. Năm 2013, Hòa Thượng Thích Như Thọ được Giáo Hội chuẩn y vào ngôi trụ trì Tổ Đình Vu Lan. Hiện nay, Hòa thượng Thích Như Thọ vẫn luôn thao thức trùng tu thêm tiền đường, nhà giảng, và tu bổ lại vườn tháp Tổ. Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan là một trong những nơi quy tụ của chư tôn đức môn phái Lâm Tế Chúc Thánh trong các dịp lễ húy kỵ, hội họp, an cư tự tứ… Tuy được hình thành khá trễ và trong giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng, nhưng đây là một nơi lưu dấu biết bao tinh hoa về giá trị thẩm mỹ, tính độc đáo về nghệ thuật mang đậm sự kết hợp giữa phong kiến và đầu phong trào chấn hưng Phật Giáo.

25/05/2026
Phật đản hôm nay đã mở màn,Vui mừng rước lễ khắp nhơn gian,Nguyện cầu đức Phật thường gia hộ,Rạng rỡ muôn đời ánh đạo và...
24/05/2026

Phật đản hôm nay đã mở màn,
Vui mừng rước lễ khắp nhơn gian,
Nguyện cầu đức Phật thường gia hộ,
Rạng rỡ muôn đời ánh đạo vàng.

Kính mừng tuần lễ Phật Đản - PL 2570

Sự đản sanh của Đức Phật có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những Ngài đã góp phần củng cố trật tự xã hội Ấn Độ, m...
19/05/2026

Sự đản sanh của Đức Phật có một ý nghĩa vô cùng quan trọng, không những Ngài đã góp phần củng cố trật tự xã hội Ấn Độ, mà còn hướng dẫn con người thoát khỏi những khổ đau sanh tử. Xã hội Ấn Độ lúc bấy giờ rất phức tạp. Lúc bấy giờ ở Ấn Độ có rất nhiều trường phái và các học thuyết khác nhau, trong Luật Thiện Kiến ghi có đến 96 trường phái. Tất cả các học thuyết của các trường phái ấy lan rộng khắp nơi và chịu sự chi phối của Bà-la- môn giáo. Nhưng đến khi đất nước lớn mạnh với những cơ sở hạ tầng phát triển thì kiến trúc thượng tầng dường như không kham nổi vai trò của mình nữa. Những sinh hoạt hàng ngày mà người dân Ấn Độ lệ thuộc vào Bà-la- môn giáo, lệ thuộc vào các vị thần quyền năng… đã trở nên gò bó đơn điệu. Vào giai đoạn ấy, một Bậc giác ngộ chân lý có khả năng giải quyết mọi rối ren về tư tưởng và của con người bấy giờ. Đó là một Đấng sáng tạo không độc quyền giữ chân lý, Ngài chỉ dung nạp, dung chứa và hòa hợp. Ngài đã tự thân tu tập, chứng ngộ rồi đưa ra con đường cứu khổ, giải thoát cho con người. Vị đó chính là Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.

NHẤT TÂM KÍNH LỄ GIÁC LINH HOÀ THƯỢNG TRƯỞNG BAN TRỊ SỰ GHPGVN TP ĐÀ NẴNG TÂN VIÊN TỊCH Hòa thượng THÍCH PHƯỚC MINH Ủy v...
11/05/2026

NHẤT TÂM KÍNH LỄ GIÁC LINH HOÀ THƯỢNG TRƯỞNG BAN TRỊ SỰ GHPGVN TP ĐÀ NẴNG TÂN VIÊN TỊCH

Hòa thượng THÍCH PHƯỚC MINH
Ủy viên HĐTS
Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP. Đà Nẵng
vừa viên tịch sáng nay lúc 8h20 Ngày 25/03/ Bính Ngọ

Nhất tâm cầu nguyện Giác Linh Cố Hòa Thượng cao đăng Phật quốc.

Chúng con một lòng hướng về Tổ đình Sắc tứ Phước Lâm - Hội An đảnh lễ giác linh cố Đại Lão Tổ sư Ấn Bổn - Tổ Nguyên - Vĩ...
05/05/2026

Chúng con một lòng hướng về Tổ đình Sắc tứ Phước Lâm - Hội An đảnh lễ giác linh cố Đại Lão Tổ sư Ấn Bổn - Tổ Nguyên - Vĩnh Gia nhân lễ húy nhật Tổ sư viên tịch. (20/3al).

Tiểu sử Tổ sư Vĩnh Gia (1840-1918)

Ngài họ Đoàn tên Nhược, quán làng Thế Dương, quận Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, sinh vào năm thứ 21, triều vua Minh Mạng (1840).

Xuất thân trong một gia đình nho phong, bẩm chất thông minh hiếu học, lúc Ngài được 18 tuổi thì thân sinh đã mạng chung. Từ đó Ngài vân du đó đây hầu mở rộng kiến thức. Đến tỉnh Thuận Hóa, Ngài gặp cụ Bố Chính Nguyễn Khoa Luân (Về sau tức Viên Giác Thiền sư) tại chùa Ba La Mật. Sau mấy ngày đàm đạo, các Ngài nhận thấy thân mạng là vô thường, tam giới như nhà lửa, chỉ có lối tu học chánh pháp của Như Lai mới là con đường giải thoát chân chánh.

Năm 1859, được 19 tuổi Ngài phát tâm tầm sư học đạo. Lúc bấy giờ tại tỉnh Quảng Nam, nơi quê quán của Ngài, có Hòa Thượng Quán Thông, một vị danh Tăng, vào hàng thứ năm dòng Lâm Tế, làm trú trì chùa Phước Lâm. Ngài mới xin thế phát đầu sư với Hòa Thượng. Thọ Sa Di giới được 6 năm, Ngài tỏ ra là một Tăng sĩ xuất chúng. Hòa Thượng Bổn sư Quán Thông đặt cho Ngài pháp danh là Ấn Bổn, tự Tổ Nguyên, hiệu Vĩnh Gia.

Năm 1865, được 25 tuổi Ngài đến cầu đạo với Ngài Huệ Quang tại chùa Tam Thai (Ngũ Hành Sơn) Quảng Nam. Tại đây, Ngài thọ tam đàn Cụ Túc giới.

Năm 1893 (Quý Tỵ - triều Thành Thái) Ngài cùng Hòa thượng Chí Thành mở Đại giới đàn tại Tổ đình Chúc Thánh (Quảng Nam) và Ngài nhận chức Giáo Thọ A Xà Lê tại giới đàn này.

Năm 1894 (Giáp Ngọ), Ngài được thỉnh làm Đệ nhị Tôn chứng cho Đại giới đàn tại Tổ đình Báo Quốc (Thuận Hóa).

Năm 1906 (Bính Ngọ), Ngài nhận làm Yết Ma cho Đại giới đàn tại Tổ đình Thập Tháp Di Đà (Bình Định).

Năm 1908 Mậu Thân, Ngài được thỉnh làm Đàn đầu Hòa thượng Đại giới đàn tại chùa Phước Lâm (Quảng Nam).

Đến năm 1910 (Canh Tuất - triều Duy Tân) Ngài khai Đại giới đàn tại Tổ đình Phước Lâm, Hội An, và làm Đàn đầu Hòa Thượng. Giới đàn này quy tụ gần 200 giới tử, trong đó sau này có Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đệ nhất Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Hòa thượng Thích Giác Nhiên chùa Thuyền Tôn là đệ nhị Tăng Thống... Về phần tại gia thì có Miên Trinh Tuy Lý Vương, cụ Đô Thống Lê Viết Nghiêm v.v... và nhiều hoàng thân quốc thích khác đều là đệ tử của Ngài.

Ngài có công lớn trong việc đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm, chú trọng việc đào tạo Tăng tài, giáo hóa hậu lai. Nhờ thế dân chúng thấm nhuần ảnh hưởng đạo đức của Ngài, không những đối với Phật giáo đồ Quảng Nam mà còn đối với cả Phật giáo miền Trung. Với sự nghiệp cao dày của Ngài, trọn đời hiến thân cho việc phục hưng Phật giáo, cụ Thượng thư Hiệp biện Đại học sĩ Nguyễn Hà Đình (đệ tử của Ngài) một nhà thâm nho và cũng thâm uyên giáo lý đã dâng tặng Ngài hai câu đối bằng gỗ trầm hương, hiện nay còn treo tại chùa Phước Lâm :

Tăng lữ thả bồi hương hỏa xã,

Cao tình du ái thủy vân hương.

Ngài thường căn dặn đệ tử: “Giới luật là thọ mạng của Phật pháp, nếu phá giới thì phải hoàn lại y bát, ra khỏi già lam, để cho trong đục rõ ràng, tà chánh phân chia có vậy, nước Thiền định mới khai thông, đèn tri giác thêm sáng tỏ”. Trên 40 năm tu học và hành đạo, Ngài am tường giới luật, hành trì nghiêm tịnh, đạo hạnh ngày càng vang dội.

Đến năm 1918, tuổi già sức yếu, Ngài gọi đồ chúng dạy bảo lần cuối rồi an nhiên thị tịch. Ngài thọ 79 tuổi với 54 hạ lạp, tháp của Ngài được xây cất trang nghiêm cổ kính phía tả Tổ đình Phước Lâm, Hội An, Quảng Nam - Đà Nẵng.

Hàng năm đến ngày 20 tháng 3 âm lịch, Tăng tín đồ tề tựu lại Tổ đình Phước Lâm, thành kính lễ Húy kỵ tưởng niệm công đức Ngài. Đạo phong cao vời của Ngài tỏa sáng mãi trong Tăng tín đồ hậu thế.

Theo tư liệu Hành trạng chư Thiền đức xứ Quảng của TT Thích Như Tịnh.

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT LẦN THỨ 50 CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TÔN THẮNG. (15/03/Âm Lịch)Hòa thượng Thích Tôn Thắ...
30/04/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT LẦN THỨ 50 CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH TÔN THẮNG. (15/03/Âm Lịch)

Hòa thượng Thích Tôn Thắng, pháp danh Trừng Kệ, pháp tự Như Nhu, Ngài thế danh là Dương Văn Minh, sinh ngày 29 tháng 2 năm Kỷ Sửu – 1889 (năm Thành Thái nguyên niên) tại làng Hà My, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, thân phụ là ông Dương Văn Hiếu và thân mẫu là bà Nguyễn Thị Tiện.

Ngài sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống Nho học và Phật học chuẩn mực và được nuôi dạy theo khuôn mẫu, nên buổi thiếu thời Ngài đã sớm được tiếp cận với kinh sách thánh hiền.

Năm Giáp Thìn (1904), lúc lên 16 tuổi, Ngài được phép mẫu thân đến cầu xuất gia với Hòa thượng Tâm Truyền, Tăng Cang chùa Báo Quốc và được Hòa thượng ban pháp danh là Trừng Kệ. Đó là năm đáng nhớ nhất cuộc đời Ngài : năm nhiều tỉnh miền Bắc bị mất mùa, đói kém và hình ảnh cao đẹp nữa về vị vua mà Ngài ngưỡng mộ lại phải thân hành ra tận miền Bắc để thăm hỏi, cứu trợ, ghi thêm một nét đẹp nữa cho Ngài.

Năm Bính Ngọ (1906), Ngài được Bổn sư cho thọ Sa di giới và được ban pháp tự là Như Nhu. Ngay sau đó, vua Thành Thái truyền lệnh cho bộ Lễ sung Ngài vào ngạch Tăng chùa Diệu Đế (Gia Hội – Huế).

Năm Canh Tuất (1910), khi hay tin và qua thời gian chiêm nghiệm về sự kiện vua Thành Thái bị khâm sứ Trung Kỳ Lévêque bắt buộc thoái vị, nhường ngôi cho vua Duy Tân (1907). Ngài được phép Bổn sư cho tạm rời xa kinh thành Huế, dạt vào Quảng Nam, Khánh Hòa và Bình Thuận để cầu tham học. Ngài trụ lại thị xã Đà Nẵng, lập thảo am trú xứ tại làng Thạch Châu tu tập.

Năm Quý Sửu (1913), Ngài trở về Huế thọ tang Hòa thượng Bổn sư Tâm Truyền đã viên tịch. Tăng môn đại chúng cung thỉnh Hòa thượng Tâm Khoan kế vị trụ trì chùa Báo Quốc và Ngài được Hòa thượng cử làm tri sự.

Năm Mậu Ngọ (1918), sau một chuỗi sự kiện làm chạnh lòng người dân đế đô, nổi cộm nhất là sự kiện cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân thất bại (1916), Ngài lại một lần nữa trở vào Đà Nẵng. Nơi đây Ngài khai sơn chùa Phổ Thiên tại làng Bình Thuận (nay là chùa Phổ Đà, cơ sở của trường Cơ bản Phật học Quảng Nam – Đà Nẵng).

Năm Quý Hợi (1923), năm Khải Định thứ 7. Lúc này Ngài 34 tuổi mới thọ Cụ túc giới tại Đại giới đàn chùa Phước Quang, tỉnh Quảng Ngãi do Hòa thượng Hoằng Tịnh làm Đàn đầu truyền giới.

Năm Giáp Tý (1924), Ngài đến cầu pháp với Hòa thượng Phước Trí chùa Tam Thai, núi Ngũ Hành, Quảng Nam được Hòa thượng phú pháp với Pháp hiệu là Tôn Thắng.

Năm Mậu Thìn (1928), Ngài được cung thỉnh làm Trị sự tại Đại giới đàn chùa Từ Vân, Đà Nẵng do Hòa thượng Quảng Hương làm Đàn đầu.

Năm Kỷ Tỵ (1929), Ngài được mời làm Dẫn Lễ Sư tại Đại giới đàn chùa Phước Lâm – Hội An, do Hòa thượng Phước Trí làm Đàn đầu.

Năm Canh Ngọ (1930), Ngài đảm đương trụ trì chùa Phổ Thiên, đồng thời được Giáo hội Tăng Già Đà Nẵng cung thỉnh giữ chức vụ Kiểm Tăng.

Năm Nhâm Thân (1932), hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo nổi lên ở khắp ba miền đất nước, Ngài đứng ra sáng lập Đà Thành Phật học Hội và cung thỉnh Hòa thượng Bích Liên làm Hội trưởng. Trụ sở đặt tại chùa Phổ Thiên và cho xuất bản tạp chí Tam Bảo làm cơ quan ngôn luận chính thức của Hội trong việc hoằng dương chánh pháp.

Năm Ất Hợi (1935), Ngài vào khai sơn chùa Tịnh Độ tại thị xã Tam Kỳ, nay là chi nhánh trường Cơ bản Phật Học của tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng.

Năm Bính Tý (1936), để phát triển việc hoằng hóa Ni giới, cũng tại làng Bình Thuận – Đà Nẵng, Ngài lại khai sơn chùa Diệu Pháp để làm Phật Học Ni Viện.

Năm Mậu Dần (1938), Ngài được cung thỉnh vào ngôi Tôn Chứng tại Đại giới đàn chùa Tịnh Quang, làng Ái Tử – Quảng Trị, do Hòa thượng Phước Huệ làm Đàn đầu.

Năm Kỷ Mẹo (1939), tại Đại giới đàn chùa Liên Trì, Khánh Hòa, Ngài được mời làm Yết Ma A-Xà-Lê, giới đàn cũng do Hòa thượng Phước Huệ làm Đàn đầu.

Năm Tân Tỵ (1941), Ngài được cung thỉnh làm Đàn đầu tại Đại giới đàn chùa Bình Quang Ni Tự tại tỉnh Bình Thuận.

Năm Nhâm Ngọ (1942), việc hóa đạo khắp nơi đã khởi sắc do sự đóng góp tích cực của Ngài trong phong trào chấn hưng Phật giáo, nhưng Ngài cũng không quên nghĩ về quê hương bản sở. Do đó, sau bao nhiêu năm trời xa cách Ngài về lại Quảng Trị, việc đầu tiên là Ngài thành lập ngay Phật học đường tại chùa Hội Quán và làm Giám đốc trong 3 năm.

Năm Ất Dậu (1945) do biến chuyển lớn của thời cuộc, Ngài lại trở vào Đà Nẵng tiến hành trùng tu các chùa Phổ Thiên, Tịnh Độ và chùa Hội Quán.

Năm Bính Tuất (1946) ý thức về tiền đồ Phật giáo mai sau, Ngài quyết định hiến cúng chùa Phổ Thiên (sau là chùa Phổ Đà) cho Giáo hội để mở Phật học viện có tầm vóc quy mô – chi nhánh Phật học viện Trung phần ở Trung Trung bộ.

Năm Giáp Thìn (1964), Ngài được tiến cử làm Chứng minh Đạo sư Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thị xã Đà Nẵng.

Năm Bính Ngọ (1966), Ngài được tiến cử vào Hội đồng Trưởng lão Viện Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Năm Canh Tuất (1970), Ngài làm Chánh chủ Đàn tại Đại giới đàn Vĩnh Gia, được tổ chức tại chùa Phổ Đà – Đà Nẵng (chùa Phổ Thiên trước đây). Từ đó đến năm Bính Thìn (1976) Ngài được thỉnh làm thành viên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất.

Ngày 16 tháng 3 năm Bính Thìn (1976), Ngài an nhiên thị tịch, trụ thế 87 năm, giới lạp 53 tuổi Hạ, môn đồ pháp quyến lập Bảo tháp Ngài tại chùa Tịnh Độ – thị xã Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng

KỶ NIỆM NGÀY VÍA KHÁNH ĐẢN ĐỨC ĐẠI HẠNH PHỔ HIỀN BỒ TÁT (21/02/Âm Lịch).PHỔ HIỀN THẬP CHỦNG ĐẠI NGUYỆN :1. Nhất giả lễ k...
08/04/2026

KỶ NIỆM NGÀY VÍA KHÁNH ĐẢN ĐỨC ĐẠI HẠNH PHỔ HIỀN BỒ TÁT (21/02/Âm Lịch).

PHỔ HIỀN THẬP CHỦNG ĐẠI NGUYỆN :

1. Nhất giả lễ kính chư Phật
2. Nhị giả xưng tán Như Lai
3. Tam giả quảng tu cúng dường
4. Tứ giả sám hối nghiệp chướng
5. Ngũ giả tùy hỷ công đức
6. Lục giả thỉnh chuyển Pháp luân
7. Thất giả thỉnh Phật trụ thế
8. Bát giả thường tùy Phật học
9. Cửu giả hằng thuận chúng sanh
10. Thập giả phổ giai hồi hướng
Nhân Vía Đức Phổ Hiền Bồ Tát con xin cung kính cúng dường lên Đại Sĩ bài thơ phát nguyện, lập lại Mười Đại Nguyện của Bồ Tát trong trí hiểu biết cạn cợt của con, mong Ngài từ bi nhiếp độ .
1. Phật là bậc Toàn Giác nên con nguyện thường lễ kính
Do có vô số Phật, nguyện đảnh lễ chư Phật mười phương
Chúng sanh là Phật tương lai con chẳng dám khinh thường
Trong tâm có Phật nên đối Phật tánh nguyện hằng kính lễ
2. Xưa giờ Phật đến thế gian cũng để khai mở trí huệ
Hạnh nguyện chẳng thể nghĩ bàn nên con nguyện xưng tán Như Lai
Bất cứ hạt bụi trần nào cũng có dấu chân, vết xả thân của Ngài
Công hạnh chư Phật muôn đời, nguyện xưng tán không mỏi mệt
3. Lễ kính xưng tán rồi, tâm con Phật đã nhiếp
Vì biết Tam Bảo là ruộng phước, nguyện hằng cúng dường
Tâm-Phật-chúng sanh không sai biệt, xin cúng dường pháp thân
Tam luân không tịch nên con nguyện cúng dường phổ quảng
4. Từ vô lượng kiếp đã tạo bao tội cùng nghiệp chướng
Nay được khai mở trí huệ, con nguyện sám hối chân thành
Tâm sám hối thanh tịnh rồi thì tội liền tiêu nhanh
Tội tiêu tâm tịnh thảy đều không mới là chân thành sám hối
5. Tâm thường sám hối, bao u ám nặng trĩu được trút cởi
Hết còn mặc cảm, tâm khởi lên niềm hân hoan
Thấy ai hành thiện pháp, con nguyện tùy hỷ công đức, chúc mừng
Biết mình cùng chúng sanh vốn bình đẳng đồng Phật tánh
6. Tâm tùy hỷ công đức đã có, Pháp luân nguyện thỉnh chuyển
Mong hiểu rõ đâu là công đức, nhân quả, cùng chánh tà
Phật đã nhập Niết Bàn nên con nguyện tìm cầu Pháp sư
Phật Pháp còn thì như thuyền có la bàn đến bến
7. Thỉnh chuyển Pháp luân song đâu là ý chỉ, pháp chân chính
Nên con nguyện thỉnh Phật cửu trụ thế gian
Phật có pháp thân, mong Thế Tôn thị hiện Tăng đoàn
Ngự trong tâm con, cùng hữu tình, vô tình thuyết pháp
8. Thỉnh Phật trụ thế là để tu học theo Phật
Phật còn tại thế thì con lầm lạc trầm luân
Nay được thân người, được Tam Bảo chỉ đường
Nguyện lấy thân này để tu học, làm pháp khí
9. Thường tùy Phật học không mỏi mệt ngừng nghỉ
Cũng để nhận ra Trí Huệ Từ Bi của Như Lai
Ba đời mười phương chư Phật vì độ hữu tình, đến thế gian này
Con nguyện hằng thuận, phụng sự chúng sanh muôn loài, nhân để thành Phật
10. Mười đại nguyện của Đại Sĩ Phổ Hiền Bồ Tát
Hết thảy chư Phật cũng đều như pháp mà hành
Bao công đức có được đồng phổ giai hồi hướng chúng sanh
Con nay phát nguyện y giáo phụng hành, xin Phật và Bồ Tát từ bi gia hộ .

Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.

KỶ NIỆM KHÁNH ĐẢN ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (19/02/Âm Lịch).Nam Mô Đại Từ Đại Bi,Tầm Thanh Cứu Khổ Nạn,Linh Cảm Ứng Quán Th...
04/04/2026

KỶ NIỆM KHÁNH ĐẢN ĐỨC QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (19/02/Âm Lịch).

Nam Mô Đại Từ Đại Bi,Tầm Thanh Cứu Khổ Nạn,Linh Cảm Ứng Quán Thế Âm Bồ Tát.

Cũng như phần nhiều danh hiệu của chư Phật và Bồ Tát, danh hiệu "Đại Bi Quán Thế Âm" là danh hiệu của một vị Bồ Tát hằng cứu khổ, danh hiệu này do nghiệp nhân tu hành và hạnh nguyện độ sanh mà thành tựu.

a. Đại bi: là lòng thương cứu khổ rộng lớn, không bờ bến: thương người như thương mình, cứu người như cứu mình một cách bình đẳng, vô tư, sang suốt, không bị thời gian chi phối, không bị không gian ngăn cách, không phân biệt giống nòi, người hay vật, không phân biệt giàu sang hay nghèo hèn, không phân biệt trí tuệ hay ngu si, không phân biệt người ân hay kẻ oán.

b. Quán: nghĩa là quán sát, xem xét

c. Thế Âm: nghĩa là tiếng tăm trong thế gian. Bồ Tát nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa tức là giác hữu tình, nghĩa là bậc hữu tình đã giác ngộ và trở lại giác ngộ các loài hữu tình.

Vậy Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát là vị đại Bồ Tát có lòng thương rộng lớn, thường quán sát tiếng kêu cầu đau khổ của chúng sanh trong thế gian mà thị hiện cứu độ.

Bồ Tát Quán Thế Âm không d**g ruổi theo âm thanh động tịnh bên ngoài như phàm phu, trái lại Ngài dùng trí tuệ thanh tịnh quán sát cái tự tánh bên trong mà chứng được bản thể vũ trụ. Do đó Ngài chứng nhập "Nhĩ căn viên thông" nên nơi nào, lúc nào trong mười phương thế giới có tiếng đau khổ kêu cầu thì Ngài liền ứng hiện cứu giúp một cách mầu nhiệm, tự tại.

Nhờ "nhĩ căn viên thông" mà khắp trong hoàn vũ, không có âm thanh nào mà Ngài không nghe, không có tiếng tăm gì không hiểu, không có tâm niệm nào Ngài không thông.

Kinh Ngũ Bách Danh cho biết đức Quán Thế Âm Bồ Tát có tất cả 500 danh hiệu đều là hóa thân của Ngài. Vì chứng được "Lục căn hỗ dụng" (nghĩa là 6 căn có thể trợ giúp thay thế lẫn nhau, như mắt có thể nghe, tai có thể thấy, lưỡi có thể ngửi v.v.) cho nên Bồ Tát được tự do, tự tại trong việc hiện thân độ thoát chúng sanh không bị gì ngăn cản trở ngại. Vì thế nên Ngài cũng có tên là QUÁN TỰ TẠI như bài kệ sau này tán dương vậy.

Phổ Đà lạc già thường nhập định
Tùy duyên phổ cảm mỵ bất châu
Tầm thanh cứu khổ độ quần mê
Thị đắc danh vi Quán Tự Tại
Tạm dịch nghĩa:
Trên núi Phổ Đà thường nhập định
Tùy duyên ứng hiện khắp gần xa
Tầm thanh cứu độ kẻ lầm mê
Vậy nên gọi là Quán Tự Tại

KỶ NIỆM ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI NHẬP NIẾT BÀN (15/02/Âm Lịch ).Đệ tử nay một  lòng thành kínhGiờ phút này quỳ giữa đạ...
01/04/2026

KỶ NIỆM ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI NHẬP NIẾT BÀN (15/02/Âm Lịch ).

Đệ tử nay một lòng thành kính
Giờ phút này quỳ giữa đạo tràng
Kỷ niệm ngày Phật Bát Niết Bàn
Trên đất Ấn thành Câu Thi cũ
Bốn bộ chúng tố thành đầy đủ
Khắp nhân thiên hóa độ chu chuân
Chấp thuận lời cầu thỉnh Ba Tuần
Xả tuổi thọ trước kỳ ba tháng
Thần thông tạm trụ nơi thân mạng
Pháp yếu cần Di Giáo tôn đồ
Đại Tập Đường hội họp Bí Sô
Nhắc nhớ lại các phần Đạo phẩm
Khuyên tinh tấn thời thường suy gẫm
Chớ mảy may lười biếng buông lung
Liền phóng quang chiếu diệu lạ lùng
Khai thị trước nhân duyên diệt độ
Đều ba cõi nhân thiên thống khổ

Thích Giải Hòa, Pháp Sự Khoa Nghi 1 2 3, Bài tụng lễ Phật Niết Bàn, Tu Viện Nguyên Thiều, Bình Định, 2008, Trang 141.

Address

Da Nang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺:

Share