Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺

Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺 ⛩️沱城第一祖庭☸️
TỔ ĐÌNH SẮC TỨ VU LAN là tổ đình lâu đời thuộc môn phái Chúc Thánh tại Đà Nẵng. Tọa lạc tại 84 Núi Thành, Tp. Đà Nẵng. Thương hứa tính cử.

Viện chủ: Đại lão HT Thích Như Thọ. Trụ trì: Đại đức Thích Hạnh Viên. (💥TRANG THÔNG TIN CHÍNH THỨC CỦA TỔ ĐÌNH💥) Biết được danh thắng Ngũ Hành Sơn là nơi quy tụ biết bao bậc Tăng tài, các vị bô lão trong làng Hòa Thuận đã nhất tâm cung thỉnh Tăng mục Phạm Hưng Long làm vị tổ sư khai sơn, dưới sự chứng tri của Đức Tăng cang Nguyễn Từ Trí, Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí. “…御製三台靈應二寺敕賜僧綱阮慈智本師敕準住持黎慈忍阮福智本師垂情擬量仝單禀敍候承商許併擧.三台寺僧目范興隆為住持…” (..Ngự chế Tam Thai – Linh Ứng nhị tự Sắc tứ Tăng Cang: Nguyễn Từ Trí Bổn sư, Sắc chuẩn trụ trì: Lê Từ Nhẫn, Nguyễn Phước Trí Bổn sư. Thùy tình nghĩ lượng, đồng đơn bẩm tự hậu thừa. Tam Thai tự Tăng Mục Phạm Hưng Long vi trụ trì…)
Giữa năm Thành Thái thứ 18 (1907), Hòa Thượng Phạm Hưng Long cùng sự hộ trợ của ngài Tú Tài Hồ Tiên Phong chính thức xây chùa theo lối nhà 3 gian 2 chái. Năm Duy Tân thứ 3 (1910), ngài chú tạo quả hồng chung nặng 250 cân dưới sự chứng minh của Tổ sư Từ Trí và các bảo tượng, pháp khí tại chùa để phụng thờ dài lâu. “…秀才胡仙峰相擇至成泰十八年丙午中建維新三年鑄大銅鐘嗣此像影…” (tú tài Hồ Tiên Phong tương trạch chí Thành Thái thập bát niên, Bính Ngọ trung kiến, Duy Tân tam niên, chú đại hồng chung tự thử tượng ảnh). Được sự bảo hộ của quan Tổng Đốc Nam Ngãi kiêm Thái Tử thiếu bảo họ Hồ. Năm Khải Định nguyên niên (1916), Hòa Thượng đại trùng tu chùa. Năm Giáp Tý (1924?), Tổ khai sơn viên tịch. Ngài Tăng Cang Tôn Bảo được sơn môn thỉnh cử làm Tự trưởng. Năm Bảo Đại thứ 3 ( 1928), Hòa Thượng Tôn Bảo cùng cư sỹ Phạm Vinh Lương, Ngô Văn Vân… trùng tu tiền đường, tăng xá, xây dựng nhà bia… với sự cúng dường của các Quan lại, các tỉnh phía Bắc, ngoại quốc,..Mãi đến thập niên 30, chùa mới dựng cổng tam quan. Năm Bảo Đại thứ 5 (1930), Hòa Thượng Tôn Bảo được chính quyền quan tòa công nhận lý bạ chùa Vu Lan, từ đây ngài chính thức đăng ngôi vị Trụ trì. Từ đó ngài thế độ đồ chúng, truyền bá giáo lý. Mùa thu năm Bảo Đại thứ 9 (1934), chùa Vu Lan được triều đình khâm ban “Sắc Tứ”. Giữa thập niên 40, Hòa thượng Tôn Bảo được triều đình cải bổ làm Tăng Cang cai quản hai ngôi Quốc tự Tam Thai - Linh Ứng. Năm Nhâm Thìn (1952), Hòa Thượng Thích Tôn Bảo đúc quả hồng chung nặng 210 cân và quả chuông gia trì, đặt dưới sự chứng minh của Hòa Thượng Tăng Cang Thiện Quả, hộ chú bởi cư sỹ Trần Ngọc Lan. Năm Đinh Mùi (1967), chùa Vu Lan được trùng tu theo lối kiến trúc chùa hội. Năm 1973, Hòa Thượng Thích Tôn Bảo chú tạo pho tượng Phật A Di Đà bằng đồng cao 1,2 m. Năm Giáp Dần (1974), Hòa Thượng Thích Tôn Bảo viên tịch. Đệ tử ngài là Hòa Thượng Thích Như Nghĩa kế vị trụ trì. Năm 1995, HT Thích Như Nghĩa trùng tu lại tam quan, hậu tổ và xây dựng tượng Quan Âm lộ thiên. Năm 2010, Hòa thượng Thích Như Nghĩa vì tuổi cao, Hòa Thượng Thích Như Thọ cùng môn phái Chúc Thánh đứng ra trùng tu ngôi Già Lam Vu Lan huy hoàng như ngày hôm nay, xây cổng tam quan mới, chú tạo Hồng chung nặng 1 tấn, đúc tượng Phật Thích Ca và nhị vị Bồ Tát Văn Thù, Phổ Hiền. Năm 2012, Đại Lão Hòa Thượng Thích Như Nghĩa viên tịch. Năm 2013, Hòa Thượng Thích Như Thọ được Giáo Hội chuẩn y vào ngôi trụ trì Tổ Đình Vu Lan. Hiện nay, Hòa thượng Thích Như Thọ vẫn luôn thao thức trùng tu thêm tiền đường, nhà giảng, và tu bổ lại vườn tháp Tổ. Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan là một trong những nơi quy tụ của chư tôn đức môn phái Lâm Tế Chúc Thánh trong các dịp lễ húy kỵ, hội họp, an cư tự tứ… Tuy được hình thành khá trễ và trong giai đoạn đất nước rơi vào tình trạng khủng hoảng, nhưng đây là một nơi lưu dấu biết bao tinh hoa về giá trị thẩm mỹ, tính độc đáo về nghệ thuật mang đậm sự kết hợp giữa phong kiến và đầu phong trào chấn hưng Phật Giáo.

Phái đoàn tổ đình Sắc Tứ Vu Lan thành kính cúng dường các trường hạ tại Hội An.Tổ đình Chúc Thánh Tổ đình Phước Lâm Tổ đ...
19/08/2026

Phái đoàn tổ đình Sắc Tứ Vu Lan thành kính cúng dường các trường hạ tại Hội An.

Tổ đình Chúc Thánh
Tổ đình Phước Lâm
Tổ đình Vạn Đức
Chùa Viên Giác
Chùa Bảo Thắng
Thiền tự Bảo Châu

18/08/2026
Thành kính đảnh lễ húy kỵ lần thứ 64 Đại lão Hòa thượng Tăng Cang thượng Thiện hạ Quả viên tịch (6/7 al).Đức Tăng Cang T...
17/08/2026

Thành kính đảnh lễ húy kỵ lần thứ 64 Đại lão Hòa thượng Tăng Cang thượng Thiện hạ Quả viên tịch (6/7 al).

Đức Tăng Cang Thiện Quả là một trong những bậc long tượng của Phật giáo miền Trung, có sức ảnh hưởng trong phong trào chấn hưng Phật Giáo. Đệ tử Ngài là các bậc danh Tăng ưu tú, đóng góp rất lớn cho ngôi nhà Phật Giáo VN

Được biết HT từng tham gia vào các đàn thí giới như:
Năm 1924, cung thỉnh đệ thất tôn chứng A Xà Lê tại đại giới đàn chùa Từ Hiếu - Huế do Đức Tăng Cang Tâm Tịnh làm đường đầu.
Năm 1928, cung thỉnh đệ nhất tôn chứng A Xà Lê tại đại giới đàn chùa Từ Vân - Đà Nẵng do Đức Tăng Cang Phước Trí làm đường đầu.
Năm 1934, cung thỉnh làm Giáo thọ A Xà lê tại Giới đàn Thạch Sơn - Quảng Ngãi do Đức Tăng Cang Hoằng Thạc làm đường đầu.

Đệ tử Hòa thượng được biết có cả trăm vị nhưng nay nêu các vị tiêu biểu:

HT Thích Trí Nhãn (trụ trì Tổ đình Chúc Thánh)
HT Thích Trí Giác (trụ trì Quốc tự Tam Thai)
HT Thích Trí Thông (trụ trì Nghĩa Trủng cổ tự)
HT Thích Trí Nguyện (trụ trì Tổ đình Vạn Đức)
HT Thích Trí Nghiêm (trụ trì chùa Bửu Đà-SG)
HT Thích Trí Tánh (trụ trì Tổ đình Vạn Đức)
HT Thích Trí Minh (trụ trì chùa Tỉnh hội QN)
HT Thích Như Vạn - Trí Phước (trụ trì Tổ đình Phước Lâm)
HT Thích Như Thọ - Trí Hương (trụ trì Tổ đình Vu Lan)
HT Thích Như Huệ - Trí Thông (trụ trì chùa Pháp Hoa- Úc)
HT Thích Như Từ - Huệ Trí (trụ trì chùa Bửu Đà)
HT Thích Như Đạt - Giác Hoàng (trụ trì chùa Tân Ninh)
HT Thích Như Tín - Huệ Phát (trụ trì Tổ đình Hưng Long-SG)..

Đệ tử y chỉ có:
HT Thích Trí Hữu ( khai sơn Tổ đình Ấn Quang - Saigon, trụ trì Quốc tự Linh Ứng)...

Nam mô Lâm Tế tông tứ thập thế, Chúc Thánh pháp phái đệ thất đại, sung Ngự chế Tam Thai - Linh Ứng nhị tự sắc tứ Tăng Cang, Hoàng gia ân điển Đao điệp, Trùng hưng Sắc tứ Chúc Thánh tổ tự trụ trì, húy thượng Chơn hạ Chứng, tự Đạo Tâm, hiệu Thiện Quả, Dương tánh Giáo thọ A Xà Lê sư thùy sư nhã giám.

Học từ hạnh nguyện quán sát âm thanh thế gian của Bồ tát Quán Thế Âm, ta hiểu rằng lắng nghe không chỉ là nghe âm thanh ...
31/07/2026

Học từ hạnh nguyện quán sát âm thanh thế gian của Bồ tát Quán Thế Âm, ta hiểu rằng lắng nghe không chỉ là nghe âm thanh bằng tai, mà là nghe bằng cả trái tim. Khi biết lắng nghe đúng cách chúng ta vừa có thể tìm sự bình an trong tâm hồn vừa có thể thấu hiểu và xoa dịu nỗi đau của người khác. Hãy bắt đầu thực hành ngay hôm nay! Hãy lắng nghe để yêu thương, và yêu thương để thấu hiểu. Vì đôi khi, chỉ cần một người biết lắng nghe, cũng đủ để làm nơi nương tựa tinh thần cho một ai đó!

Kỷ niệm ngày Bồ Tát Quan Thế Âm thành đạo 19-6al

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT LẦN THỨ 21 CỐ ĐẠI  LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUANG THỂ (3/6/âm lịch)Nguyên Trưởng ban trị sự T...
14/07/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM HÚY NHẬT LẦN THỨ 21 CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH QUANG THỂ (3/6/âm lịch)

Nguyên Trưởng ban trị sự Thành hội Phật giáo TP Đà Nẵng.
Khai sơn chùa Thọ Quang - Đà Nẵng.

I. GIA THẾ:

Cố Hòa Thượng thế danh Đặng Hữu Tường, pháp húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh; nối pháp đời 44 dòng Lâm Tế, thế hệ thứ 10 pháp phái Liễu Quán.

Ngài lâm thế ngày 19 tháng 9 năm Nhâm Tuất (1922) tại làng An Hải, quận III (nay là phường An Hải, quận Sơn Trà), thành phố Đà Nẵng; chánh quán làng Quảng Lăng, xã Điện Nam, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Thân phụ Ngài là cụ ông Đặng Văn Vịnh (tức Nuôi) và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Ớt. Ngài là trưởng nam trong một gia đình có năm anh em gồm ba trai và hai gái.

Năm lên 9 tuổi, thân phụ qua đời, từ đó mẫu thân một mình tần tảo nuôi con. Trong thời gian này, Ngài được mẫu thân gởi đến Thầy Tư Tri (Như Tín) – trụ trì chùa An Hải lúc bấy giờ – nhận cho nhập Chúng tu học.

II. THỜI KỲ XUẤT GIA TU HỌC:

Năm Nhâm Thân (1932), nhân duyên hội ngộ, Ngài chính thức xuất gia với Hòa Thượng Thiện Trí – giám tự chùa Linh Quang tại cố đô Huế và được Bổn Sư cho pháp danh là Nguyên Phước. Lúc bấy giờ Ngài vừa tròn 11 tuổi. Từ đó, dưới sự dẫn dắt của Bổn Sư, đạo phong của Ngài ngày càng tăng trưởng, được Chư Tôn Đức thương mến, pháp lữ đồng học nể vì.

Năm Đinh Sửu (1937), Ngài được Bổn Sư cho theo học lớp Phật học tại Phật Học Đường Báo Quốc – Huế. Đồng khóa với Ngài gồm có các vị đã trở thành các bậc tôn túc sau này như Hòa Thượng Thiên Ân; Hòa Thượng Đức Tâm; Hòa Thượng Thiện Châu; Hòa Thượng Minh Tánh v.v…

Năm Kỷ Mão (1939), Hòa Thượng Bổn Sư ra khai sơn chùa Hiếu Quang nên Ngài theo thầy vừa gánh vác việc kiến tạo ngôi Tam Bảo, vừa tiếp tục theo học ở Phật Học Đường.

III. THỜI KỲ HÀNH ĐẠO:

Năm Giáp Thân (1944), chiến tranh Pháp-Việt lan rộng, Ngài tản cư vào lại Quảng Nam. Tại đây, Ngài vận động thành lập Chi Hội Phật Học Nồi Rang, nay thuộc xã Xuyên Thọ, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Năm Kỷ Sửu (1949), Ngài được Bổn Sư cho thọ Cụ-túc giới tại Đại Giới Đàn Hộ Quốc tổ chức tại Tổ Đình Báo Quốc – Huế do Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết – Hội Chủ Hội Phật Giáo Việt Nam làm Đàn Đầu truyền giới. Cùng thọ giới với Ngài trong giới đàn này có các vị tôn túc sau này như: Hòa Thượng Thích Thiện Siêu, Hòa Thượng Thích Thiện Minh, Hòa Thượng Thích Trí Giác v.v…

Sau khi thọ đại giới, Ngài được Bổn Sư trạch cử làm Trưởng Pháp Tử, ban pháp hiệu Đạt Minh với bài kệ phú pháp:

Nguyên Phước tương thừa liễu đạo tông
Thiện lai Quang Thể khế tâm dung
Đạt Minh diệu chỉ siêu chơn tế
Tục diệm truyền đăng phổ chiếu đồng.

Nghĩa:
Nguyên Phước nối dòng rõ tâm tôn
Lành thay Quang Thể hợp tông môn
Đạt Minh diệu chỉ, siêu chân vọng
Truyền đăng diệu pháp chiếu càn khôn.

Năm Tân Mão (1951), Ngài được Giáo Hội Tăng Già Trung Phần cử trụ trì chùa Pháp Lâm – Đà Nẵng, đến năm Quý Tỵ (1953) Ngài trở ra lại Huế nhập Chúng, an cư tại chùa Báo Quốc.

Năm Giáp Ngọ (1954), Ngài được Bổn Sư cho phép trở vào Quảng Nam trụ tại chùa Linh Ứng – Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng cùng Chư Tăng tổ chức an cư kiết hạ cho Chư Tôn Đức ở Huế và Đà Nẵng. Đồng thời, hưởng ứng phong trào Chấn Hưng Phật Giáo, Ngài tổ chức các khóa học giáo lý tại gia và thành lập các Khuôn Hội Phật Giáo tại các vùng phụ cận. Cũng trong năm này, Ngài được mời làm thành viên Ban Hoằng Pháp của Hội Phật Học Trung Phần, đi thuyết giảng tại Trung Việt. Từ đó, dấu chân Ngài đi khắp các tỉnh miền Trung, tiếng pháp âm của Ngài lan tỏa đến mọi nơi trên quê hương Quảng Nam – Đà Nẵng.

Năm Mậu Tuất (1958), Ngài cùng Chư Tôn Đức thành lập Phật Học Viện Phổ Đà. Đây là cơ sở đào tạo Tăng tài, cũng là trú xứ an cư, bố tát của Chư Tăng thành phố Đà Nẵng từ trước đến hiện nay.

Năm Kỷ Hợi (1959), Ngài khai sơn chùa Thọ Quang tại xã Hòa Thọ, quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng). Sau 3 năm kiến thiết thì chùa hoàn tất và lễ khánh thành được tổ chức vào năm Nhâm Dần (1962). Sau lễ khánh thành, do nhu cầu Phật sự, Ngài được Giáo Hội Tăng Già Trung Phần cử đi trụ trì chùa tỉnh hội Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Năm Quý Mão (1963), nhằm phản đối chính sánh kỳ thị, đàn áp Phật Giáo của nhà đương cuộc; hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo, Ngài lãnh đạo và hướng dẫn Tăng Ni, Tín Đồ Phật Giáo tỉnh Bình Thuận tham gia cuộc vận động cho 5 Nguyện Vọng của Phật Giáo Đồ; đòi hỏi tự do tín ngưỡng – bình đẳng tôn giáo trong tinh thần bất bạo động. Tại Phan Thiết, Ngài là vị lãnh đạo tinh thần tối cao, dấn thân cùng chư Tăng Ni, Phật Tử đấu tranh cho đến khi Pháp Nạn kết thúc vào ngày 1 tháng 11 năm 1963.

Từ năm 1966 đến năm 1975, Ngài được thỉnh cử làm Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất thị xã Đà Nẵng (trong đó bao gồm các vùng thuộc địa dư hành chánh quận Hòa Vang của tỉnh Quảng Nam, phạm vi phụ cận thị xã Đà Nẵng).

Năm Đinh Mùi (1967), Ngài được cung thỉnh làm Giáo Thọ A-xà-lê tại Giới Đàn Sa Si, chùa Long Tuyền – Hội An.

Từ năm Mậu Thân (1968) đến năm Ất Mão (1975), chiến tranh leo thang cao độ, đồng bào từ các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi cùng đổ về Đà Nẵng tỵ nạn rất đông. Ngài đã cùng Chư Tôn Đức Tăng Ni hướng dẫn các tổ chức, hội đoàn Phật Giáo bằng mọi phương tiện tổ chức tiếp cư, tạm cư, cứu trợ vật chất cho đồng bào trong cơn khốn khó; Ngài cùng Chư Tôn Đức cũng thường xuyên thăm viếng, ủy lạo, an ủi để đồng bào được phần nào an ổn đời sống tinh thần.

Năm Canh Tuất (1970), Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất miền Vạn Hạnh tổ chức Đại Giới Đàn Vĩnh Gia tại chùa Phổ Đà – Đà Nẵng, Ngài được cung thỉnh làm Phó Chủ Đàn, Hòa Thượng Thích Tôn Thắng làm Chánh Chủ Đàn. Đây là một Đại Giới Đàn được tổ chức hết sức quy mô với sự hiện diện của các bậc cao tăng lãnh đạo Giáo Hội và sự tham dự của hàng ngàn Giới Tử xuất gia, tại gia toàn quốc.

Năm Ất Mão (1975), sau ngày hòa bình, Hòa Thượng vẫn tiếp tục sứ mệnh lãnh đạo Giáo Hội, hướng dẫn tín đồ tu học.

Năm Bính Thìn (1976), do sự hợp nhất địa lý hành chánh, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín và thị xã Đà Nẵng sáp nhập lại lấy tên là tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng nên hệ thống Giáo Hội 3 tỉnh cũng hợp lại với tên gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng; Hòa Thượng được Tăng Ni, Phật Tử tín nhiệm cung thỉnh đảm nhiệm trọng trách Chánh Đại Diện Phật Giáo tỉnh.

Năm Canh Thân (1980), Ngài được cung thỉnh làm Đệ Thất Tôn Chứng của Đại Giới Đàn Thiện Hòa tổ chức tại chùa Ấn Quang – Sài Gòn.

Năm Giáp Tuất (1994), Ngài được cung thỉnh làm Giáo Thọ A-xà-lê tại Giới Đàn chùa Báo Quốc – Huế.

Năm Bính Tý (1996), Ngài được cung thỉnh làm Đàn Đầu cho Đại Giới Đàn Phước Huệ tại chùa Phổ Đà – Đà Nẵng.

Năm Đinh Sửu (1997), tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng lại tách rời ra hai đơn vị hành chánh: thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Đại Hội Phật Giáo thành phố Đà Nẵng ngày 20 tháng 4 năm 1997 suy cử Ngài làm Trưởng Ban Trị Sự thành phố Đà Nẵng. Ngài đảm nhiệm chức vụ này 2 nhiệm kỳ liền, từ 1997 đến 2007 và đồng thời là thành viên Hội Đồng Chứng Minh, Hội Đồng Trị Sự Trung Ương GHPGVN.

Năm Canh Ngọ (2000), Hòa Thượng Bổn Sư viên tịch, Ngài trở về Huế lo tang lễ báo đáp ơn giáo dưỡng của Ân Sư.

IV. NHỮNG NĂM THÁNG CUỐI ĐỜI HÀNH HOẠT:

Từ năm Nhâm Ngọ (2002), sức khỏe của Hòa Thượng yếu dần nhưng Ngài vẫn gắng sức lo toan mọi Phật sự. Ưu tư lớn nhất của Ngài là ngôi chùa Tỉnh Hội (chùa Pháp Lâm) đang ngày càng xuống cấp mà chưa có điều kiện để trùng tu.

Đầu năm Ất Dậu (2005), biết trước sức khỏe không còn nhiều, Hòa Thượng trở về Huế lần cuối cùng nhân dịp húy kỵ Tổ Phước Hậu và húy kỵ Cố Hòa Thượng Trí Thủ; Ngài đi đảnh lễ, thăm viếng các Tổ đình, bảo tháp và Chư Tôn Thiền Đức Tăng-già.

Sau khi trở về Đà Nẵng, ngày 30 tháng 3 năm Ất Dậu (2005), Ngài lại trở bệnh nặng. Thời gian dần trôi, thân tứ đại của Hòa Thượng cũng phải theo năm tháng thuận theo luật vô thường, Ngài đã xả ly trần thế vào lúc 8 giờ ngày mùng 3 tháng 6 năm Ất Dậu (nhằm ngày 8 tháng 7 năm 2005 DL) tại chùa Thọ Quang – Đà Nẵng, trụ thế 84 năm với 57 hạ lạp.

Hòa Thượng là một trong những vị cao tăng của Phật Giáo Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời hiện tại. Suốt cả cuộc đời hoằng pháp lợi sanh, phục vụ dân tộc và đạo pháp, Ngài luôn tận tụy với việc hoằng dương Chánh Pháp và đào tạo Tăng tài. Trong tất cả mọi Phật sự, Ngài không hề từ nan bất cứ việc nào, dù là trong những giai đoạn cam go, khó khăn nhất của đất nước và của Phật Giáo.

Ngoài ngôi chùa Thọ Quang do Ngài khai sơn, phần lớn các tự viện, các ngôi chùa cơ sở, các niệm Phật đường trong thành phố Đà Nẵng đều được kiến tạo dưới sự chứng minh của Ngài; các Phật sự tạo tượng, đúc chuông… từ thành thị đến thôn quê Ngài đều đến chú nguyện, khuyến tấn, khích lệ.

Hòa Thượng đã dày công xây dựng Phật Giáo tại Đà Nẵng và Quảng Nam ngày càng xương thịnh. Trên 50 năm hành đạo, mà trong đó có đến 30 năm đứng vào cương vị lãnh đạo Tăng Ni, Tín Đồ toàn tỉnh, tuy công việc đa đoan nhưng việc tiếp dẫn hậu côn vẫn luôn được Ngài ưu tiên xem trọng. Vì vậy, hàng đệ tử xuất gia của Ngài đến hiện nay có trên 30 vị Tăng, Ni tiếp bước Bổn Sư, theo chí nguyện của Ngài hành đạo khắp mọi tỉnh, thành. Cuộc đời tu học và hành đạo của Ngài sẽ mãi rạng ngời trong những trang Phật sử Quảng Nam – Đà Nẵng.

Nam mô Lâm Tế Tông tứ thập tứ thế, Thọ Quang đường thượng, húy Nguyên Phước, tự Quang Thể, hiệu Đạt Minh, Hòa thượng giác linh.

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ MINH  (20/5 AL).Thế hệ thứ 8 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.Nguy...
03/07/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT CỐ HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ MINH (20/5 AL).
Thế hệ thứ 8 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Nguyên trụ trì Tổ Đình Từ Đàm - Huế.
Khai sơn chùa Liên Hoa - Đà Nẵng.
Nguyên Chánh thư ký Giáo hội Tăng già Quảng Nam - Đà Nẵng
Nguyên Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN thị xã Đà Nẵng.
Nguyên Giáo thọ sư Phật học viện Phổ Đà.

--=oo0oo=--

Tiểu Sử Cố Hòa Thượng Thích Như Minh (1915 – 1982)

Hòa thượng thế danh Huỳnh Công Thông, sinh năm Ất Mẹo (1915) tại làng Khuê Bắc, xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Nghiêm phụ là cụ ông Huỳnh Công Thôi, pháp danh Như Đắc. Từ mẫu là cụ bà Huỳnh Thị Đó.

Năm lên 3 tuổi, được sự dìu dắt của người bác ruột là Đại sư Huệ Trưởng, ngài giã từ song thân, trong thời kỳ này, ngài được tham học cùng với nhị vị Tăng Cang Từ Trí – Từ Nhẫn tại danh thắng Ngũ Hành. Không lâu, nhị vị tôn túc đều viên tịch.

Sau đó, đến khi trưởng thành, vì cảm mộ đạo phong của Hòa Thượng Tăng Cang Thiện Trung, xin phép xuất gia đầu sư với Tổ Thiện Trung tại Quốc tự Tam Thai – Ngũ Hành Sơn. Tổ thấy ngài căn tánh mẫn duệ, liền chấp thuận nhận ngài làm đệ tử.Vì thiên bẩm thông minh vốn có, Ngài đã thông suốt nhị thời công phu cùng các bộ luật. Lẽ đó, Ngài được Bổn sư cho thọ giới sa di phương trượng, ban pháp danh Như Minh, pháp tự Giải Chánh.

Năm 1935, Ngài đăng đàn thọ cụ túc giới tại đại giới đàn Tổ đình Sắc tứ Tịnh Quang – Quảng Trị do Hòa thượng Ngộ Tánh - Phước Huệ Tăng Cang chùa Báo Quốc làm đường đầu, Hòa thượng Phổ Thoại – Tăng cang chùa Long Tuyền làm Giáo thọ A xà lê, Bổn sư của Ngài làm Tôn Chứng. Sau đó, Ngài được Hòa thượng Bổn sư ấn chứng, phú pháp hiệu là Tánh Tịnh, nối pháp đời thứ 41 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 8 của thiền chi Chúc Thánh.

Vào những năm 1935, Hòa thượng tham học tại Phật học viện Báo Quốc, Tây Thiên – Huế. Cùng khóa với Ngài là các bậc danh tăng ưu tú như HT Thích Thiện Hòa, HT Thích Thiện Hoa, HT Thích Giác Tánh, HT Thích Đồng Chơn... Với bẩm tánh thông minh, cùng sự ân cần tu học, ngài là một trong nhưng học tăng xuất chúng được chư vị Giáo thọ hết mực thương mến. Do đó, Hòa thượng được Tổng hội Phật giáo Trung Phần cử làm trụ trì Tổ đình Từ Đàm vào năm 1939. Sau đó, ngài vân du hóa đạo tại các chốn Tổ đình như Thập Tháp Di Đà, Báo Quốc, Phổ Thiên...

Đến khoảng đầu thập niên 40, Ngài hoàn thành việc tu học tại Tổ đình Tây Thiên, về lại đất Đà Nẵng quê hương để hành đạo. Năm 1941, tại Chùa Từ Tôn – Đà Nẵng, ngài giảng dạy kinh luật cho hàng Tăng ni Phật tử.

Vào tháng 4, năm Ất Dậu (1945), Hòa thượng Thiện Trung viên tịch, Ngài về lại chùa xưa để cư tang Bổn sư, vì các huynh trưởng sớm đã tây quy.

Năm 1954, Giáo hội Tăng già Quảng Nam – Đà Nẵng thỉnh cử ngài làm Chánh Thư ký. Đầu năm 1964, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời, Ngài đảm nhiệm chức vụ Đặc ủy Tăng sự GHPGVNTN thị xã Đà Nẵng.

Năm 1968, Ngài khai sơn chùa Liên Hoa, từ đó cuộc đời ngài đã cống hiến cho chốn già lam Liên Hoa cho đến cuối đời. Không lâu, chùa Liên Hoa chính thức được khánh thành dưới sự chứng minh của Nhị vị Hòa Thượng Thích Tôn Bảo, Thích Tôn Thắng.

Cuối thập niên 60, Ngài thường là Giáo thọ sư cho Phật học viện Phổ Đà do Hòa Thượng Thích Hương Sơn làm giám viện. Tại đây, Ngài đã đào tạo biết bao nhân tài cống hiến cho Phật giáo nước nhà.

Sau năm 1975, Ngài chuyên tâm vào tu trì Tịnh độ, sớm tối hai thời công phu, không màng thế sự. Vào ngày 20, tháng 5, năm Nhâm Tuất (1982), ngài thuận thế vô thường, thâu thần viên tịch. Trụ thế 69 xuân thu,hơn 40 hạ lạp. Tang lễ tổ chức giản đơn theo ý nguyện của Ngài. Nhục thân Hòa thượng được nhập tháp trên núi Ngũ Hành, nơi mà hơn mấy mươi năm trước ngài chính thức cắt đi mái tóc của trần tục, gia nhập vào nếp sống Thiền gia.

Đệ tử nối pháp có: HT Thị Nguyện – Hạnh Chí – Thanh Quang (khai sơn chùa Giác Minh – Đà Nẵng).

Nam mô Lâm tế Chánh tông tứ thập nhất thế, Chúc Thánh Pháp phái đệ bát đại, Nguyên Ngự Chế Tam Thai – Linh Ứng nhị tự môn hạ, Xuân kinh Sắc tứ Ấn Tôn (Từ Đàm) tổ đình trụ trì, Khai sơn Liên Hoa tự tọa chủ, nguyên Phổ Đà Phật học viện giáo thọ sư, sung Việt Nam Phật giáo Thống Nhất giáo hội Đà Nẵng thị xã Tăng sự đặc ủy, húy thượng Như hạ Minh, tự Giải Chánh, hiệu Tánh Tịnh, Huỳnh Công Trưởng Lão Hòa thượng giác linh.

Tư liệu Tổ đình Sắc Tứ Vu Lan.

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT LẦN THỨ 10 CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ HUỆ (19/5 AL).Thế hệ thứ 8 Thiền phái Lâ...
01/07/2026

THÀNH KÍNH TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT LẦN THỨ 10 CỐ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH NHƯ HUỆ (19/5 AL).
Thế hệ thứ 8 Thiền phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Nguyên trụ trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam.
Khai sơn chùa Pháp Hoa - Nam Úc.

--=oo0oo=--

Tiểu sử Cố Hòa thượng Thích Như Huệ (1934-2016)

Hòa Thượng thế danh là Phạm Kim Huệ, sinh năm Giáp Tuất, ngày 02-4-1934 tại làng Cẩm Phô, quận Điện Bàn (nay là thành phố Hội An), tỉnh Quảng Nam, Việt Nam.

Thân phụ của Hòa Thượng là Cụ Ông Phạm Kim Cái pháp danh Như Thế, và Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Di pháp danh Như Kim, đều làm nghề Đông y. Hòa Thượng là con thứ sáu trong gia đình gồm sáu anh chị em. Sinh trưởng trong một gia đình nho học, thâm tín Phật giáo, nên lúc tám tuổi Ngài được gia đình cho vào chùa học đạo.

Năm 1945, lúc mười hai tuổi, Hòa Thượng được Hòa Thượng Bổn sư Thích Thiện Quả, Trụ trì Tổ đình Chúc Thánh, Hội An, Quảng Nam cho thế phát xuất gia và đặt pháp danh là Như Huệ, thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh đời thứ bốn mươi mốt.
Năm 1948, Hòa Thượng được Hòa Thượng Bổn sư truyền Sa di Thập giới có pháp tự là Giải Trí, hiệu Trí Thông.
Năm 1950, do sự khuyến khích và giúp đỡ của Hòa Thượng Thích Trí Giác, Thầy được Hòa Thượng Bổn sư gởi vào Phật Học Đường Nam Việt chùa Ấn Quang nhập chúng tu học.
Năm 1956, Hòa Thượng thọ Tỳ Kheo Giới với Hòa Thượng Hành Trụ tại giới đàn Giác Nguyên (chùa Giác Nguyên Nam Việt).
Sau khi tốt nghiệp lớp cao đẳng Phật Học và các khóa huấn luyện Giảng sư, Trụ trì (Như Lai Sứ giả), Hòa Thượng được cử phục vụ Phật sự tại các nơi:
Năm 1957, do nhu cầu Phật sự, Giáo hội Tăng già Quảng Nam-Đà Nẵng mời Hòa thượng về làm Trụ Trì chùa Cẩm Hà tại Quảng Nam-Đà Nẵng.
Năm 1958, Hòa Thượng Thích Thiện Minh gởi thư mời Hòa Thượng tham gia đoàn Giảng sư Tổng hội Phật giáo Trung phần Việt Nam, phụ trách tỉnh Khánh Hòa (Nha Trang)
Năm 1959, Hòa Thượng Thích Trí Thủ, Trưởng ban Hoằng pháp Tổng hội Phật giáo Trung phần công cử Hòa Thượng làm Trụ Trì chùa Cầu Đất, quận Đơn Dương, tỉnh Tuyên Đức, kiêm Giáo Sư chi nhánh Phật Học Viện Nha Trang tại chùa Linh Sơn, Đà Lạt.
Thập niên 60, với quân hàm Đại úy, Tuyên úy Tiểu khu Quảng Nam, Đặc khu Quảng Đà, và trong quá trình lãnh đạo Phật Giáo Quảng Nam, nhất là trong công cuộc đấu tranh đòi nền Dân chủ cho đất nước vào năm 1966, 1967 (biến động miền Trung), Ngài đã liên hệ mật thiết với các Tướng, Tá Quân Đoàn 1 và các quân binh chủng khác thuộc QLVNCH, với một thời huy hoàng lừng lẫy.
Năm 1961, Hòa Thượng được Tổng hội Phật giáo Việt Nam Trung phần tiến cử nhậm chức Giảng Sư kiêm Trụ Trì chùa Tỉnh hội Phật giáo Kon Tum. Tại đây, Ngài thành lập được hai chi hội Phật giáo Diên Bình, Tri Đạo và một trường Trung-tiểu học Bồ Đề.
Tháng ba năm 1963, vì tình hình đất nước biến đổi và nhu cầu Phật sự cấp bách của Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam, Hòa thượng Thích Trí Quang nhờ giáo sư Cao Tâm Nguyên mang thư lên Kon Tum với nội dung yêu cầu thuyên chuyển Hòa Thượng về lại Quảng Nam hoằng pháp thay thế Hòa thượng Thích Thiện Duyên, để Hòa thượng Thiện Duyên vào làm Hội Trưởng hội Phật giáo Quảng Tín.
Vào tháng 5 năm ấy, Đại lễ Phật Đản tại Huế ngày 08-5-1963 (nhằm 15-4 năm Quí Mão) bị chính quyền đương thời của Tổng Thống Ngô Đình Diệm đàn áp, phong trào tranh đấu của Phật giáo từ đó bùng khởi khắp nơi, Hòa Thượng được Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam mời giữ chức vụ Chủ tịch Ủy Ban Tranh Đấu Bảo Vệ Phật Giáo tỉnh Quảng Nam (lúc đó Hòa Thượng Thích Trí Giác là Chủ Tịch Ủy Ban tranh đấu Phật Giáo Giáo hội Tăng già Quảng Nam, Đà Nẵng).
Năm 1964, tại đại hội Bầu Ban Trị Sự Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam, Hòa Thượng được đề cử vào chức vụ Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Quảng Nam và Ngài đã đắc cử với số phiếu 118/128 đại biểu quận, xã, ấp.
Và cuối năm đó Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo được thành lập với danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tại Quảng Nam, một Đại hội Khoáng đại Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được diễn ra trong bầu không khí hân hoan phấn khởi, Hòa Thượng Như Huệ được chư Tăng, Ni và Phật tử bầu làm Chánh Đại Diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Nam và được Viện trưởng Viện Hóa Đạo ra quyết định thừa nhận và đồng thời bổ nhiệm Ngài giữ chức vụ Giảng sư Viện Hóa Đạo đặc trách tại Quảng Nam. Cũng trong thời gian đó Hòa Thượng còn kiêm nhiệm nhiều chức vụ: Đặc ủy Giáo dục, Chủ tịch Ủy ban Văn hóa Giáo dục, Giám Đốc các trường Trung, Tiểu học Bồ Đề tại Hội An, Điện Bàn, Đức Dục, Duy Xuyên... Quảng Nam, do Tổng vụ Giáo dục bổ nhiệm.
Trong công tác xây dựng cơ sở Phật giáo, Hòa Thượng là sáng lập viên trường Trung-tiểu học Bồ Đề Quảng Nam, nay nhà nước Việt Nam xử dụng và đổi tên là trường Trung học Nguyễn Duy Hiệu.
Hòa Thượng đã vận động vật liệu giúp đỡ cố HT Thích Như Vạn đại trùng tu Tổ đình Phước Lâm xã Cẩm Hà, và xây trường Tiểu học Bồ Đề Xuân Mỹ xã Cẩm Phô tỉnh Quảng Nam; đệ trình và đề nghị Hòa Thượng Thích Minh Châu Tổng Vụ trưởng Giáo dục Phật giáo giúp ngân sách để xây dựng hai trường Tiểu học Bồ Đề cho hai quận Đại Lộc và Duy Xuyên (hai ngôi trường đó nay thành cơ sở hoằng pháp của Giáo hội tại hai quận nầy).
Năm 1975, trong giai đoạn vô cùng khó khăn về mọi mặt của Giáo Hội, Hòa Thượng vẫn được Anh chị em Huynh trưởng và Đoàn sinh Gia đình Phật tử liên tỉnh Quảng Nam, Quảng Tín, Đà Nẵng tín nhiệm cung thỉnh đứng ra lãnh đạo Gia đình Phật tử với chức vụ Đặc ủy Thanh niên kiêm Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Quảng Nam-Đà Nẵng trên hai trăm gia đình với trên hai mươi ngàn đoàn sinh.
Năm 1980, Hòa Thượng vào Sài Gòn rồi vượt biên trên một chiếc thuyền mong manh lênh đênh giữa biển cả, sau 16 ngày mới được tàu Na Uy vớt đưa về Nhật.
Năm 1982, do Thượng Tọa Thích Như Điển giới thiệu Hòa Thượng sang Úc hành đạo; Hội Phật giáo Việt Nam Nam Úc (Hội trưởng lúc đó là Đạo hữu Thiện Liên - Nguyễn văn Tươi) đã bảo lãnh Hòa Thượng về đây với trọng trách lãnh đạo Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc kiêm Trụ Trì chùa Pháp Hoa, Adelaide, và Ngài đã đến nhậm chức vào ngày 03-6-1982. Lúc đó chùa Pháp Hoa còn là một ngôi nhà “cải gia vi tự” , tại số 83 Addison road, Rosewater, S.A 5013.
Khi nghe Hòa Thượng đến lãnh đạo Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc, Hòa Thượng Thích Phước Huệ Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan có viết thư đăng báo chúc mừng và yêu cầu Ngài soạn thảo bản tu chỉnh Hiến Chương, đệ trình Nội Qui Tổng Hội, đồng thời soạn tài liệu giáo lý căn bản và mở khóa Phật Pháp dạy cho Phật tử các tiểu bang.
Năm 1983, tại Đại hội Khoáng đại Tổng hội Phật giáo Việt Nam Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan kỳ I, Hòa Thượng được Đại Hội cử làm Phó Hội Chủ kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp của Tổng Hội.
Cùng năm 1983, sau chuyến hoằng pháp các tiểu bang về lại Nam Úc, Hòa Thượng triệu tập một phiên họp khoáng đại để lấy ý kiến chung về việc mua đất và xây chùa, toàn thể Phật tử rất hân hoan phấn khởi đồng ý thành lập ban vận động, ban tái thiết và cung thỉnh Ngài làm Trưởng ban. Hòa Thượng là người khai sơn ngôi Tân Pháp Hoa Tự ngày nay, gồm có: Chánh Điện, Tổ Đường, Tăng Đường, Pháp Xá, cơ sở nào cũng rộng rãi khang trang đượm sắc thái văn hóa Phật giáo và dân tộc Việt, tọa lạc tại số 20 Butler Avenue, Pennington S.A 5013.
Năm 1986, tại Đại hội Khoáng đại kỳ IV, toàn Ban Trị Sự Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc nhất trí chuyển giao sự lãnh đạo Phật giáo cho Giáo hội và cung thỉnh Hòa Thượng làm Hội trưởng Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc
Năm 1987, tại đại hội khoáng đại Thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan, Hòa Thượng được Đại Hội cung cử giữ chức vụ Phó Viện Trưởng Viện Hoằng Đạo, kiêm Tổng Vụ Trưởng Tổng vụ Hoằng Pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan.
Năm 1989, Đại hội Khoáng đại kỳ V, Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc đổi danh xưng Hội Phật Giáo Việt Nam Nam Úc thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Nam Úc và Hòa Thượng được cung thỉnh làm Giáo Hội Trưởng.
Ngày 27-01-1996 (nhằm ngày Đức Phật thành đạo mùng 8 tháng 12 năm Ất Hợi) Ngài được Giáo hội suy tôn lên ngôi Hòa Thượng A Xà Lê.
Hòa Thượng có nhiều đệ tử xuất gia đang lãnh đạo hoặc đang tu học tại các tự viện, học viện ở Việt Nam như: Quí Hòa Thượng Thích Hạnh Đức, Hòa Thượng Thích Hạnh Thiện, Hòa Thượng Thích Hạnh Niệm, Đại Đức Thích Hạnh Ngộ, Ni trưởng Thích Nữ Thị Minh (Khiết Minh), Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Khương (Huệ An), Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Tịnh, Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Ngọc, Ni trưởng Thích Nữ Hạnh Phước....
Năm 1999, tại Đại Hội Khoáng Đại kỳ VIII Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tổ chức tại Hoa Kỳ, Hòa Thượng được cung cử giữ chức vụ Đại Diện Viện Hóa Đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Úc châu và Tân Tây Lan.
Tháng 9 năm 1999, tại đại hội Thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan nhiệm kỳ đầu (1999-2003) tổ chức tại Sydney, Hòa Thượng cũng được Đại Hội cung thỉnh giữ chức vụ Hội chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại Úc Đại Lợi -Tân Tây Lan.
Năm 2000, Hòa Thượng phát nguyện đứng ra tổ chức mùa An cư Kiết hạ đầu tiên cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Hải ngoại Úc Đại Lợi - Tân Tây Lan, và đây cũng là mùa An cư Kiết hạ lịch sử đầu tiên của Phật giáo Việt Nam trên nước Úc và Tân Tây Lan nói chung, hơn ba mươi chư Tăng, Ni các nơi về tham dự, Đạo Tràng rất trang nghiêm, thanh tịnh và an lạc.
Năm 2003, Hòa thượng giao chức vụ Trụ Trì cho ĐĐ Thích Viên Trí, và Hòa thượng làm Phượng Trượng Tổ đình Pháp Hoa.
Năm 2009, do sự chuyển biến Giáo hội các châu và trong nước, nên Hòa thượng cùng chư Tăng, Ni hải ngoại thành lập Văn Phòng Điều Hợp Phật giáo Liên Châu gồm có Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Úc và Canada.

Tháng 5/2015, Đại Hội Khoáng Đại kỳ 5 của Giáo Hội PGVNTNHN UĐL-TTL tổ chức tại Tu Viện Quảng Đức, Melbourne, Hòa thượng xin nghỉ chức vụ Hội Chủ mà Ngài đã lãnh đạo trong suốt thời gian 16 năm qua, và Ngài được đại hội cung thỉnh vào ngôi vị Chứng Minh Đạo Sư của Giáo Hội.

Vào đầu tháng 3 năm 2016, Hòa Thượng cảm thấy pháp thể khiếm an, mặc dù được các hàng đệ tử, các bác sĩ tại Bệnh Viện Queen Elizabeth, Adelaide, Nam Úc, tận tình chăm sóc, nhưng vì tuổi cao sức yếu, Đức Trưởng Lão không qua khỏi, Ngài đã thuận thế vô thường, xả báo thân vào lúc 9 giờ 25 tối ngày thứ Năm, 23/06/2016 (nhằm ngày 19/5/Bính Thân) tại Tổ Đình Pháp Hoa Nam Úc, thế thọ 83 tuổi, 60 hạ lạp.

Suốt cuộc đời, từ khi xuất gia hành đạo cho đến lúc viên tịch, Đức Trưởng Lão Hòa Thượng Thích Như Huệ đã nỗ lực không ngừng trong công việc xiển dương đạo pháp từ quê nhà Quảng Nam quốc nội cho đến hải ngoại. Cuộc đời Ngài là một tấm gương sáng ngời về đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa cho Tăng ni và Phật tử noi theo. Mặc dù sắc thân của Ngài không còn nữa nhưng đạo hạnh và sự nghiệp hoằng hóa của Ngài sẽ mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam ở mai sau.

Nam Mô Tự Lâm Tế Chánh Tông Tứ Thập Nhất Thế, Chúc Thánh Pháp phái đệ bát đại, nguyên Pháp Bảo tự trụ trì, Pháp Hoa Tổ Đình Phương Trượng, Úc Đại Lợi-Tân Tây Lan Việt Nam Thống Nhất Phật Giáo Hội Hải Ngoại Chứng Minh Đạo Sư, húy thượng Như hạ Huệ, tự Giải Trí hiệu Trí Thông Trưởng Lão Hòa Thượng Giác linh.

THÀNH TÂM TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỒNG CHƠN VIÊN TỊCH (14/5 AL)Thế hệ thứ 10 pháp phái Lâm Tế...
27/06/2026

THÀNH TÂM TƯỞNG NIỆM LỄ HÚY NHẬT CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH ĐỒNG CHƠN VIÊN TỊCH (14/5 AL)
Thế hệ thứ 10 pháp phái Lâm Tế Chúc Thánh.

Khai sơn Thiền viện Bát Nhã – Đà Nẵng

---=oo0oo=---

Tiểu sử Đại Lão Hòa Thượng Thích Đồng Chơn
(1914 - 1990)

Hòa thượng thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, sinh giờ Thìn ngày 14 tháng 2 năm Giáp Dần (1914) niên hiệu Duy Tân năm thứ 8 tại thôn Vọng Trì, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Xương và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Hoằng.
Được sinh trưởng trong một gia đình kính tin Tam Bảo nên cậu bé Kỉnh sớm được đến chùa nghe kinh niệm Phật. Với chủng tánh sâu dày, khi vừa tròn 10 tuổi thì Ngài đã phát nguyện xuất gia đầu Phật. Song thân đã đưa Ngài đến chùa Viên Thông, tại núi Ngự Bình xã An Cựu, huyện Hương Thủy lạy Hòa thượng Thị Bình-Diệu Khai xin thế phát. Hòa thượng hoan hỷ nhận làm môn hạ nhập chúng tu học tại ngôi tổ đình lịch sử của Phật giáo Thừa Thiên-Huế.
Sau một thời gian dài hành điệu, với bổn tánh cần mẫn hiền hòa Ngài rất được Bổn sư yêu mến. Vào tháng 10 năm Giáp Tuất, Ngài được Hòa thượng bổn sư cho thọ Sa Di giới với pháp danh Đồng Chơn, tự Thông Niệm, kế tiếp dòng pháp Lâm Tế đời 43 và thế hệ thứ 10 pháp phái Chúc Thánh.
Sinh ra và trưởng thành trong giai đoạn đất nước bị xâm lăng, lòng người ly tán. Lại nữa, Ngài sống gần chốn kinh kỳ chứng kiến biết bao sự thạnh suy hưng phế của hoàng triều nhà Nguyễn. Năm Ất Dậu (1945), vua Bảo Đại thoái vị, chính quyền cách mạng chấp chính v.v… Với những biến cố xảy ra liên tục, Ngài đã xin Bổn sư được vân du hành đạo.
Năm Nhâm Ngọ (1942), Hòa thượng vào Quảng Nam và được Tổng Hội Phật Giáo Trung Phần cử làm trụ trì chùa Pháp Bảo-Hội An. Tại khu phố nhỏ cổ kính này, Ngài gặp Hòa thượng Phổ Thoại-tổ khai sơn chùa Long Tuyền, cảm mộ đạo phong của Tổ, Ngài đến cầu pháp và được ban pháp hiệu là Long Hưng.
Năm Đinh Hợi (1947), người Pháp quay lại tái chiếm Việt Nam. Hưởng ứng phong trào tiêu thổ kháng chiến của Việt Minh phát động, Ngài đã thỉnh tượng Phật đồng và đại hồng chung theo dòng người tản cư lên làng Phú Đa, Bến Dầu. Sau đó, xét thấy cuộc kháng chiến còn trường kỳ nên Ủy Ban Kháng Chiến đã quyết định để những người già yếu và không đủ khả năng chiến đấu trở về vùng Pháp chiếm để sinh sống. Một thân một mình, Ngài lại thỉnh tượng Phật và đại hồng chung về lại chùa xưa vào mùa thu năm Kỷ Sửu (1949). Bấy giờ, chùa Tỉnh Hội (nay là chùa Pháp Bảo-Hội An) bị chiến tranh tàn phá cháy sém một góc, hai năm sau mới trùng tu lại.
Vào ngày 14 tháng 8 năm Kỷ Sửu (1949), Ngài chính thức thọ Cụ Túc giới tại giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc-Huế do Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hòa thượng Đàn đầu truyền giới. Cùng thọ giới với Ngài còn có Hòa thượng Thích Trí Giác, Hòa thượng Thích Quang Thể, Hòa thượng Thích Minh Châu,...
Sau khi thọ đại giới, Ngài được Giáo Hội Tăng Già Quảng Nam Đà Nẵng cử làm trụ trì chùa Bảo Thắng. Tại nơi đây, Ngài tận tâm xây dựng ngôi Tam Bảo nên Bảo Thắng dần dần trở thành một ngôi chùa hiện hữu sinh động trong khu phố cổ bên dòng sông Hòai hiền dịu.
Năm Đinh Dậu (1957), thể theo yêu cầu của anh Ngài là Hòa thượng Thích Chơn Không (Nguyễn Văn Tùy)-khai sơn Thiền Viện Bát Nhã, Ngài ra đảm nhiệm trụ trì chùa Bát Nhã tại thị xã Đà Nẵng, chùa Bảo Thắng được Giáo Hội cử Sư bà Đàm Minh về làm trụ trì để phát triển Ni bộ tại Quảng Nam. Từ đây, đạo hữu Phật tử dần dần quy tụ về chùa Bát Nhã tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài.
Năm Quý Mão (1963), Phật giáo Việt Nam bị nạn kỳ thị của chính quyền Ngô Đình Diệm, khắp nơi phong trào tranh đấu dâng lên mạnh mẽ. Tại thị xã Đà Nẵng, Phật giáo đồ hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo xuống đường tranh đấu cho 5 nguyện vọng chính đáng của Phật giáo. Mùa tranh đấu này, Hòa thượng tham gia tích cực dưới sự lãnh đạo của chư Hòa thượng Thích Tôn Bảo, Thích Tôn Thắng, Thích Hương Sơn v.v….Có lần Ngài xin Ủy ban tranh đấu cho Ngài được tự thiêu để cúng dường chư Phật và bảo vệ đạo pháp, nhưng không được chấp thuận.
Trong sự tu học, Ngài cảm nhận sự màu nhiệm của đức Bồ tát Quan Thế Âm, đồng thời hình ảnh cứu khổ của Bồ tát gần gũi dễ đưa người đến với đạo. Vì thế, Ngài quyết định tôn tạo một bức tượng Quan Thế Âm tôn trí trong khuôn viên chùa Bát Nhã để tín đồ lễ bái cầu nguyện. Vào ngày 11 tháng 2 năm Quý Mão (1963), Ngài đặt đá xây dựng tượng đài Quan Thế Âm lộ thiên dưới sự chứng minh của nhị vị Hòa thượng Thích Tôn Bảo và Thích Tôn Thắng cùng chư Tăng Quảng Nam Đà Nẵng. Công trình xây dựng kéo dài gần 1 năm và lễ an vị được tổ chức vào ngày vía Quan Âm 19 tháng 9 cùng năm. Và ngày nay, tượng Bồ tát Quan Thế Âm tại thiền viện Bát Nhã là một trong những tôn tượng đẹp và linh ứng mầu nhiệm nhất tại thành phố Đà Nẵng.
Năm Canh Tuất (1970), Ngài được cung thỉnh làm Tả Giám Đàn cho đại giới đàn Vĩnh Gia do Hòa thượng Thích Giác Nhiên-đệ nhị Tăng thống GHPGVNTN làm Đàn đầu.
Năm Tân Hợi (1971), nhận thấy ngôi chùa Bát Nhã đã xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu tu học của chư Tăng và tín đồ Phật tử nên Ngài phát nguyện đại trùng tu toàn bộ. Công trình đang xây dựng dở dang thì đất nước thống nhất vào mùa xuân năm 1975. Trong giai đoạn giao thời còn rất nhiều khó khăn về mọi mặt, nhưng với tâm nguyện và ý chí kiên định, Ngài đã vượt thắng tất cả để công việc trùng tu được hoàn tất vào năm 1983. Công trình tái thiết chùa Bát Nhã với kiến trúc 1 tầng lầu làm chánh điện và tầng trệt làm nhà giảng đã được tổ chức khánh thành trọng thể vào ngày 15 tháng 9 năm Quý Hợi (20/10/1983).
Sau khi công trình trùng tu hoàn tất, Ngài chuyên tâm tu niệm, sáng tối hai thời kinh kệ cầu nguyện quốc thái dân an. Lần lần, môn đệ tín đồ quy tụ khiến cho chốn Già lam Bát Nhã ngày càng hưng thịnh.
Thành, trụ, hoại, không là định luật xưa nay vẫn vậy, Hòa thượng đã thuận theo quy luật ấy, giã từ tứ chúng vào lúc 0 giờ ngày 15 tháng 5 năm Canh Ngọ (1990), hưởng thọ 77 xuân thu và 40 mùa hạ an cư kiết giới. Bảo tháp được kiến tạo trong khuôn viên tổ đình Phước Lâm-Hội An.

Nam mô Lâm tế chánh tông tứ thập tam thế, Chúc Thánh Pháp phái đệ thập đại, Xuân Kinh Viên Thông, Hội An Sắc Tứ Long Tuyền nhị tổ đình môn hạ, Khai Sơn Bát Nhã Thiền Viện viện chủ, húy thượng Đồng hạ Chơn, tự Thông Niệm, hiệu Long Hưng, Nguyễn Công Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh.

Tư liệu Tổ đình Sắc Tứ Vu Lan

Address

Da Nang

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺 posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Contact The Place Of Worship

Send a message to Tổ Đình Sắc Tứ Vu Lan - Đà Nẵng 敕賜盂蘭寺:

Shortcuts

Share