Thiền viện Giác Tuệ

Thiền viện Giác Tuệ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Thiền viện Giác Tuệ, Religious organisation, Binh Chau.

DÂNG Y KAṬHINA THIỀN VIỆN GIÁC TUỆ🙏 Idaṁ me puññaṁ āsavakkhayāvahaṁ hontu.Mong cho phước báu của chúng tôi ...
18/11/2021

DÂNG Y KAṬHINA THIỀN VIỆN GIÁC TUỆ

🙏 Idaṁ me puññaṁ āsavakkhayāvahaṁ hontu.
Mong cho phước báu của chúng tôi sẽ đem lại sự đoạn tận các lậu hoặc.

🙏 Idaṁ me danaṁ maggaphalañānassa paccayo hontu.
Mong cho cúng dường của chúng tôi sẽ là duyên lành cho sự thành đạt Đạo, Quả.

🙏 Imaṁ no puññaṃ mātāpituācariyañatimittasamūhānaṃ dema.
Chúng tôi xin hồi hướng phước báu của chúng tôi đến với cha mẹ, thầy tổ, quyến thuộc, bạn bè.

🙏 Imaṁ no puñña bhāgaṁ sabbasattānaṁ dema.
Chúng tôi xin hồi hướng phước báu đến tất cả chúng sanh.

🙏 Sabbe sattā sukhitā hontu.
Mong tất cả chúng sanh mạnh khỏe và an vui.

Sādhu! Sādhu ! Lành thay !🙏🙏🙏

Lễ xuất gia và truyền giới cho tân Tu nữ và Sadi 01/10/ Tân Sửu (05/11/2021). Sādhu! Sādhu! Sādhu!
05/11/2021

Lễ xuất gia và truyền giới cho tân Tu nữ và Sadi 01/10/ Tân Sửu (05/11/2021).

Sādhu! Sādhu! Sādhu!

THÔNG BÁO CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI LỄ DÂNG Y KAṬHINA PL.2565 – DL.2021 TẠI THIỀN VIỆN GIÁC TUỆ(Thứ năm, 18/11/2021 – 14/10/Tân S...
01/11/2021

THÔNG BÁO
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI LỄ DÂNG Y KAṬHINA
PL.2565 – DL.2021 TẠI THIỀN VIỆN GIÁC TUỆ
(Thứ năm, 18/11/2021 – 14/10/Tân Sửu)

Lưu ý:
- Quý vị tới chùa tham dự Lễ tuân thủ nghiêm túc yêu cầu 5K của Chính phủ và quy định của Tỉnh.

07/10/2021

NIẾT-BÀN KHÔNG Ở ĐÂU CẢ!

ARAHAṂ SAMMĀ SAMBUDDHO👏🧎‍♂️

☸KINH MI TIÊN VẤN ĐÁP. (MILINDAPAÑHA)

- Bây giờ chúng ta trở lại đề tài niết-bàn! Đại đức nói rằng có niết-bàn và trẫm cũng tin như thế - Nhưng nó ở đâu đại đức? Nó ở đông, tây, nam, bắc, thượng, hạ, trung?

- Ở một nơi nào đó, một chỗ nào đó thì không phải niết-bàn, tâu đại vương!

- Thế là đã rõ!

- Đại vương rõ sao ạ?

- Thưa, rõ là không có niết-bàn; niết-bàn chỉ là hư vô, không tưởng! Niết-bàn đã không có thì làm gì có chuyện tỏ rõ niết-bàn, tỏ ngộ niết-bàn? Và lại càng không có cái gọi là an trú niết-bàn? Tại sao lại như thế? Vì khái niệm “trú” là gì đại đức biết chăng? Trú có nghĩa là phải có một địa cư, một vùng đất, một nơi chốn, một miền, một xứ, một cõi, một cảnh... để ở đấy, nương gá đấy, trụ ở đấy! Ví dụ như người ta nói rằng, ruộng là nơi trú của rất nhiều chủng loại lúa: lúa Sālī, lúa thơm, lúa ngắn ngày, lúa dài ngày... Ví như người ta nói biển là nơi trú của vô lượng loài thủy tộc, vô lượng trân châu, bảo ngọc... Ví như quả đất làm nơi nương trú của người, vật, chim muông, cây cỏ...

- Vậy thì nếu niết-bàn không có một chỗ nào cả - thì chữ “trú” này không được thành lập, trú không được thành lập thì tỏ rõ, tỏ ngộ niết-bàn cũng không được thành lập; tỏ rõ, tỏ ngộ niết-bàn không được thành lập thì người chứng đạt niết-bàn cũng không thành lập? Vậy niết-bàn ấy chỉ là khoảng không, không có gì cả. Tất cả không! Thưa đại đức.

- Đại đức Na-tiên nói:

- Thật là hùng hồn! Tuy nhiên, tâu đại vương! Có một chỗ nào đó, dù là “khoảng trống không” để niết-bàn trú ở đấy cũng không được. Niết-bàn là pháp vô vi, xa lìa hữu vi thì làm sao có chỗ trú được? Ví như “lửa” có chỗ trú không, hở đại đức? Đại vương có thể chỉ cho bần tăng thấy rõ lửa nó ở hướng đông, tây, nam, bắc, chỗ này, chỗ kia không?

- Không thể chỉ được!

- Vậy là lửa không có rồi. Chính đại vương nói đấy nhé!

- Không, lửa có. Tuy lửa không ở chỗ nào, không thể chỉ được; nhưng ta lấy hai thanh gỗ cọ xát vào nhau thì lửa sẽ hiện ra, thưa đại đức!

- Cũng vậy, tâu đại vương! Niết-bàn tuy không ở chỗ nào cả, không thể chỉ được; nhưng khi hành giả quan sát thấy rõ sự sanh diệt của pháp hành (Sankhāra) thì niết-bàn sẽ hiện ra, tâu đại vương!

- Có lý lắm, nhưng cũng không thể thuyết phục được trẫm, tại sao? Lửa là pháp hữu vi, là điều kiện sanh, do nhân duyên sanh; trong lúc niết-bàn là pháp vô vi, không có điều kiện, không bị chi phối bởi định luật nhân quả. Đem lửa mà ví dụ cho niết-bàn, đại đức có thấy mình rơi vào luận thuyết của ngoại đạo tà giáo chăng?

- Hay lắm! Thật ra, phải từ ví dụ này để hiểu chuyện khác. Đại vương đã không hiểu lại còn bắt bẻ bần tăng rất hợp lý nữa. Vậy ta có thể tìm ví dụ khác nhé!

- Vâng!

- Đại vương có biết đức Chuyển luân Thánh vương có bảy loại ngọc, là: bánh xe ngọc, voi ngọc, ngựa ngọc, māṇi ngọc, nữ ngọc, gia chủ ngọc, tướng quân ngọc không?

- Thưa, có biết từ kinh điển, từ truyền thuyết.

- Trước khi bảy loại ngọc vi diệu ấy hiện đến do phước báu của đức Chuyển luân thì nó ở đâu?

- Không biết nó ở đâu!

- Vậy chắc nó không có rồi.

- Nó có đấy, thưa đại đức! Khi một vị vua tài đức vô song, phước báu cao quý không thể nghĩ nghì - thì bảy thứ ngọc vi diệu ấy đồng hiện đến, như là chứng cứ tôn xưng vị vua ấy thành đức Chuyển luân Thánh vương!

- Cũng tương tự thế, đại vương! Khi quán chiếu phát hành (Sankhāra), thấy rõ pháp hành là sanh diệt; pháp hành là vô thường, khổ não, vô ngã; pháp hành là bất tịnh, là sầu bi, khổ ưu, phiền não, lúc ấy niết-bàn cũng tự hiện ra. Nó không phải là một chỗ nào đó để mà đến đâu, tâu đại vương!

- Chí lý lắm! Nhưng nếu đi sâu vào lĩnh vực luận lý, thì luận cứ của đại đức vẫn chưa trôi, vẫn còn dính mắc ở một chỗ, đại đức có biết không?

- Xin cho nghe, ấy là chỗ nào?

- Là cái chỗ mà từ đó niết-bàn hiện ra! Ví như đức vua có tài đức, có phước báu vô song; chính từ “địa vị” ấy, “chỗ ấy” thì bảy loại ngọc báu mới hiện ra. Trong trường hợp niết-bàn hiện ra, thì địa vị ấy, cái chỗ ấy là cái gì hở đại đức?

- Câu hỏi vi tế lắm, thâm sâu lắm! Tâu đại vương! Đại vị ấy, chỗ ấy có - đó chính là giới định tuệ! Bất cứ hành giả nào nếu giới thanh tịnh, định thanh tịnh, tuệ thanh tịnh; kiên trú vững chắc vào giới định tuệ thanh tịnh ấy, địa vị ấy, chỗ ấy - thì niết-bàn sẽ hiện ra; không kể người ấy ở đâu, trú xứ nào!

- Bắt đầu tỏ lộ rồi đấy, thưa đại đức! Ngài hãy bi mẫn cho nghe tiếp.

- Tâu, vâng! Nhưng đại vương đã thông suốt chỗ “địa vị” ấy rồi chứ? Đã “trôi” điều ấy rồi chứ?

- Đức vua Mi-lan-đà vui vẻ:

- Trẫm nhận tội rồi, đừng nên trả đũa nữa, đại đức.

- Ồ! Vậy thì ta tiếp tục.

- Thưa vâng!

- Đại vương! Bất cứ ai kiên trú vững chắc nơi giới định tuệ rồi, người ấy sẽ tỏ lộ niết-bàn giống nhau, chẳng hề sai khác!

- Giống nhau như thế nào hở đại đức?

- Giống nhau như “hư không”, đại vương! Ví như có người trú trong rừng Sakāya thấy được hư không, người trú trong quốc độ Alasandana..., quốc độ Kāsīkosala, quốc độ Kasinara..., quốc độ Ganchāra... cõi trời Phạm Thiên, tầng trời tịnh cư... thấy được hư không! Những hư không kia giống nhau như thế nào thì niết-bàn sẽ giống nhau y như thế đó, đại vương!

- Trẫm hiểu rồi.

- Chúng lại còn giống nhau như “phương đông” nữa, đại vương! Tất cả chúng sanh ở bất cứ cảnh giới nào, xa gần, cao thấp khác nhau - nhưng phương đông mà chúng nhìn thấy, đều giống nhau, tâu đại vương!

- Đại đức đã dựng đứng, đã nêu cao cây cờ Pháp làm cho trẫm khả dĩ cắt đứt được sự nghi ngờ về “trú xứ” của niết-bàn. Trẫm rất hoan hỷ vậy.

✅DỨT BÀI 175: NIẾT-BÀN KHÔNG Ở ĐÂU CẢ!).

👉🏻DỊCH GIẢ:
HÒA THƯỢNG GIỚI NGHIÊM👏)(ThītasīlaMahāthera)
👉🏻Hiệu Chính - TỲ KHEO GIỚI ĐỨC👏).

TẠI SAO TU NỮ MYANMAR MẶC Y HỒNG ?! Vào thế kỷ thứ 10 Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravåda) trở lại trên đất nước Myanmar và...
27/09/2021

TẠI SAO TU NỮ MYANMAR MẶC Y HỒNG ?!

Vào thế kỷ thứ 10 Phật giáo Nguyên Thuỷ (Theravåda) trở lại trên đất nước Myanmar và được phát triển, tồn tại cho tới ngày nay. Từ thời điểm đó không còn Tăng đoàn Tỳ khưu ni, nên chỉ có người nữ xuất gia giữ 10 giới và mặc y màu trắng. Đến những năm thế kỷ 18, đặc biệt vào triều đại của vua Mindon, tu nữ cũng được học giáo Pháp rất căn bản và chuyên sâu như chư Tăng. Đồng thời tu nữ cũng được trọng dụng và được mời vào cung để truyền dạy giáo Pháp cho hoàng hậu, các công chúa và con gái của các quan trong triều tương đương như như Tăng được vua thỉnh mời thuyết Pháp hay luận bàn.

Thời điểm đó nổi bật nhất trong giới tu nữ có Sayalay Daw Mei-gyi, rất giỏi về Kinh tạng và Vi diệu Pháp. Người có sáng kiến chuyển đổi y của tu nữ từ màu trắng sang màu hồng-vàng, và được vua Mindon chấp nhận. Từ đó đến nay màu y của tu nữ tại Myanmar có màu hồng thường dành cho các tu nữ thọ 8 giới trong các chùa Pháp học là chủ yếu. Màu nâu đối với tu nữ trong các trường thiền như Pa-auk, Mogok, giữ 10 giới. Nhưng đối với các tu nữ của trường thiền Paṇḍitarāma thì vẫn giữ màu hồng-vàng (nhưng vẫn được quy vào nhóm màu hồng). Sau kỳ kết tập Tam Tạng lần thứ 6, chính phủ Myanmar có quyết định chính thức lấy màu hồng (như các tu nữ ở Sagaing đang dùng) làm màu y chính thức của tu nữ Theravāda Myanmar.

Thời trước tu nữ Myanmar thường được gọi là "Ti-la-shin" - "người có nguyện giữ giới". Ngày này vẫn còn một vùng vẫn gọi như vậy, như Shan state, hay Ayewadi division, Rakkhine, Mon state.. Lý do mà Sayagyi Daw Mei-gyi muốn đổi từ màu trắng sang màu hồng-vàng vì thời đó cư sĩ khi tới chùa hay vào ngày Uposatha họ cũng dùng y trắng. như vậy rất dễ nhầm với tu nữ. Chỉ khác là có tóc và không có tóc. Nhưng cũng có một số mới xuất gia gieo duyên nên cũng rất ít tóc. Nên để tránh nhầm lẫn, đổi màu y của tu nữ.

***
Sayalay Hemamālā
♥️🙏♥️

**Sự so sánh giữa Ba-la-mật và đại dương**Đại dương dầu mênh mông đến đâu, nó vẫn hữu hạn vì nó có đáy, có bề mặt và bị ...
23/09/2021

**Sự so sánh giữa Ba-la-mật và đại dương**

Đại dương dầu mênh mông đến đâu, nó vẫn hữu hạn vì nó có đáy, có bề mặt và bị những dãy núi Cakkavāla bao bọc chung quanh. Nói cách khác, đại dương của pháp Bố thí Ba-la-mật mà vị Bồ tát đã tích tạo và thực hành viên mãn thì rộng lớn vô lường. Tầm cỡ của nó thật vô hạn. Nói về pháp Bố thí Ba-la-mật, người ta không thể xác định giới hạn những tài sản của cải đã được cho đi, cũng như máu, thịt trong thân, mắt, đầu mà vị Bồ tát đã thí xả đến chúng sanh. Cũng thế người ta không thể nói được giới hạn của những pháp Ba-la-mật khác như Giới Ba-la-mật (sīla-pāramī) chẳng hạn. Như vậy, qua sự so sánh giữa đại dương và các pháp Ba-la-mật, cần lưu ý rằng đại dương có giới hạn về sức chứa dù nó rộng lớn mênh mông, nhưng các pháp Ba-la-mật thì to lớn vô lường.
__________________________
Trích: Đại Phật Sử tập 1.A - Tỳ khưu Minh Huệ

🌼Ba-la-mật: Pali là Paramī.
Mười pháp Ba la mật theo tuần tự:

1- Dānapāramī: Pháp hạnh bố thí Ba la mật,

2- Sīlapāramī: Pháp hạnh giữ giới Ba la mật,

3- Nekkhammapāramī: Pháp hạnh xuất gia Ba la mật,

4- Paññāpāramī: Pháp hạnh trí tuệ Ba la mật,

5- Vīriyapāramī: Pháp hạnh tinh tấn Ba la mật,

6- Khantipāramī: Pháp hạnh nhẫn nại Ba la mật,

7- Saccapāramī: Pháp hạnh chân thật Ba la mật,

8- Adhiṭṭhānapāramī: Pháp hạnh phát nguyện Ba la mật,

9- Mettāpāramī: Pháp hạnh tâm từ Ba la mật,

10- Upekkhāpāramī: Pháp hạnh tâm xả Ba la mật.

🌈 Tại sao có chiêm bao?- Thưa đại đức, hôm nay chúng ta bàn về giấc mộng nhé! Tại sao có người mộng lành, có người mộng ...
15/09/2021

🌈 Tại sao có chiêm bao?

- Thưa đại đức, hôm nay chúng ta bàn về giấc mộng nhé! Tại sao có người mộng lành, có người mộng dữ? Tại sao có người chiêm bao thấy cảnh, người hay vụ việc đã có từ trước? Có người lại chiêm bao thấy cảnh, người hay vụ việc chưa hề có? Lại có người nằm thấy chuyện hạnh phúc, vui tươi; có người nằm thấy chuyện sợ hãi, khiếp đảm? Lại có người thấy một việc mình đã làm, người khác lại thấy việc mình chưa hề làm? Rồi lại còn mộng thấy gần, thấy xa; có kẻ lại thấy chuyện đâu như hằng ức kiếp? Tất cả các loại chiêm bao ấy - nguyên cớ do đâu, đại đức?
- Tâu đại vương! Tất cả các loại chiêm bao ấy đều do từ những lý do sau đây:
1. Thứ nhất, do chất gió (phong đại) trong cơ thể dấy động.
2. Thứ hai, do mật tác động.
3. Thứ ba, do đàm tác động.
4. Thứ tư, do bệnh, nóng (sốt) hay lạnh (hàn) tác động.
5. Thứ năm, do chư thiên, quỷ hay ma tác động.
6. Thứ sáu, những chủng tử có sẵn trong tâm do mình đã tạo tác từ quá khứ.

Trong sáu nguyên nhân kể trên, chỉ có nguyên nhân thứ sáu là thật. Chiêm bao do nhân thứ sáu này tác động là chiêm bao có thật. Còn ngoài ra, các giấc chiêm bao do những nguyên nhân khác đều không thật.

- Ý đại đức muốn nói, chiêm bao có thật này do cảnh, vật, người hay vụ việc mình đã tạo trữ từ trước hiện tồn trong dòng tâm hữu phần (Bhavangacitta) hay sao?
- Tâu, đúng thế! Đúng là nó được tàng trữ trong hữu phần tâm. Tuy nhiên, nói tâm tạo ra nó là không đúng, mà nói nó tự hiện ra cũng không phải.
- Thưa đại đức! Đã bắt đầu khó hiểu rồi đây!
- Không khó đâu, ví dụ là đại vương hiểu ngay. Ví như cái hình và bóng ở trong gương, nói cái gương tạo ra bóng là không được mà nói bóng tự hiện ra cũng không được. Tuy nhiên, muốn có bóng thì phải có hình, hình soi vào gương mới có bóng. Trước đây, chúng ta làm một việc gì đó (hình), việc đó lưu bóng ở trong tâm (gương). Chiêm bao chính là thấy lại cái bóng ấy ở trong gương (bhavangacitta). Đơn giản chỉ có vậy.
- Vâng, trẫm hiểu rồi! Nhưng có khi nào người nằm mộng thấy chiêm bao này là tốt, chiêm bao kia là xấu không, đại đức?
- Người chiêm bao không thể biết chiêm bao ấy xấu hay tốt. Có thể kể lại chiêm bao ấy cho những người đoán mộng nghe, họ có thể biết được. Nó ví như những nốt ruồi đen hay đỏ ở trong cơ thể, chúng ta không thể biết được chúng mọc ở chỗ nào là tốt, chỗ nào là xấu, chỗ nào có tiền tài, chỗ nào nghèo khổ, chỗ nào họa hại, chỗ nào may mắn. Chỉ có những ông thầy tướng pháp mới có thể biết được điều đó, tâu đại vương!
- Thế thì lúc chiêm bao, người ấy ngủ hay thức?
- Ngủ hay thức đều không thể chiêm bao. Nói rõ hơn, ngủ say quá hoặc tỉnh táo quá đều không thể chiêm bao được; chỉ khi nào nửa tỉnh, nửa mê, nghĩa là ngủ mà không say đắm, tỉnh nhưng mà mơ mơ màng màng; chính ở giữa trạng thái ấy, chiêm bao mới xuất hiện.
- Vâng!
- Nói có tính giáo nghĩa, kinh điển, thì khi ngủ say, ngủ thật ngon, tất cả lục căn (mắt, tai, mũi lưỡi, thân, ý) đều đóng cửa, hoàn toàn không hay biết gì về lục trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) bên ngoài. Lúc ấy chỉ còn duy trì sự sống qua sự trôi chảy của hữu phần tâm (bhavangacitta). Ý thức (ý), lúc ấy cũng chìm vào hữu phần tâm này, nên hoàn toàn không hay biết gì cả. Lúc này không thể chiêm bao!

Còn khi ngủ mà giấc ngủ chưa sâu, chưa ngon - thì ý thức lúc ấy chưa chìm vào hữu phần tâm - nên nửa tỉnh, nửa mê! Ngũ căn lúc ấy, nếu bị thế giới ngũ trần tác động mạnh, họ có thể tỉnh lại, hoặc có thể nhận biết! Chính đấy là thế giới mà chiêm bao hiện hữu.

- Đại đức có thể nêu ví dụ chăng?
- Tâu, vâng. Trở lại cái gương soi hồi nãy. Nếu cái gương để ở chỗ tối thì có thể thấy bóng một cách dễ dàng không?
- Không thể.
- Khi ý thức chìm vào dòng hữu phần tâm,như chìm hoàn toàn vào bóng tối, thì ta không thấy bóng; chiêm bao cũng y như thế.
- Vâng!
- Cũng y như có phần đất trên quả địa cầu này, mặt trời không rọi đến được, giấc ngủ sâu không hay biết gì, không thấy gì - là thế!
- Những ai có được giấc ngủ sâu này, đại đức?
- Người vô tâm, vô tư, người mà thế giới ý thức ít làm việc... thường có được giấc ngủ sâu này. Ngoài ra, những người có thiền định, các bậc thánh nhân thường có giấc ngủ ngon lành như thế!
- Còn trạng thái tâm nửa tỉnh nửa mê, nghĩa là đang còn mơ mơ màng màng - tại sao chiêm bao lại xuất hiện?
- Tâu, khi đó, người ấy không còn ghi nhận rõ những hình ảnh thực của ngoại trần; nói cách khác, nó hiện ra nửa thực, nửa hư, mà đa phần hư nhiều hơn thực. Chính trong lúc ấy, những điều được lưu giữ trong ký ức tiền kiếp hoặc được lưu giữ từ quá khứ lại hiện ra, cọng với hình ảnh hư hư thực thực trong hiện tại, chúng tương tác, trộn lẫn... mà làm nên giấc chiêm bao.
- Vâng, thế sao họ lại chiêm bao?
- Giấc chiêm bao có nhiều biểu hiện khác nhau, nhưng đa phần phản ảnh ước mơ thầm kín của chủ nhân. Trong đời sống thường nhật, họ có những nguyện vọng, những ước mơ, những mong muốn không thể thực hiện được. Chính bởi những ràng buộc áo cơm, sự cấm đoán của luân lý, đạo đức xã hội, những thực tế khó khăn không đáp ứng được trong đời sống... mà chúng được tái hiện trong giấc mơ, tâu đại vương!
- Hay lắm, giấc ngủ sâu quá thì không biết gì, tỉnh quá thì giao tiếp với thế giới thường nhật rồi. Vậy chiêm bao chỉ xảy ra ở khoảng giữa hai tình trạng ấy, điều này rất đúng!
- Đại vương đã lãnh hội rất tốt.
- Vâng. Nói tóm lại, khi thức, tâm ý lăng xăng chuyện này chuyện kia nên chiêm bao không thể đến được.
- Đúng vậy. Ví như một tỳ khưu phá hủy chánh mạng thanh tịnh giới, không nuôi mạng chơn chánh, sống thân cận với bạn ác, chuyên hành trược hạnh, rời khỏi sự tinh cần; lười biếng, ham ăn, mê ngủ - thì pháp trợ bồ đề sẽ không bao giờ đến được với họ. Tương tợ như thế, người có làm việc ác hoặc tâm ý lăng xăng, nghĩ ngợi lung tung, hoặc thế giới óc não làm việc nhiều, hoặc lo toan, hoặc mưu tính - thì đêm đêm thường khó ngủ, cứ chiêm bao mộng mị - thật khó khăn để có được giấc ngủ ngon, giấc ngủ sâu, đóng trọn vẹn sáu cửa để cho ý thức được chìm vào hữu phần tâm, tâu đại vương!
- Rất rõ vậy. Và dường như đại đức cố ý phân chia giấc ngủ ra làm ba giai đoạn: đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối?
- Đúng thế!
- Đại đức có thể giảng giãi rõ ràng chăng?
- Vâng. Đoạn đầu là lúc chuyển từ giai đoạn đang thức sang giấc ngủ. Đấy là tâm trạng lờ đờ, mệt mỏi, ngáp, cơ thể mệt nhừ, muốn nằm và muốn ngủ.

Đoạn thứ hai, tuy nằm ngủ mà vẫn còn nhận biết thế giới xung quanh, nghĩa là có ngủ nhưng vẫn còn chút thức, ngủ mà ý thức chưa hoàn toàn đóng cửa.

Giai đoạn cuối là lúc ngủ ngon, ngủ sâu, ý thức chìm hẳn vào dòng Bhavanga!

- Cảm ơn đại đức! Thế trạng thái ngủ chút chút ấy, nói cụ thể là như giấc ngủ của con khỉ, nó làm cho phát sanh chiêm bao. Và rõ ràng sự kiện chiêm bao ấy là không tốt. Vậy người tu hành - ý nói bậc chân tu có tinh cần, có giới hạnh - sẽ đối trị với nó ra sao?
- Câu hỏi hay lắm! Muốn đối trị với nó, cần thiết phải trang bị những thứ khí giới sau đây: tỉnh thức, chánh niệm, kiên trú trong pháp. Khi làm được thế, hành giả không bị chi phối bởi ngoại cảnh bên ngoài và những tư tưởng, ý niệm khởi động bên trong, tâm được an chỉ. Tuy nhiên, từ an chỉ dễ đưa đến nhất hành (ekagggatà) - nhất hành này tương tự như nhập vào dòng bhavanga - vị ấy không nhập vào nhất hành mà quán chiếu để thấy rõ vô thường, khổ não, vô ngã để đắc Thánh quả! Như thế, rõ ràng vị ấy không phải ngủ mà cũng chẳng phải thức, cũng chẳng phải ngủ như giấc ngủ con khỉ , tâu đại vương!
- Khi chánh niệm, tỉnh thức, kiên trú trong pháp, rõ ràng vị ấy đang còn thức mà!
- Tâu, thức, nhưng không như cái thức của phàm nhân là bị chi phối bởi mọi cái ồn ào, phức nhiễu ở xung quanh, nên không thể gọi là thức bình thường được!
- Nếu vị ấy không nhập vào bhavanga, tức là còn đang ở giai đoạn thứ hai - nghĩa là ngủ chút chút như con khỉ - thì rõ là vị ấy sẽ chiêm bao!
- Tuy không nhập vào dòng bhavanga nhưng vị ấy không mơ mơ màng màng, không ngủ chút chút như con khỉ, vì ý thức đã yên lặng, tâm đã an lạc. Do vậy, vị ấy không có chiêm bao, tâu đại vương!
- Thế còn giai đoạn cuối, các vị ấy ngủ ngon, ngủ sâu chứ?
- Dĩ nhiên rồi. Các ngài chánh niệm, tỉnh thức ở giai đoạn một; an lạc, vắng lặng ở giai đoạn hai nên đi vào giấc ngủ ở giai đoạn ba rất dễ dàng!
- Thế có khác giấc ngủ ngon của phàm nhân không?
- Không khác. Nhưng phàm nhân lâu lâu mới có được giấc ngủ ngon như thế, vì họ còn mộng mị, chiêm bao; còn các bậc Thánh nhân bao giờ cũng ngủ ngon và không bao giờ còn chiêm bao nữa!
- Hay thật! Khi thức không phải thức, khi ngủ không phải ngủ, ở chỗ chiêm bao mà không phải chiêm bao; bao giờ cũng an lạc, vắng lặng, ngủ lúc nào cũng ngon - thì thật là hạnh phúc tuyệt vời trên cõi trần này, thưa đại đức!
- Chí phải!

***
🌼🌼🌼
Mi Tiên Vấn Đáp (Milinda Panha)
Dịch giả: Hòa thượng Giới Nghiêm (Maha Thera Thita Silo)
Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính, ấn bản 2003

BỒ TÁT LÀ GÌ?🌸🌸🌸Vị Bồ tát đã được thọ ký rồi thường khởi tâm bi mẫn rộng lớn đối với chúng sanh khi thấy họ không nơi nư...
11/09/2021

BỒ TÁT LÀ GÌ?
🌸🌸🌸
Vị Bồ tát đã được thọ ký rồi thường khởi tâm bi mẫn rộng lớn đối với chúng sanh khi thấy họ không nơi nương tựa trong dòng đời cay nghiệt, chịu nhiều đau khổ cùng cực từ sự sanh, già, bịnh và chết. Từ những cuộc chèn ép tương hại, những trói trăn ngục tù, chúng sanh bị tàn tật, bại liệt, v.v... những gian nan, vất vả trong việc kiếm sống, những đau đớn của chúng sanh trong địa ngục và những cảnh khổ khác. Do tâm bi mẫn rộng lớn, vị Bồ-tát cam tâm chịu đựng đau khổ để cho những kẻ ngu si, mù quáng cắt tay, cắt chân, xẻo mũi, xẻo tai,v.v... và lòng bi mẫn của Ngài đối với họ thật là lâu dài và bền bỉ.

🌷Ngài chịu đựng những đau khổ ấy với tâm bi mẫn như vầy: “Ta sẽ cư xử như thế nào với những kẻ xử tệ với ta? Ta là người có chân lý, người đang cố gắng thực hành viên mãn các pháp Ba-la-mật để giải thoát chúng sanh ra khỏi cái khổ luân hồi. Ôi, vô minh dày đặc! Ôi, ái dục ngất trời! Thật buồn thay cho những chúng sanh ấy. Bị vô minh che mờ và ái dục ngự trị, họ đã phạm những lỗi lầm to lớn đối với người đang cố gắng tìm cách giải thoát họ. Vì họ đã mù quáng gây nên những hành động cực kỳ độc ác, nên những quả khổ đang đón chờ họ.”

🌷Sau khi đã khởi tâm đại bi như vậy đối với chúng sanh, vị ấy cố gắng tìm nhiều phương sách để cứu độ họ và quán xét như vầy: “Bị chìm đắm trong vô minh và ái dục dày đặc, chúng sanh lầm lạc cho rằng cái vô thường là thường tồn, đau khổ là hạnh phúc, vô ngã là hữu ngã và bất lạc là lạc. Ta dùng cách nào để giải thoát cho họ và đưa họ ra khỏi biển khổ mà khởi sanh do một nguyên nhân?”

🌷Trong khi suy xét như vậy, vị Bồ-tát thấy đích thực rằng nhẫn nại (khanti) là phương tiện duy nhất để giải thoát chúng sanh ra khỏi kiếp sống trầm luân. Ngài chẳng hề khởi lên chút sân hận nào đối với những kẻ làm khổ Ngài bằng nhiều cách như chặt tay, xẻo mũi, móc mắt, v.v... Ngài tự nghĩ: “Do quả của những ác nghiệp mà ta đã làm trong quá khứ, bây giờ ta đáng phải lãnh chịu đau khổ. Vì chính ta đã gây nên tội lỗi trong quá khứ nên khổ đau này xứng đáng với ta. Ta là người đã từng phạm sai lầm.” Như vậy vị ấy đã rước tội của kẻ khác lên người của mình.

🌷Vị ấy còn suy nghĩ như vầy: “Chỉ có nhẫn nại, ta mới có thể cứu vớt họ. Nếu ta cư xử quấy với kẻ làm quấy thì ta cũng chẳng khác gì họ. Như thế ta làm sao có thể giải thoát họ ra khỏi những nổi thống khổ của vòng luân hồi? Không bao giờ được. Do đó, dựa vào sức mạnh của pháp Nhẫn nại, là nền tảng của tất cả mọi sức mạnh và bằng pháp Nhẫn nại, ta sẽ tiếp nhận những hành động sái quấy của chúng sanh. Và với pháp Từ bi làm hướng đạo, ta sẽ thực hành viên mãn các pháp Ba-la-mật. Chỉ bằng cách như vậy ta mới có thể chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác. Và sau khi ta chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng giác, ta mới có thể cứu độ tất cả chúng sanh ra khỏi đau khổ mà khởi sanh do một nhân.” Vị ấy đã thấy đúng pháp như thật.

🌷Sau khi đã quan sát như vậy, Bồ-tát thực hành các pháp Ba-la-mật một cách phi thường. Ba-la-mật gồm có 10 pháp căn bản, 10 pháp bậc cao và 10 pháp tối cao, tổng cộng là 30 pháp Ba-la-mật, được gọi chung là những pháp cần thiết cho sự Giác ngộ (Giác ngộ Tư lương - Bodhisambhāra). Sự thực hành các pháp Ba-la-mật xảy ra theo 4 cách tu tập đã được nêu ra ở trên rồi.

----------***----------
Những đức tánh của vị Bồ tát
Trích: Đại Phật Sử - Tập 1.A - Tỳ khưu Minh Huệ

🌈🌈🌈MAY MẮN THAY KIẾP PHẬT XUẤT THẾPhật tử ngày nay được làm người, có đầy đủ các căn, đang ở trong thời kỳ mà giáo pháp ...
06/09/2021

🌈🌈🌈
MAY MẮN THAY KIẾP PHẬT XUẤT THẾ

Phật tử ngày nay được làm người, có đầy đủ các căn, đang ở trong thời kỳ mà giáo pháp của Đức Phật đang hưng thịnh. Họ có được cơ hội hiếm hoi là gặp được thời kỳ Phật xuất thế. Gặp cơ hội hoàng kim như thế, nếu họ không thực hành các pháp tu tập về Giới - Định - Tuệ thì quả thật họ đã đánh mất cơ hội vàng son. Cơ hội tái sanh nhằm tám kiếp không may mắn thì rất nhiều và thường xuyên, nhưng cơ hội tái sanh nhằm thời kỳ giáo pháp của Đức Phật thì rất xa vời và hạn hữu.
Chỉ một lần, trong thời gian dài vô số đại kiếp mới có một vị Phật xuất hiện, và có được kiếp sống nhằm thời kỳ Phật xuất hiện quả thật khó vô cùng.
Hàng Phật tử trong thời kỳ này được hai điều hạnh phúc: một là được sanh vào thời kỳ giáo pháp của Đức Phật đang hưng thịnh trong thế gian và hai là được sanh làm người có chánh kiến. Được ở trong thời kỳ tốt đẹp như thế, người Phật tử cần suy xét nghiêm chỉnh và đúng đắn như vầy: “Bằng cách nào để chúng ta biết được Giáo pháp của Đức Phật? Chúng ta không nên đánh mất thời kỳ vàng son - thời kỳ có Phật xuất hiện. Nếu chúng ta bỏ qua, thời chúng ta sẽ chịu khổ lâu dài trong bốn đọa xứ.”
Được làm người may mắn, gặp được cơ hội hiếm hoi là thời kỳ có Phật xuất hiện (Buddh’ uppāda-navamakhaṇa), hãy ghi nhớ điều suy xét trên. Chúc quý vị thực hành ba chánh pháp Giới (sīla) - Định (samādhi) - Tuệ (pañña) cho đến khi chứng đắc đạo quả A-la-hán.
________________________
Đại Phật Sử 1A – Tỳ Khưu Minh Huệ

PHÚC HÀNH TÔNG🍀🍀🍀Đức Chánh đẳng giác thuyết về nền tảng cách làm phước theo hệ thống nên học tập, gọi là tam phúc hành t...
03/09/2021

PHÚC HÀNH TÔNG
🍀🍀🍀
Đức Chánh đẳng giác thuyết về nền tảng cách làm phước theo hệ thống nên học tập, gọi là tam phúc hành tông (Tipuññakiriyāvatthu). Kế đó, những vị giáo sư chú giải phân tách cho thấy từng điều trong sự mở rộng ý nghĩa ra thành Thập phúc hành tông (Puññakiriyāvatthu) như sau:

Phúc hành tông
(puññakiriyāvatthu) theo phần chánh có 3 điều (như là tam học) tức là:

1. Bố thí (dāna) nghĩa là cách cho, hào phóng, chia sẻ vật dụng làm lợi ích đến cho người nhận và vừa để giảm phiền não nơi tự thân.

2. Trì giới (sīla) nghĩa là sự thu thúc thân, khẩu, ý cho diễn tiến theo nề nếp, hành theo thiện hạnh, có sự liên quan tốt đẹp, giúp đỡ nhau, không ép uổng lấn áp nhau v.v...

3. Tu tiến (bhāvanā) nghĩa là làm cho tâm thiện thường phát sanh đều đều trong căn tánh của mình để an lạc tiến hóa, hay làm cho tâm được huấn luyện phát triển, tuệ tăng trưởng v.v...
Như có đoạn chánh văn được thuyết trong Tiểu bộ kinh, Phật thuyết như vậy, Nhóm ba pháp, phẩm thứ nhì, kinh Nền tảng của việc hành thiện như vầy:

“Vuttañhetaṃ bhagavatā, vuttamarahatāti me sutaṃ –
Tīṇimāni, bhikkhave, puññakiriyavatthūni. Katamāni
tīṇi? Dānamayaṃ puññakiriyavatthu, sīlamayaṃ
puññakiriyavatthu, bhāvanāmayaṃ puññakiriyavatthu
– imāni kho, bhikkhave, tīṇi puññakiriyavatthūnī’’ti.
Etamatthaṃ bhagavā avoca. Tatthetaṃ iti vuccati –
‘‘Puññameva so sikkheyya, āyataggaṃ sukhudrayaṃ;
Dānañca samacariyañca, mettacittañca bhāvaye.
‘‘Ete dhamme bhāvayitvā, tayo sukhasamuddaye;
Abyāpajjhaṃ sukhaṃ lokaṃ, paṇḍito upapajjatī’’ti.
Ayampi attho vutto bhagavatā, iti me sutanti.
Paṭhamaṃ.”

Nghĩa:
“Ðiều này đã được đức Thế Tôn nói đến, đã được bậc Vô sanh nói đến, tôi đã nghe như vầy:
1. “Này các Tỳ kheo, đây là ba nền tảng của hành động phước thiện. Ba nền tảng nào? Nền tảng của hành động phước thiện gồm có bố thí, nền tảng của hành động phước thiện gồm có giới, nền tảng của hành động phước thiện gồm có tu tập (tham thiền). Này các Tỳ kheo, đây là ba nền tảng của hành động phước thiện.”
Đức Thế Tôn đã nói ý nghĩa này. Ở đây, điều này đã được nói như vầy:
2. “Vị ấy nên học tập thuần về phước thiện làm sanh lên an lạc tối cao kéo dài, nên tu tập bố thí, sự thực hành bình lặng, và tâm từ ái.
3. Sau khi tu tập ba pháp làm sanh lên an lạc này, bậc sáng
suốt sanh lên cõi an lạc, không khổ sầu.”
Ý nghĩa này cũng đã được đức Thế Tôn nói đến. Tôi đã nghe như thế.”[1]

[1]. Tỳ-khưu Indacanda dịch Việt.

********
PHÚC HÀNH TÔNG
(PUÑÑAKIRIYAVATTHU)
NỀN TẢNG CỦA HÀNH ĐỘNG PHƯỚC THIỆN

---------------o0o---------------
Biên soạn: Bhikkhu Saddhammajotika Dhammacariya
Việt dịch: Bhikkhu Abhisiddhi – TK. Siêu Thành
Hiệu đính: Ācariya Maggabujjhano – thầy Ngộ Đạo

CHẾT ĐÚNG THỜI VÀ CHẾT KHÔNG ĐÚNG THỜI- Thưa đại đức! Sinh ra trên đời ai cũng phải chết. Nhưng có người lại chết trẻ, c...
31/08/2021

CHẾT ĐÚNG THỜI VÀ CHẾT KHÔNG ĐÚNG THỜI

- Thưa đại đức! Sinh ra trên đời ai cũng phải chết. Nhưng có người lại chết trẻ, có người lại chết già, tại sao như thế?
- Tâu, vì có người chết đúng thời và có người chết không đúng thời!
- Xin đại đức giảng cho.
- Vâng, ví như xoài ra hoa rồi kết trái. Đúng lý ra, đúng thời, đúng tiết, đúng độ thì xoài chín vàng mới rụng. Nhưng đại vương không từng thấy có trái đang non đã rụng, trái còn xanh đã rụng, trái mới hườm hườm đã rụng, hay sao?
- Trẫm có thấy.
- Xoài rụng khi chưa đúng thời có nhiều lý do khác nhau. Có trái do sâu đục, trái do chim mổ, trái do gió thổi mạnh. Gẫm con người sinh ra ở đời cũng như thế nào có khác gì?
- Ý đại đức muốn nói đến các sự chết, nhiều cách chết của con người khi chưa đến tuổi thọ phải không?
- Đúng thế. Con người sống cho đến già, có bệnh, bệnh nhẹ hoặc vô bệnh mà chết, ấy gọi là chết đúng thời. Còn những người do hành trình của nghiệp, tác động của nghiệp, do phản ứng đoạn lìa của nghiệp - mà chết khi chưa hết tuổi thọ - đều gọi là chết phi thời, tâu đại vương!
- Điều ấy nghe thì có lý - nhưng lấy đâu làm mốc, làm căn cứ để biết tuổi thọ của mỗi người là bao nhiêu? Giả dụ đứa bé đang còn trong bụng mẹ mà chết, có thể nói rằng, tuổi thọ của nó chỉ chừng đó thì sao? Tương tự thế, năm tuổi, mười tuổi, hai mươi tuổi mà chết - thì phải được hiểu tuổi thọ ngang chừng đó, nên gọi là chết đúng thời, không được sao? Suy từ luận cứ đó, tất cả mọi người chết ở độ tuổi nào cũng đúng thời cả, chứ không thể có cái gọi là chết phi thời, thưa đại đức!
Đại đức Na tiên mỉm cười:
- Đại vương, những người mà năm tuổi, mười tuổi, hai mươi tuổi... chết... là những người chết thọ nhỉ?
- Không, họ chết yểu!
- Thế những người tám mươi, chín mươi mới chết thì gọi là chết sao nhỉ?
- Gọi là chết thọ!
- Thế là đại vương đã tự xác nhận cái mốc "chết thọ" của đời người là bảy mươi, tám mươi, chín mươi v.v... Vậy chúng ta có thể hiểu rằng, chết đúng thời là chết thọ. Còn tất cả những ai chưa đến tuổi thọ, chết đang còn thanh niên, còn ấu thơ, chết bằng cách này hay cách khác - thì đều gọi là chết phi thời cả, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà cười:
- Không sai được. Thế đại đức có thể tóm lược cho nghe có bao nhiêu cách chết phi thời ấy, ví như trái xoài rụng do sâu đục, do chim mổ, do gió thổi?
Đại đức Na tiên lắc đầu:
- Nhiều lắm, tâu đại vương! Thật là không thể kể hết tất cả những cách, những kiểu, những trường hợp chết vào loại phi thời này. Nó thiên hình vạn trạng. Tuy nhiên, hằng trăm hằng ngàn cách chết phi thời - đều có thể quy về một chữ, đó là nghiệp. Do nhân quả, báo ứng của Nghiệp mà tạo nên phi thời tử, tâu đại vương!
- Vâng, thế đại đức có thể kể cho nghe một số trường hợp tượng trưng được chăng?
- Tâu, có thể được! Bần tăng xin nêu ra đây một số cách chết không đúng thời:
Chết do đói,
Chết do khát,
Chết do rắn cắn,
Chết bởi độc dược,
Chết cháy,
Chết nước,
Chết bởi khí giới v.v...
Ở đây đa phần là nghiệp dữ, nghiệp nặng...! Ngoai trừ chết đói, chết khát xẩy ra từ từ, còn năm cách chết sau, đều là chết dữ tợn, chết có đổ máu, chết bị hành thân hoại thể, chết tức khắc - nên người đời thường gọi là chết bất đắc kỳ tử đó, tâu đại vương!
- Vâng, cũng đều là nghiệp nhưng do tội báo quá nặng, phải chăng? Đại đức trình bày đại lược cho nghe một vài ví dụ liên hệ về nhân và quả của các cách chết ấy?
- Tâu vâng! Kiếp này có người chưa đến tuổi thọ mà chết, do đói, nguyên nhân là bởi một quá khứ lâu xa đã bắt bỏ đói một chúng sanh nào đó, hoặc do cướp giật thực phẩm, hoặc do phá hoại mùa màng, nương rẫy của kẻ khác, hoặc do thù oán mà đốt lương thực, thực phẩm v.v... - Do nhân như vậy nên người kia đã bị chết đói nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm trong bốn đường ác. Nghiệp còn dư sót, tuy được sanh làm người nhưng quả báo vẫn còn chạy theo! Nếu quả nghiệp theo kịp lúc thiếu niên thì bị chết đói lúc thiếu niên. Quả nghiệp theo kịp lúc trung niên thì bị chết đói lúc trung niên. Nhân quả vận hành một cách chính xác, không thiên vị, thiên lệch bao giờ!
Tương tự như thế, do nhân từng làm cho chúng sanh bị chết, chết do độc dược, do đốt cháy, do dìm nước, do đâm chém giết hại v.v... nên sau khi bị quả báo đau khổ trong bốn ác đạo, sanh làm người, vẫn bị trả quả báo dữ, bị đoạn lìa sanh mạng khi chưa đến tuổi thọ!
Phi thời tử là vậy, tâu đại vương!
- Chung quy là do nghiệp ác nặng, trẫm đã hiểu. Nhưng nếu chết do bệnh thì sao? Có người bệnh lương ương cả đời không chết? Có người bạo bệnh chết. Có người bệnh nặng, chạy thầy chạy thuốc hết cả gia sản mới lành. Có người bệnh sơ sơ, dưỡng vài ngày là khỏi. Tất cả những bệnh ấy, chết và không chết có phải là do nghiệp không?
- Có cái do nghiệp, có cái không do nghiệp. Tâu đại vương!
- Tại sao?
- Tâu, nghiệp phải được hiểu là do hành động đã làm, đã tạo tác từ kiếp trước gọi là nghiệp nhân, kiếp này bị trả quả gọi là nghiệp quả. Định luật báo ứng nhân quả ấy gọi là nghiệp. Vậy những người chết do nhân quá khứ đã làm gọi là chết bởi nghiệp. Ngoài ra, còn có rất nhiều trường hợp do tạo nhân từ kiếp này mà chết - nên không được gọi là bởi nghiệp, tâu đại vương!
- Xin đại đức cho thí dụ.
- Vâng, ví dụ như có một người không biết giữ gìn cơ thể đối với thời tiết bất thường xảy ra ở xung quanh. Đại loại như trời nóng quá, trời lạnh quá, gió nhiều quá; hay nói cách khác, phong đại, thủy đại, hỏa đại... ở bên ngoài thịnh quá, tác động vào tứ đại của con người mà sinh bệnh... Cái ấy không bởi nghiệp quá khứ mà do nhân hiện tại, tâu đại vương!
- À, trẫm hiểu rồi.
- Ví dụ như có người làm việc quá độ, do thức ngủ quá độ, do lười biếng quá độ... làm cho tứ oai nghi: đi, đứng, ngồi, nằm... không điều hòa, mà sinh bệnh; ấy cũng là do nhân hiện tại, tâu đại vương!
- Vâng!
- Ví dụ có người ăn uống bất thường, hoặc dùng thứ này nhiều, thứ kia không có, hoặc quá ít mà sinh bệnh tiêu chảy, táo bón, ung thư - hoặc mật nhiều, đàm nhiều, hoặc thiếu máu hoặc dư máu... đều là bệnh mà mình tự tạo trong kiếp này - nên không thể gọi là nghiệp, tâu đại vương!
Cơ thể con người sinh bệnh còn do nguồn nước uống, không khí để thở, các định luật tự nhiên xung quanh tác động, ảnh hưởng nữa; đều là nhân của kiếp này cả, tâu đại vương!
- Thế là quá rõ. Đối với những bệnh không chết thì không nói. Còn tất cả bệnh mà chết, dù nhân quá khứ hay nhân hiện tại cũng đều gọi là phi thời tử cả sao?
- Đúng thế. Đúng tuổi thọ mới chết gọi là đúng thời, chưa đến tuổi thọ mà chết, do nhân thế nào đều gọi là chết không đúng thời cả!
- Những điều này có ví dụ cụ thể không nhỉ? Đại đức!
- Có chứ. Ví như đốt một đống củi khô, bổi khô, lá khô... Khi lửa cháy hết đống củi khô, bổi khô, lá khô ấy, lửa tự động tắt - ấy gọi là lửa tắt đúng thời, tâu đại vương!
- Đây chỉ cho trường hợp những người sống hết tuổi thọ của mình mới chết, là chết đúng thời!
- Vâng. Còn đống củi khô, bổi khô, lá khô ấy... đang cháy nửa chừng, bị một trận mưa ập xuống làm tắt lửa; ấy gọi là lửa tắt không đúng thời, tâu đại vương!
- Đây chỉ trường hợp những người bị nghiệp nặng hay bệnh nặng đến phải chết khi họ sống chưa hết tuổi thọ của mình, gọi là phi thời tử đây?
- Đúng vậy.
- Nghiệp nặng hoặc bệnh nặng giống như mưa đổ ập xuống làm tắt lửa, dứt sanh mạng; còn trường hợp mưa ấy bị gió thổi tan đi, hoặc mưa sơ sơ không đủ tắt lửa thì sao, đại đức?
- Những người sống hết tuổi thọ mà vô bệnh hoặc bệnh nhẹ thì như trời quang mây tạnh, không có mưa! Những người cũng sống hết tuổi thọ nhưng bệnh nặng rồi lành, hoặc bệnh liên miên - như trời có mưa, nhưng gió thổi tan mưa đi, hoặc có mưa nhỏ không đủ tắt lửa. Những người nghiệp nhẹ hoặc có bệnh nhưng không chấm dứt tuổi thọ đều y như thế!
- Vâng!
- Những người bị rắn cắn, chất độc mạnh, bị hành thân xác, nhưng thầy rắn chữa lành, không đoạn mạng sống được, cũng y như thế.
- Vâng!
- Ví như tên lìa khỏi giây cung, không bị chướng ngại cản trở sẽ đến được mục tiêu, nếu bị chướng ngại cản trở sẽ không đến được mục tiêu. Mũi tên đến được mục tiêu là đúng thời, mũi tên bị cản trở, rớt giữa chừng, gọi là phi thời, tâu đại vương!
- Nghe rõ!
- Ví như một người đánh trống đồng, âm vang đi rất xa - là đúng thời; nhưng vừa đánh lên, có kẻ đưa hai tay bịt mặt trống, ngăn lại, âm thanh ngưng dứt, không vang đi được - ấy gọi là không đúng thời, tâu đại vương!
- Trẫm đã hiểu rồi!
- Những người không bị nghiệp nặng đoạn lìa sanh mạng, nhưg bị bệnh do thời tiết tác động, do ăn quá độ, do làm việc quá độ, do ảnh hưởng nước và không khí ở xung quanh... thuốc thang không chữa được...đều phải được hiểu là phi thời tử y như thế, không khác.
- Vâng!
- Lúa cấy trong đám ruộng mưa thuận gió hòa, chăm sóc chu đáo, đến mùa gặt hái được dồi dào lương thực. Nhưng nếu đám ruộng ấy bị trời nắng hạn, thiếu nước, thiếu phân, chắc hẳn lúa sẽ khô chết hoặc thâu hái chẳng được bao nhiêu hạt, phải thế không đại vương.
- Vâng.
- Lúa khô chết ấy là đúng thời hay phi thời?
- Tất là phi thời!
- Nếu do hạn hán mà chết, do sâu đục thân, do chuột cắn nát, do châu chấu tàn hại... thì có phi thời chăng?
- Dĩ nhiên là phi thời.
- Đám ruộng phân nước đầy đủ, sâu không ăn, chuột không phá, châu chấu không làm hại, nhưng nếu bị một trận mưa đá dập xuống thì sao?
- Cũng tiêu luôn. Cũng là phi thời!
- Nói tóm lại, những ai vô bệnh, thiểu bệnh, bệnh nặng mà chữa lành; nghiệp nặng mà do phước bảo trợ được vượt qua, nhiều tai nạn nhưng may mắn thoát chết - sống hết tuổi thọ của mình mới lìa đời - gọi là hợp thời tử! Những ai bị bắt đắc kỳ tử, bị ác nghiệp quá khứ còn dư sót, bị nhân quá khứ hoặc nhân hiện tại tác động mà sinh bệnh, đoạn lìa mạng sống khi còn non trẻ, trung niên v.v... Tất cả đều được gọi là phi thời tử, tâu đại vương!
Đức vua Mi-lan-đà tán thán:
- Thật thiện xảo, phong phú thay là những ví dụ của đại đức; sự giải đáp nhiều mặt của đại đức, trên thế gian này, ai mà không hiểu được, quả là cô phụ tấm lòng của bậc đại trí vậy.

-----***-----
Mi Tiên Vấn Đáp (Milinda Panha)
Dịch giả: Hòa thượng Giới Nghiêm (Maha Thera Thita Silo)
Tỳ kheo Giới Đức hiệu đính, ấn bản 2003

Address

Binh Chau

Telephone

+84948902197

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Thiền viện Giác Tuệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share