Tập San Trí Huệ

Tập San Trí Huệ Contact information, map and directions, contact form, opening hours, services, ratings, photos, videos and announcements from Tập San Trí Huệ, Angiang.

🙏 Tập san Trí Huệ 🙏
Nơi lan tỏa tri thức, chia sẻ những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống.
👉 Nhấn "Theo dõi Trang" để cập nhật những bài viết truyền cảm hứng và bồi dưỡng trí tuệ mỗi ngày!

🙏🙏🙏"Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.Kẻ đói khó người sang hay lánh,Bước lại gần chê ...
25/05/2026

🙏🙏🙏"Thấy chúng-sanh trau-trỉa mặt mày,
Chớ chẳng chịu trau tâm trỉa tánh.
Kẻ đói khó người sang hay lánh,
Bước lại gần chê lũ tanh-hôi.
Cõi ta-bà Ta thấy hỡi ôi !
Sầu bá-tánh quá nên kiêu-cách.
Người tàn-tật đui cùi đói-rách,
Ít có ai để mắt nhìn vào.
Chuộng những người dù võng sắc màu,
Cậu với mợ, ông, thầy, cô, bác.
Thị kẻ khó như rơm như rác,
Ta quá rầu đài-các văn-minh"

Những Cõi Mù Trong Ta(Thơ Thích Tánh Tuệ)Khi cưu mang lòng ích kỷLà lúc mắt ta mù lòaKhông thấy nhu cầu, quyền lợiBảo ng...
22/05/2026

Những Cõi Mù Trong Ta
(Thơ Thích Tánh Tuệ)

Khi cưu mang lòng ích kỷ
Là lúc mắt ta mù lòa
Không thấy nhu cầu, quyền lợi
Bảo người.. trên dưới, gần xa.

Khi mang một hồn vô cảm
Ta mù giữa lúc bình minh,
Làm tổn thương người và vật
Thờ ơ, chẳng chút giật mình.

Lúc ta ôm niềm tự phụ
Mù trước đức độ, tài ba
Ảo tưởng..."ta là vũ trụ "
Người trí trông mà xót xa.

Bẩm sinh mắt lòng là sáng
Hôm nao kiêu mạn hóa mù
Khuyết điểm đời mình đâu thấy
Chuyện người rõ suốt thiên thu..

Ta lạc giữa rừng thành kiến
Chẳng biết đâu là lối ra
Vì con mắt mù, phiến diện
Trước Sự Thật vẫn đang là...

🙏🙏🙏"Hãy lấy gươm trí-huệ mà dọn sạch malòng, hãy lấy lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau,hãy lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà...
19/05/2026

🙏🙏🙏"Hãy lấy gươm trí-huệ mà dọn sạch ma
lòng, hãy lấy lòng khoan-dung mà đối-đãi lẫn nhau,
hãy lấy lòng bác-ái nhân-đạo mà cư-xử với mọi người."

19/05/2026

Ông lão đọc Sấm Giảng rất hay

NHÂN LỄ GIỖ KỶ NIỆM LẦN THỨ 100, ÔNG BA NGUYỄN-VĂN-THỚI VIÊN TỊCH(9.4 Bính Dần 1926 - 9.4 Bính Ngọ 2026)                ...
19/05/2026

NHÂN LỄ GIỖ KỶ NIỆM LẦN THỨ 100, ÔNG BA NGUYỄN-VĂN-THỚI VIÊN TỊCH
(9.4 Bính Dần 1926 - 9.4 Bính Ngọ 2026)
🌸🌺🌸🌺🌸🌺

Ông Nguyễn-Văn-Thới (tục gọi là ông Ba Thới) sanh năm Bính-Dần (1866), đời vua Tự-Đức thứ 19. Thân sinh của ông là ông Nguyễn-Văn-Đỏ, thân mẫu là bà Nguyễn-Thị-Buôn, sanh được bốn người con: hai trai, hai gái. Người trưởng là Nguyễn-Văn-Chơi, thứ là Nguyễn-Văn-Thới (tức ông Ba đây), rồi thứ nữa là Nguyễn-Thị-Tánh và Nguyễn-Thị-Kẹo.
Khi ông Ba lớn lên, thân sinh của ông cưới Bà Nguyễn-Thị-Thìn cho ông làm vợ. Bà nầy là con của ông Nguyễn-Văn-Hóa và bà Thị-Nhứt, người đồng thôn. Về sau ông bà Ba sanh hạ được tám người con, nhưng mất đi từ lúc nhỏ hết bốn, nên chỉ còn biết được có bốn là ông Nguyễn-Văn-Tuấn, Nguyễn-Văn-Kiệt, Nguyễn-Văn-Từ và bà Nguyễn-Thị-Chín.
Quê-quán ở làng Mỹ-Trà, ấp Long-Hậu, tổng Phong-Thạnh quận Cao Lãnh (Đồng Tháp), ông Ba tướng người cao lớn, nước da trắng, râu tóc nhiều, mỗi khi tóc buông ra thì chấm đất có dư, khi về già râu bạc và dài xuống tới rún.
Thuở nhỏ ông có học vừa hiểu biết chữ nho, lúc trưởng thành thì làm nghề thợ mộc rồi sau lại cũng biết làm thợ chạm.
Bởi sống trong một gia-đình cần-lao kiệm-phác cho nên ông Ba đã quen sự chịu khó-nhọc từ buổi thiếu thời. Bình sinh việc chi ông không làm thì thôi, nếu đã làm thì làm cho kỳ được, không hề bỏ dở.
Mùa đông năm Bính-Ngọ (1906), ông Ba bỗng nhiên phát đạo tâm, ông từ-giã gia-đình rồi thẳng lên vùng núi Sam, vô trại ruộng Thới-Sơn (cạnh Thất-Sơn) để tầm sư học đạo. Đâu đâu ông cũng nghe người đời ca tụng đạo-đức cao-siêu của ông Hai Trần-văn-Nhu. Ông bèn trở xuống Láng-Linh để tìm cho tận mặt, và sau khi biết rõ được giáo lý, ông xin quy-y với ông Hai.
Trở về nhà ăn Tết xong, mùa xuân năm Đinh-Mùi (1907), ông Ba dời cả gia-đình về Láng cất nhà gần chùa Bửu-Hương-Tự. Ở đây, ông siêng-năng trau-giồi hạnh đạo, chất-phát làm ăn, được ông Hai coi là đại đệ-tử.
Một ngày nọ, ông Ba phát ra ngây ngây, ông bảo bà Ba dọn-dẹp cho ông một căn phòng sạch-sẽ, rồi ở luôn trong đó. Ngót ba năm dài đăng-đẳng, ông Ba không đi đâu hết. Thậm chí sự tắm rửa hay đại tiểu tiện, ông để đêm đến mới đi ra. Chính trong khoảng nầy, ông cũng viết được ba quyển: Vân-Tiên, Thiện-Từ, Cổ Vãng Kim Lai, mà ngày nay nhiều người vẫn còn biết.
Ngày mùng một tháng giêng (Tết năm nào không nhớ), ông Ba ra khỏi buồng. Trước khi đến viếng ông Hai, ông Ba sắm một bộ khay hộp, trong có để ba trái ớt hiểm và ở trên có để ba cây roi rồi mới bưng vào trước mặt ông Hai mà quì xuống thọ tội, vì lẽ năm qua Ông không làm tròn hiếu-nghĩa đối với Thầy.
Lúc ấy ông Hai miễn tội, ông Ba cảm động lắm, ngâm lên hai câu Nam:
"Nghiêng vai lãnh bức tờ mây.
Trung vương thổ giã Thầy ở lại."
(Ý nói ông vì có sứ-mạng phải lãnh bức thư vẽ mây chép sự-trung thành cùng quốc vương thủy thổ cho nên mới phải giã Thầy một thời gian ấy).
Từ đây ông Ba rất sáng-suốt thấu được lẽ diệu-huyền của Phật pháp, ông có một bổn-phận quan-trọng đối với nhà chùa.
Vì có sự tị-hiềm của Nguyễn-Văn-Phẩm, nên chùa Bửu-Hương-Tự bị nhà cầm quyền Pháp bao vây (ngày 21 tháng 2 năm Quí-Sửu 1913). Lúc ấy tuy ông Ba thoát khỏi được, nhưng ông Hai thì phải xiêu-lạc khổ-sở, còn con trưởng của ông là Nguyễn-Văn-Tuấn lại bị bắt cùng một một lượt với 56 người đồng đạo đến cúng chùa.
Thấy tình đời đen bạc, vả lại đứng trước cảnh sư đệ rã-rời, phụ tử chia-ly, nên ba hôm sau (24-2-1913 âl), vào giờ ngọ, ông Ba dùng dao cạo cắt họng để tự sát. Vết thương đứt tới phân nửa cuống họng, nhưng ông không chết. Người nhà hốt-hoảng, chiều tối lại chở lên nhà thương Châu-Đốc điều trị. Nơi đây, người ta thấy tóc ông đanh nhiều nên cắt đi cho gọn rồi băng bó thuốc men nhưng ông quyết định không dùng một món chi của người Pháp. Ông cự tuyệt và gỡ bỏ hết.
Độ vài tháng sau liệu bịnh-tình ông Ba không thể chữa được, lương-y cho đem bỏ ông ra nhà xác. Ông trốn được ra ngoài rồi nhờ người nhà chở về.
Từ ấy, vết thương của ông Ba mỗi ngày một giảm lần, mặc dầu cuống họng chưa lành (mỗi khi ăn uống đều phải dùng khăn bó rịt lại cho khỏi rớt vật ăn ra), tinh-thần ông Ba vẫn tĩnh-táo sáng suốt như thường.
Thấy chùa Bửu-Hương-Tự bị Pháp nghi-nan dò xét mãi, và liệu ở đấy không yên được nên vào khoảng tháng bảy năm Giáp-Dần (1914) ông Ba dời nhà về doi Lộ-Lở (làng Kiến-An, tổng Định Hòa, Long Xuyên), giả dạng người thường, ruộng rẫy làm ăn cho qua ngày.
Hồi nầy, người ta có thấy ông Ba lên xuống nhà thờ Cù-Lao-Giêng ba lần để tiếp-xúc với vị Linh-mục nơi đây, và nhờ can-thiệp với nhà cầm quyền Châu-Đốc đặng minh oan cho công việc của Thầy mình (ông Hai Nhu) và anh em đồng đạo đã bị tên Phẩm vu cáo. Nhưng việc ấy nhà cầm quyền Pháp ở Châu-Đốc làm lơ.
Lúc nầy ông Hai Nhu đã tịch rồi ở Trà-Bang, song công việc hành đạo của giáo-phái Phật-Thầy bị dòm ngó rất gắt và bổn-đạo tên-tuổi nhiều người phải bị bắt, bị đày.
Tình Thầy nợ Nước, mênh-mang bao-mối cảm hoài, khiến tâm hồn ông Ba trong chuỗi ngày tàn hầu như tan nát. Ông ký thác lòng mình vào những quyển: Ngồi Buồn, Kiểng Tiên, Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị, Tứ-Đại và Thừa Nhàn, mà ngày nay, mỗi khi đọc qua, ta cảm thấy ngập-tràn bao nỗi bi-thương ưu-ái.
Dưới đây là một ít lời lẽ về tâm trạng của ông Ba hồi ấy:
"Đêm năm canh thổn-thức chẳng yên,
Ngày sáu khắc sầu riêng mối đạo.
Tưởng ái quốc cơ-đồ sáng tạo,
Nhìn lẽ dân cường-bạo đa đoan.
Chúa mỏi lòng chúa nghỉ thân an,
Tôi mệt dạ còn mang nạn cả.
Thời quân nhược quả kia báo quả,
Thế thần cường giày-giã trung cang."
Hay là:
"Bước chân ra đoái lại nước nhà,
Chim xanh vỡ ổ rừng già thiết tha!
Ai đi
Nỡ chẳng tưởng quốc gia ngay thảo,
Dạ nào vong Tam-Bảo giáo truyền.
Thầy ôi!
Nước nghiêng-nghèo vận khiến đảo-điên,
Phân ly diện sầu tuôn đoạn đoạn!"
Ngoài việc sáng tác những tác phẩm kể trên ra, ông Ba còn đươn một tấm thành-vọng (mặt khại), chính giữa có ba chữ triện: Quốc (hàng trên) và Thần Vọng Sư (hàng dưới), dựng ngay trước bàn thờ để biểu-lộ tấm lòng ưu-ái giang-sơn Thầy-Tổ. Tấm thành-vọng nầy ngày nay còn thấy tại nhà con ông ở Láng-Linh.
Sau mười bốn năm, kể từ khi chùa Bửu Hương Tự bị bao vây, vết thương nơi cổ ông Ba vẫn chưa lành hẳn, nó gom lại bằng mút chìa vôi nhưng trong mình ông vẫn mạnh. Một đêm kia, ông Ba kêu người nhà mà hỏi thăm giờ. Người nhà cho biết là mười giờ đêm. Ông bảo: «Bây-giờ đến năm giờ sáng thì còn lâu quá!»
Thế là đúng năm giờ sáng (giờ dần), ngày mùng chín tháng tư năm Bính-Dần (1926), ông Ba tịch. Lúc ấy ông hưởng thọ vừa đúng 61 tuổi, sau khi đã để lại cho đời chín văn phẩm kiệt tác về đạo-đức lẫn văn-chương, và một tấm gương tiết-tháo kiên-trinh bất hoại.
Hiện giờ, mộ-phần của ông Ba còn tại doi Lộ-Lở, được bồi-đắp và có người ở săn-sóc cẩn-thận. Tại nền nhà củ ông (cũng ở Lộ-Lở gần ngôi mộ), có dựng lên một cái đền thờ rộng lớn, uy-nghi. Hằng năm, đến ngày mùng chín tháng tư thì có hội, bá tánh thập phương đến chiêm-bái rất đông.
Nam Mô A Di Đà Phật!
(ST)

🙏🙏🙏Chánh-ngữ. –Lời nói chơn thật. Lục-căn làm cho con người nhiễm lục-trần. Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh các...
18/05/2026

🙏🙏🙏Chánh-ngữ. –Lời nói chơn thật.
Lục-căn làm cho con người nhiễm lục-trần.
Vì muốn nuôi dưỡng xác thân nên mới sanh các điều ham-hố là nguồn-cội các tội-lỗi. Trong những tội-lỗi ấy cũng có nghiệp-chướng của miệng lưỡi: Lưỡng-thiệt (làm cho thiên-hạ bất hòa nhau). Ỷ-ngôn (lời chưởi mắng kẻ dưới tay). Ác-khẩu (tiếng độc-ác tục-tằn chưởi rủa Thần-Thánh), Vọng-ngữ (nói láo, nói huyễn-hoặc).
Hãy tập lời nói mình cho chân-chánh, đúng với sự thật; hãy bỏ hết những xảo-ngôn tráo-chác, những tiếng thô-lỗ cọc-cằn, phàm những khi bàn luận việc chi, phải nói tỏ tường ngay thẳng. Đối với kẻ dưới bề trên, lời nói phải cho hiền-lương đức-hạnh và những sự khuyên dạy chỉ bảo kẻ khác làm theo lẽ phải đều có ích-lợi cho chúng-sanh và đều hạp với tinh-thần đạo-đức.

“Chỉ khi sống đúng phẩm chất con người thì chư thiên mới yêu quý”Tài sản của người phụ nữ là sắc đẹp.Tài sản của người đ...
17/05/2026

“Chỉ khi sống đúng phẩm chất con người thì chư thiên mới yêu quý”

Tài sản của người phụ nữ là sắc đẹp.
Tài sản của người đàn ông là sức mạnh.
Còn tài sản của bậc thiện nhân chính là giới hạnh.

Trong đó, vẻ đẹp của người có giới đức mới là vẻ đẹp chân thật và sâu bên trong. Chính giới hạnh khiến cả khí chất lẫn thân tâm trở nên thanh tịnh và khả ái. Vì vậy, người ấy được người thương mến, chư thiên cũng thương mến, mọi người kính yêu và chư Phật cũng hoan hỷ.

Sức mạnh thật sự của giới hạnh chính là năng lực làm tăng trưởng sức mạnh của nghiệp lành, sức mạnh của thiền định và sức mạnh của trí tuệ. Nhờ vậy, người ấy có thể chống đỡ và vượt qua sự áp bức của phiền não. Cho nên, người đời nương tựa nơi họ, chư thiên cũng nương tựa nơi họ và từ đó những năng lực thù thắng cũng có thể phát sinh.

“Từ hôm nay trở đi, ta sẽ noi theo hạnh của các bậc thiện nhân và bước đi trên con đường của người hiền thiện”

Sau đó, khi đối với dê, cừu, trâu, bò khởi lên tâm muốn giết hại vì tham ăn thịt…
Người ấy liền đặt mình vào vị trí của chúng, khởi lòng cảm thông như đối với chính mình, giữ tâm người với lòng trắc ẩn.
Thay vì giết hại chúng, người ấy dùng chánh niệm để ngăn chặn chính lòng tham đang khuấy động trong tâm mình.

Lại nữa, khi đối với muỗi, rệp, rắn độc hay những loài có thể gây nguy hiểm đến mạng sống con người - không phải vì muốn ăn thịt, mà vì tâm muốn tiêu diệt kẻ thù - khởi lên ý muốn giết hại…
Người ấy liền đặt mình ngang bằng với chúng, hoặc xem con của chúng như con của chính mình, khởi tâm từ ái và lòng thương tưởng.
Thay vì giết hại chúng, người ấy dùng chánh niệm để ngăn chặn cơn sân hận đang xúc phạm chính tâm mình và đang nuôi lớn sự oán ghét đối với chúng sanh khác.

Cũng theo cách ấy…
Khi muốn chiếm đoạt hay phá hoại tài sản của người khác,
Khi muốn vui thú hay xúc phạm vợ chồng của người khác,
Khi muốn nói dối để chiếm lấy tài sản của người khác, hay nói dối để giữ lấy tài sản của mình,
Khi muốn xúc phạm người khác hoặc muốn buông lung hưởng thụ…

Người ấy sẽ thay thế những tâm niệm ấy bằng tâm người - bằng lòng cảm thông và tâm từ:
không lấy của không cho,
không xâm phạm vợ chồng người khác,
không nói dối hại người,
không sa vào các chất say nghiện.

Rồi dùng chánh niệm để ngăn chặn hai dòng tâm đang phá hoại nhân tính trong mình, đó là: thích và ghét, tham muốn và chống đối.
Khi ấy, thay vào chỗ của tâm thích và ghét sẽ là tâm người chân thật khởi lên.
Và từ đó, khi nhận ra rằng trong mình chỉ còn lại tâm người thiện lành, người ấy sẽ bắt đầu tin tưởng chính mình.
“Ta là một con người không còn hành xử thô bạo theo sự sai khiến của phiền não”.
“Ta là một con người không còn làm các điều bất thiện”.

Khi tự tin nơi phẩm hạnh của mình và có thể nương tựa nơi chính mình như vậy, thì đối với người khác cũng sẽ không còn điều gì khiến họ không thể tin tưởng hay không thể nương cậy.
Lúc ấy, mọi người sẽ dần tin tưởng nơi giới hạnh và cách sống của người ấy. Tin tưởng bao nhiêu thì họ sẽ nương tựa bấy nhiêu. Và bằng lòng quý mến cùng kính trọng sâu sắc, họ sẽ nâng đỡ và tôn trọng người ấy.

Chỉ khi sống đúng phẩm chất con người thì chư thiên mới yêu quý.
Khi được chư thiên yêu quý, vận mệnh cũng trở nên thuận lợi.
Khi vận mệnh thuận lợi, những điều mong cầu chân chánh cũng dễ thành tựu.

Khi một người nhờ giới hạnh chân thật của mình mà được mọi người kính trọng…
Người ấy sẽ tự nghĩ:
“Chỉ mới có thể ngăn chặn được đôi chút tâm muốn và không muốn mà quả lành của giới hạnh đã mạnh mẽ đến thế - giống như nơi đất thấp thì mạch nước tự nhiên tuôn chảy”.
Từ đó, người ấy càng thêm tin sâu vào công đức của giới hạnh, và trong tâm ngày càng phát sinh sự trong sáng, thanh tịnh và an lạc.

Rồi lại nghĩ thêm:
“Nếu chỉ mới ngăn chặn được phần nào tham và sân mà đã được lợi ích như vậy, thì nếu có thể đoạn trừ chúng nhiều hơn nữa, niềm tin và sự can đảm hẳn sẽ còn lớn mạnh biết bao”.

Không chỉ thế…
“Nếu chỉ mới có thể kềm giữ được đôi chút tham và sân - hai Pháp luôn thiêu đốt và bức bách tâm - mà ta đã cảm nhận được nhiều sự nhẹ nhàng và thanh tịnh như vậy, thì tâm của chư Phật và các bậc Thánh nhân, những vị đã đoạn tận hoàn toàn mọi phiền não và kiết sử, sẽ an lạc và thanh tịnh đến mức nào đây?”

Bằng sự suy xét như vậy từ chính kinh nghiệm thật của mình, người ấy ngày càng phát sinh niềm tin chân thật đối với phẩm hạnh của các bậc Thánh thiện cao quý.
Đó chính là đức tin chân thật được sinh khởi từ kinh nghiệm trực tiếp.

Sau đó, người ấy sẽ tiếp tục bước theo dấu chân của các bậc thiện nhân ấy bằng sự thực hành chân chánh.
Chỉ với một niệm chánh niệm, người ấy thấy được sự sinh diệt và bước đi trên con đường của thực tại.
Cũng chỉ với một niệm chánh niệm ấy, người ấy đoạn trừ tà kiến chấp thủ về “có” và “không”.

Chánh niệm ấy khiến người ấy không còn mãi suy nghĩ, đào bới chuyện cũ, cũng không còn chạy theo và bám chấp vào các Pháp mới sinh khởi.
Bởi vì chính chánh niệm ấy đang liên tục phá vỡ mọi sự dính mắc vào thích và không thích.

- Mahabodhi Myaing Sayadaw -

THÀNH KÍNH LỄ KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY VIÊN TỊCH CỦA ĐỨC ÔNG BA NGUYỄN VĂN THỚI(8-9/4/BÍNH DẦNTôi nay Ba Thới Tùng Quới Mỹ T...
16/05/2026

THÀNH KÍNH LỄ KỶ NIỆM 100 NĂM NGÀY VIÊN TỊCH CỦA ĐỨC ÔNG BA NGUYỄN VĂN THỚI
(8-9/4/BÍNH DẦN

Tôi nay Ba Thới Tùng Quới Mỹ Trà
(Cáo Thị)

Quê ngụ miền Cao Lãnh
Tôi nay Ba Thới xưng danh
Từ theo Thầy học đạo minh thanh
Cửu thu mãn thính danh dư tuế
(Bổn Tuồng)
🌺 Lời Ông Ba🌺

🙏🙏🙏"Đừng thấy ai theo mối Đạo nào đông đảo rồi ta cũng vội vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta chưa hiểu giáo lý ấy như thế nà...
16/05/2026

🙏🙏🙏"Đừng thấy ai theo mối Đạo nào đông đảo rồi ta cũng vội vàng theo Đạo ấy mà lúc đó ta chưa hiểu giáo lý ấy như thế nào. Cũng đừng thấy người ta thờ Phật rồi vội vã lập bàn thờ Phật, mà chưa hiểu ông Phật thế nào và tại sao phải thờ kính Đức Phật. Nếu tu như thế, thờ Phật như thế, thì càng tu càng thờ bao nhiêu càng tỏ ra cho thiên hạ thấy rõ ta mê tín bấy nhiêu".
Đức Giáo Chủ PGHH.

27/03/2024

Address

Angiang
90000

Telephone

+841996561444

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Tập San Trí Huệ posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share