Chi Hội Bác Ái Vinh Sơn Ozanam Đà Lạt

Chi Hội Bác Ái Vinh Sơn Ozanam Đà Lạt Công tác thăm và giúp đỡ người nghèo, khuyết tật, bệnh hoạn và có hoàn cảnh

19/12/2025
18/12/2025
18/12/2025

TÂM SỰ NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Nếu ai đã từng xem cuốn phim “Đức Giêsu thành Na-da-rét” của đạo diễn Franco Zeffirelli (sản xuất năm 1977) chắc còn nhớ phân cảnh Thánh Giuse nằm mơ thấy Đức Maria bị ném đá chết vì tội ngoại tình. Nếu không thì cũng đã có lần được xem một vở kịch diễn lại bài Tin Mừng hôm nay, trong đó có cảnh Thánh Giuse khắc khoải, lo âu, dằn vặt, thậm chí xấu hổ, trước sự kiện Đức Maria mang thai mà ông chẳng biết nguyên do. Đó là những tình tiết lâm ly, bi đát, đầy kịch tính, làm khán thính giả bồi hồi xúc động, nhưng có nằm trong nhãn giới của tác giả Tin Mừng chăng? Ngoài ra, ý tưởng “tố giác” (ám chỉ Giuse nghi ngờ – mà nghi bậy – Maria ngoại tình, chửa hoang) nằm bên cạnh ý tưởng “công chính” (một danh hiệu vinh quang, hiếm người được Kinh Thánh trao tặng) đã khiến nhiều học giả phải lý luận vòng vo đủ cách, trưng dẫn bản văn đủ kiểu để hòa hợp hai ý tưởng này. Tất cả những cái đó, theo nhiều nhà chú giải hiện đại, là do cách dịch chưa đúng về một vài từ ngữ trong văn bản.

Khúc Mắc Tâm Tư

Mở đầu bản văn bằng câu “Đây là gốc tích Đức Giêsu Ki-tô” và bằng chi tiết “Trước khi hai ông bà về chung sống, Maria đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần,” Mát-thêu đã muốn chứng minh cho độc giả Do-thái của mình thấy làm sao Đấng Cứu Thế sinh ra thiếu cha trần gian mà vẫn thuộc về dòng dõi Do-thái và con cháu Đa-vít được (trong lúc Lc 1, 26-38 thì chỉ trình bày mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho độc giả lương dân hiểu). Việc lạ lùng này, chắc hẳn Đức Maria đã tỏ lộ cho người bạn đời yêu quý (bà chị họ Ê-li-sa-bét mà còn được biết nữa là, vì thiên thần đâu có cấm Maria tiết lộ: x. Lc 1,39-45). Với hai lý do: xin ông thông cảm cho quyết định của bà là vâng phục thánh ý lạ lùng lẫn bất ngờ của Thiên Chúa, và như thế sẽ chấm dứt kiểu chung sống chồng vợ thông thường; hai là chia sẻ niềm vui và vinh dự của bà được chọn làm mẹ Con Đấng Tối Cao. Ngoài ra, việc Mát-thêu khẳng định đầy đủ sự kiện nhiệm mầu ấy ngay từ đầu bài Tin Mừng (ông chẳng viết đơn giản: “Maria đã có thai”) hàm ý Giuse đã biết rõ công chuyện. Thế nhưng việc tỏ lộ này đặt ông vào một hoàn cảnh khó xử.

Theo nhiều nhà chú giải Công giáo hiện đại, khi kết hôn với nhau, hai ông bà Giuse Maria chắc dự tính sẽ có con với nhau một cách bình thường (Cựu Ước luôn cho hôn nhân là tốt đẹp và con cái là hồng ân cao cả, còn không có chồng hoặc có chồng không con là tủi nhục lớn lao, tương tự quan niệm Á đông: “Bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại”), đồng thời cầu mong con họ sẽ được Thiên Chúa chọn làm Đấng Thiên Sai (Mêsia) như bao mộng ước của mọi gia đình và mọi thiếu nữ Do-thái thời đó. Thế nhưng, đang lúc chưa chung sống như vợ chồng, Maria đã được sứ thần báo tin cho biết Thiên Chúa đã chọn bà làm mẹ Đấng Thiên Sai, nhưng bà sẽ sinh con một cách nhiệm lạ – do quyền năng Chúa Thánh Thần – vì thai nhi đó chính là Con Thiên Chúa! Đây là điều mà Cựu Ước cũng như hai ông bà không thể ngờ nổi.

Đứng trước mầu nhiệm cao cả này, Giuse đâm băn khoăn. Từ nay, Thiên Chúa đã can thiệp vào mối dây liên hệ của đôi bạn, đã sử dụng Maria như phương tiện để thực hiện kế hoạch lớn lao của Người. Từ nay Maria đã trở thành một vật thánh, thuộc quyền sở hữu của Đấng Tối Cao. Giuse tự nghĩ mình đâu có quyền động đến nàng nữa. Và dù không động đến nhưng nếu tiếp tục chung sống trong một nhà, tới lúc con nàng sinh ra, chắc thiên hạ sẽ nói là con của đôi bạn. Để cho ai nấy lầm tưởng như thế là một sự bất công với Thiên Chúa, vì Hài nhi là con của Người mà. Công bố chuyện này cho thiên hạ ư? Ai mà tin nổi và hiểu nổi! Có dấu chứng nào về một chuyện lạ lùng xưa nay chưa từng gặp như vậy? Vả lại đây là bí mật giữa Thiên Chúa với Maria mà Người đâu đã tỏ ý định hãy loan truyền nó cho bá tánh. (Phải 30 năm sau, chính Đức Giêsu mới làm rõ được chuyện này)! Thế là Giuse dự tính ra đi, ra đi âm thầm, để mặc Thiên Chúa đích thân giải quyết mọi chuyện. Ông xử sự như bao người công chính trong Cựu Ước là run khiếp trước sự hiện diện của Đức Chúa và không dám đoạt lấy một thành quả bởi tay Người. Vả lại, hiểu cách tự nhiên tức thời, công chính, công bình – hay just, juste trong tiếng Anh tiếng Pháp – có nghĩa là của ai thì trả cho người ấy, không vi phạm quyền lợi và sở hữu của tha nhân. Ngoài ra, từ Hy-lạp dùng ở đây là “deigmatisai”, cùng gốc với từ “paradeigmatisai”. Nhưng trong lúc “paradeigmatisai” có nghĩa là “tố giác, bêu nhục” thì “deigmatisai” lại chỉ có nghĩa là “tiết lộ, bày tỏ”, theo nhiều Giáo phụ (Origène, Eusèbe de Césarée...) và nhiều học giả hiện đại (Lm Paul Joüon, SJ, thành viên Viện Kinh thánh Giáo hoàng, Lm Nil Guillemette, SJ, giáo sư Kinh thánh lỗi lạc...). Thành ra, chính cách dịch mới: “Giuse là người công chính và không muốn tiết lộ chuyện bà” hoàn toàn hợp lý đồng thời hỗ trợ cho lối giải thích vừa nói trên đây.

Lối giải thích cho rằng Giuse công chính chiếu luật (vâng lời Lề luật) là không ổn, vì chả có luật nào buộc phải ly dị hôn thê mới bị coi như ngoại tình cả (x. Đnl 22,13-21.23-27 chỉ liên hệ tới hôn nhân hoàn hợp, như Đnl 24,1 làm chứng). Đàng khác, nếu âm thầm ly dị Maria, thì Giuse lại càng bất tuân Lề luật, vì việc ly dị chỉ được phép và mang giá trị pháp lý nếu có chứng thư ly dị rõ ràng và đưa ra công khai (Đệ Nhị Luật có nói đến việc ly dị tổ chức ở cửa thành). Thành ra đây là sự công chính tôn giáo, sự công chính đòi hỏi Giuse tôn trọng công trình Thiên Chúa nơi Maria và cấm ông không được đoạt lấy công lao của một hành động từ trời.

Gỡ Mối Tơ Vò

“Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông.” Thiên Chúa cuối cùng đã can thiệp: “Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng sợ [Hy ngữ: phobethes] đón Maria vợ ông về.” Đến đây, các nhà chú giải hiện đại đề nghị cách dịch khác cho từ Hy-lạp gar mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “vì” (“Vì người con bà cưu mang...”) và cho từ Hy-lạp dé mà xưa nay vẫn chỉ dịch là “và” (“và ông phải đặt tên...”). Từ “gar” còn có nghĩa: “vẫn biết, quả thật, hẳn nhiên, phải rồi”, và thường gặp trong Tân Ước (x. Mt 18,7; 1Cr 9,19; 1Tx 2,20...); từ “dé” cũng còn có nghĩa “nhưng”: “Vẫn biết/hẳn nhiên người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, nhưng ông phải đặt tên con trẻ.” Từ “vẫn biết/hẳn nhiên” nói lên một sự thật mà Giuse đã rõ (nên không có chuyện thiên thần mặc khải mầu nhiệm cưu mang đồng trinh cho ông lúc này). Maria sẽ sinh con, “nhưng” Giuse sẽ đặt tên cho con trẻ. Đặt tên (quyền của người cha theo pháp luật Do-thái) là thừa nhận kẻ được đặt tên như con của mình. Rồi con đẻ hay con nuôi đều có giá trị như nhau trước pháp luật Do-thái, nghĩa là con nuôi cũng hoàn toàn thuộc về dòng dõi cha nuôi với mọi quyền lợi và nghĩa vụ y như con đẻ. Cách giải quyết của Thiên Chúa thật tài tình: lợi dụng một điều khoản trong luật pháp Do-thái (con nuôi # con đẻ, mà chắc Người đã từ lâu xui khiến cho có), Thiên Chúa hoàn tất lời Thánh Kinh: Đấng Thiên Sai sẽ thuộc dòng dõi Đa-vít dù là con của một trinh nữ, với Thiên Chúa là Cha.

Còn một lý do thực tế: cần phải tạm thời che giấu mầu nhiệm Ngôi Hai nhập thể (khó chấp nhận khi chưa có ngôn hành khẳng định của chính Đức Giêsu) bằng cách để thiên hạ lầm tưởng Giuse là cha đẻ của Người. Sự hiện diện của Thánh Giuse trong ngôi nhà Na-da-rét còn cần thiết để bảo vệ thanh danh Đức Trinh Nữ cũng như để chăm sóc nuôi dưỡng Ấu Chúa và Mẹ Người.

Đến đây, ta có thể hiểu rõ thêm nữa về sự công chính của Thánh Giuse: đó là sự thức tỉnh nội tâm đối với Thiên Chúa, một sự thức tỉnh vốn giúp người có khả năng đón nhận và hiểu rõ sứ điệp, dẫn người tức khắc tới chỗ vâng phục. Dẫu cho đến nay người đã bối rối trước các chọn lựa khác nhau của mình, giờ đây người biết đâu là đường lối hành động đúng đắn. Là một người công chính, người vâng theo các mệnh lệnh Thiên Chúa truyền dạy.

Hiểu Ra Mầu Nhiệm

“Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa đã phán qua miệng ngôn sứ: 'Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta'. Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy, và đón vợ về nhà.” Vậy là bên cạnh Đức Maria, bà Ê-li-sa-bét, Thánh Giuse nay cũng hiểu: vừa là con Thiên Chúa, vừa là con loài người, Đức Giêsu đúng là Em-ma-nu-en thật (x. Is 7,14). Ngay cả cho dù không thực sự mang cái tên độc đáo này, Người vẫn là Em-ma-nu-en, như toàn bộ Tin Mừng sẽ cố gắng minh chứng, là Thiên-Chúa-ở-cùng-nhân-loại trong chính bản thân Người. Hai bản tính trong một ngôi vị này khiến Người có thể đền tội xứng đáng, đầy đủ cho chúng ta và nhất là có thể thần hóa chúng ta, làm chúng ta nên con Thiên Chúa, thông phần bản tính Người: “Con Thiên Chúa đã làm người để biến chúng ta thành Thiên Chúa” (thánh Athanasiô), “Thiên Chúa đã làm người, để biến chúng ta thành thần linh” (thánh Irênê). (Tương tự chúng ta vì là vật chất và tinh thần nên có thể tinh thần hóa vật chất vậy).

Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

CHUẨN BỊ SẴN SÀNG (19/12/2025 – TUẦN TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH)
18/12/2025

CHUẨN BỊ SẴN SÀNG (19/12/2025 – TUẦN TRƯỚC LỄ GIÁNG SINH)

“Thiên Thần Gabriel báo trước việc Gioan Tẩy Giả sinh ra”.

16/12/2025

ĐỒNG TRINH SINH HẠ

Truyền thống Kitô luôn luôn nhấn mạnh đến việc Chúa Giêsu được sinh ra do một trinh nữ. Đấng Thiên sai chỉ được sinh ra từ dạ người đồng trinh. Đương nhiên lý do chính cho sự nhấn mạnh này là để nêu bật Chúa Giêsu không có người cha thế gian và việc Ngài được sinh ra là do Thần Khí.

Nhưng cũng có một nghĩa thứ hai, ít được nói đến trong Thánh Kinh. Thường thường trong nghĩa này, ý tưởng cho rằng Chúa Giêsu sinh từ một trinh nữ vì dục tính là cái gì không tinh khiết, quá phàm tục so với một sự việc thiêng liêng như vậy. Thiêng liêng phải được tách bạch ra khỏi cái gì phàm tục.

Không những Chúa Giêsu được sinh ra từ một trinh nữ, vì Người không có cha trần thế, mà Người còn được sinh ra từ trinh nữ vì sự sinh ra này đòi hỏi phải tinh tuyền, mà theo định nghĩa, tinh tuyền là loại trừ dục tính. Khái niệm của chúng ta về đồng trinh sinh hạ đã chịu sự thấm nhuần của lòng mộ đạo, mà với tất cả lý do có thể có, không thể nào chấp nhận dục tính đi với thiêng liêng.

Có cái gì sai ở đây? Vượt ra ngoài sự chê bai cái tốt đẹp do Chúa ban của dục tính, ở đây thiếu một trong những khía cạnh chủ yếu của sự mặc khải trong việc đồng trinh sinh hạ. Có một thách đố mang tính luân lý trong việc đồng trinh sinh hạ, một điều gì đó mời gọi bắt chước hơn là thờ phượng.

Truyền thống Kitô nhấn mạnh đến đồng trinh sinh hạ (cũng như nhấn mạnh đến hầm mộ chưa từng chôn ai, nấm mộ trinh khiết đi đôi với tử cung còn trinh) không phải vì truyền thống cho rằng dục tính là không tinh khiết và quá thế tục nên không thể sinh ra một cái gì thiêng liêng.

Ngược lại, ngoài khía cạnh nhấn mạnh Chúa Giêsu không có cha trần thế, truyền thống Kitô muốn nhấn mạnh đến quả tim và tâm hồn cần có một khoảng không gian linh thiêng để một cái gì đó có tính cách linh thiêng có thể được sinh ra. Vấn đề ở đây không phải là chuyện độc thân thay vì dục tính, nhưng là kiên nhẫn thay vì hấp tấp, tôn trọng thay vì không tôn trọng, chấp nhận sống trong căng thẳng thay vì đầu hàng và bù đắp cho một ước muốn không được đáp ứng. Quả tim tinh khiết sẽ để cho tình yêu đi theo tiếng gọi của nó chứ không lèo lái nó. Quả tim tinh khiết để cho quà tặng là quà tặng chứ không cưỡng bức nó, dù theo cách tinh vi đến đâu đi nữa. Quả tim tinh khiết chấp nhận đau khổ của khiết tịnh thay vì ngủ với cô dâu trước ngày cưới. Rốt cuộc, đó là điều tạo nên khoảng không gian tinh tuyền, là khoảng không gian trong đó Chúa có thể sinh ra.

Cách đây ba mươi năm, trong ý hướng muốn diễn tả điều này, tôi viết một bài thơ có đầu đề là Đồng trinh sinh hạ. Bây giờ tôi mắc cỡ bởi vì lý tưởng của tuổi thanh xuân trong bài thơ này, nhưng, trong những ngày đẹp đẽ của tôi, tôi lại nhận lấy lời khuyên từ những dòng thơ của chàng trai trẻ năm nào:

Đồng trinh sinh hạ
Nghịch lý đời đời, đặc biệt cho cả hai Đấng Cha và Con
Những vị đã kết hợp đặc biệt minh triết con người từ điều kỳ diệu.
Một trinh nữ sinh hạ
Không phải ra một chủng tử vô sinh
Mà là một Đấng Cứu Thế.
Đồng trinh thì liên quan gì tới việc hạ sinh? Không gì cả!
Khi minh triết phí phạm lời lẽ để đi mông lung
tìm một sự thật sẽ không giải thoát chúng ta.
Đồng trinh và không ăn nằm: quả tim chưa trọn đủ và thân xác,
Vật lộn với một vị Chúa không có thịt da
Người không để xác thịt gặp xác thịt
cảm thấy đớn đau, vẫn mong chờ sự trọn đủ
Để tránh hiếm muộn, một tội lỗi thật sự không thể tha thứ chống lại tinh thần của sự sống
Nhưng hiếm muộn đã mang thai lòng khao khát cái tinh thần đã ngủ với Thiên Chúa trong đêm
đã mang thai tinh thần cứu thế – những ai đã kiên nhẫn đợi chờ và thà một mình khóc thầm
hơn là làm hư món quà
vì thiếu kiên nhẫn.
Chỉ dạ của các trinh nữ mới cưu mang được Đấng Cứu Thế
vì chỉ các trinh nữ mới sống một mình trong chờ đợi
chờ đợi một chàng hôn phu
khuya khoắt, đã sau mười một giờ đêm, không còn hy vọng gì.
Không nản lòng, dạ người trinh nữ vẫn chờ đợi
Khước từ tất cả những người tình giả dối và tất cả nôn nóng
cái đòi hỏi xác thịt trên xác thịt và
một Xứ sở thần tiên theo điều kiện của con người
Đấng Cứu Thế chỉ được sinh hạ
từ trong dạ người trinh nữ
từ trong kiên nhẫn của người trinh nữ
cái làm cho
Thiên Chúa là Thiên Chúa

tình yêu là quà tặng.

Ronald Rolheiser, OMI
14, tháng mười hai, 1981

Tại sao là dạ người trinh nữ mới sinh ra Đấng Thiên sai? Tại sao có ám ảnh về sự tinh tuyền trong truyền thống Kitô? Bởi vì, tất cả chúng ta đều quá biết, cuộc sống chúng ta đầy những chuyện không tinh khiết: hấp tấp, không tôn trọng, bất kính, lèo lái, khắc kỷ, vĩ cuồng, và tất cả chúng ta cũng đều biết, trong ma trận đó, đấng thiên sai không thể thụ thai được.

HỐI HẬN NÊN LẠI ĐI (16/12/2025 - THỨ BA TUẦN 3 MÙA VỌNG)
15/12/2025

HỐI HẬN NÊN LẠI ĐI (16/12/2025 - THỨ BA TUẦN 3 MÙA VỌNG)

Ông ta đến nói với người thứ nhất: “Này con, hôm nay con hãy đi làm vườn nho”. Nó đáp: “Con không muốn đâu!” Nhưng sau đó, nó hối hận, nên lại đi. đó là Lời Chúa,

GIOAN LÀ MỘT NGÔN SỨ (15/12/2025 - THỨ HAI TUẦN 3 MÙA VỌNG)
14/12/2025

GIOAN LÀ MỘT NGÔN SỨ (15/12/2025 - THỨ HAI TUẦN 3 MÙA VỌNG)

Phép Rửa của Gioan bởi đâu mà có? Bởi trời hay bởi người ta?

13/12/2025

SA MẠC NỞ HOA

Sứ điệp và chứng từ của Thánh Gio-an Tẩy Giả gắn liền với sa mạc. Ông sống trong sa mạc, làm bạn với muông thú, ăn mật ong rừng và mặc áo bằng da lạc đà. Ông khởi đầu sứ mạng cũng ở trong sa mạc, bằng lời kêu gọi sám hối. Con người khổ hạnh ấy có sức hấp dẫn lạ kỳ, đến nỗi dân thành từ Giê-ru-sa-lem, Giu-đê-a và vùng ven sông Gio-đan đều đổ xô đến nghe ông giảng. Trong đó có cả những người thuộc phái Pha-ri-siêu và phái Sa-đốc. Vào thời đó, hai phái này mâu thuẫn và không đội trời chung. Sứ điệp của Gio-an Tẩy Giả đã gắn kết họ trong việc lắng nghe và thành tâm sám hối.

Trước đó bảy trăm năm, ngôn sứ I-sai-a đã tiên báo về sự kiện này. Ông chiêm ngưỡng một viễn tượng tương lai: Sa mạc sẽ nở hoa. Đồng khô cỏ cháy mừng rỡ reo hò. Vị ngôn sứ diễn tả một tương lai mà cỏ cây cũng như con người, đều biết nhảy múa và thể hiện niềm vui. Lý do làm sao mà vui thế? Thưa, vì Thiên Chúa đến đây rồi. Lúc đó, người què đi được, thậm chí còn nhảy nhót như nai; người mù sáng mắt; người điếc nghe thấy, và tất cả cùng nhau tiến về Xi-on. Tiến về Xi-on là tiến về nhà Chúa, để gặp gỡ và tôn vinh Ngài.

Lúc đó, ông Gio-an đang ở trong tù. Có thể khi ông kêu gọi mọi người sám hối để chuẩn bị đón Đấng Thiên Sai, ông cũng không hiểu hết những gì mình nói. Bởi vậy, lúc bị bắt cầm tù, ông cảm thấy hoang mang. Trong cảnh ngục tối, có lẽ ông đặt câu hỏi: “Vị ngôn sứ thành Na-da-rét thực ra có phải là Đấng Ki-tô mà ông loan báo?” Trăn trở này đã khiến ông sai môn đệ đến hỏi Đức Giê-su: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Chúa Giê-su không trả lời thẳng câu hỏi của các môn đệ này, nhưng Người nói đến kết quả lời rao giảng là các phép lạ Người đã thực hiện. Ông Gio-an nghe những lời này, chắc chắn cảm thấy an tâm vì những gì ngôn sứ I-sai-a nói trước đó nay đã được thực hiện. Qua câu trả lời, Đức Giê-su muốn nhắn gửi tới Gio-an Tẩy giả: “hãy an tâm! Hãy vui lên, hỡi sa mạc và đồng khô cỏ cháy, vùng đất hoang, hãy mừng rỡ trổ bông….”

Kiên nhẫn đợi chờ, đó cũng là thông điệp là Phụng vụ muốn gửi đến chúng ta trong Chúa Nhật này. Bởi lẽ năm nào chúng ta cũng nghe nói đến việc Chúa sắp đến. Hình ảnh người nông phu được Thánh Gia-cô-bê diễn tả (Bài đọc II) cho thấy sự kiên nhẫn sẽ được đền đáp. Trong khi chờ đợi Chúa đến, người tin Chúa phải thực hành đức bác ái yêu thương, “đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử.”

Ông Gio-an Tẩy Giả đã thi hành sứ vụ trong sa mạc. Hôm nay, xã hội của chúng ta cũng đang rơi vào tình trạng sa mạc hóa. Đó là sự dửng dưng của con người, và bạo lực dối trá tràn lan khắp nơi. Những khủng hoảng về gia đình và đạo lý đang làm cho xã hội này trở nên khô cằn, ngược lại với cảnh nhộn nhịp phát triển của một cuộc sống được gọi là “hiện đại.” Chính trong bối cảnh này, người tin Chúa được trao sứ mạng làm cho sa mạc nở hoa. Thay vì bình phẩm phê phán, chúng ta hãy đóng góp phần mình để giảm thiểu bạo lực, đầy lùi dối trá và cổ võ tình thương, khởi đi từ gia đình, rồi đến với cộng đồng xã hội. Khi cố gắng làm cho sa mạc cuộc đời nở hoa, là chúng ta làm lan tỏa chất Tin Mừng đến mọi góc khuất của cuộc đời. Thánh Gia-cô-bê viết: “Anh em hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa.” Sống thanh tao giữa cuộc đời đầy bạo loạn, đó là sống ơn gọi Ki-tô hữu và thi hành chức năng ngôn sứ mà Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy.

Cùng chung một nội dung với Bài đọc I, Thánh vịnh 145 được hát lên trong Phụng vụ như cảm nghiệm sâu xa về những điều tốt lành Chúa đang làm cho mình. Với lăng kính Ki-tô giáo, chúng ta tin Đức Ki-tô là Đấng giải phóng con người khỏi nô lệ tội lỗi mà các ngôn sứ và Thánh vịnh đã tiên báo. Người đến để thiết lập một thế giới mới, nơi đó người với người không còn là lang sói, nhưng tất cả đều là anh chị em với nhau, có cùng một Cha trên trời (x. Mt 5,45).

Ông Gio-an Tẩy Giả là gương mẫu cho chúng ta. Sứ mạng của Ki-tô hữu là dọn đường cho Chúa. Tuy vậy, trước hết chúng ta phải đón Chúa đến trong cuộc đời mình. Gio-an được Đức Giê-su khen ngợi đặc biệt, và đánh giá ông là người cao trọng nhất trong số những phàm nhân. Nếu chúng ta thực thi sứ mạng ngôn sứ một cách nghiêm túc, chúng ta cũng được chúc phúc như vị Tiền Hô. Đôi khi người tin Chúa cũng bị cám dỗ bỏ cuộc và hoang mang. “Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” Đó cũng là lời Chúa Giê-su đang nhắn gửi chúng ta hôm nay.

Lời Chúa hôm nay thấm đượm niềm vui. Niềm vui vì được Chúa tạo dựng, được Chúa yêu thương và được Ngài cứu độ. Ki-tô hữu còn vui vì có Đức Giê-su hiện diện trong cuộc đời mình. Cảm nhận được niềm vui và hạnh phúc của người phụng sự Chúa, chúng ta sẽ có khả năng và nhiệt huyết đem niềm vui đến cho anh chị em mình.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

LŨ TRẺ NGỒI NGOÀI CHỢ (12/12/2025 - THỨ SÁU TUẦN 2 MÙA VỌNG)
11/12/2025

LŨ TRẺ NGỒI NGOÀI CHỢ (12/12/2025 - THỨ SÁU TUẦN 2 MÙA VỌNG)

Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: “Ta sẽ so sánh thế hệ này với ai? Họ giống như bọn trẻ ngồi nơi phố chợ, gọi lũ trẻ khác mà rằng: “Chúng tôi thổi sáo, sao các bạn không múa nhảy; chúng tôi than vãn, sao các bạn không khóc lên.....

11/12/2025

ĐỨC MẸ GUADALUPE VÀ TẤM ÁO CHOÀNG THẦN KỲ

Đức Mẹ Guadalupe là một sự kiện thần kỳ và nổi tiếng ở xứ sở Mexico. Đức Mẹ Guadalupe là một tước hiệu của Đức Mẹ Maria, tên gọi này chứng minh cho sự hiển linh của Đức Mẹ ở vùng Guadalupe, Mexico vào năm 1531. Năm 1999, Giáo hội Công giáo chính thức tuyên bố biểu tượng Đức Mẹ Guadalupe là Nữ Thần bảo hộ Châu Mỹ.

Ngày 12/12 hàng năm, Giáo hội mừng kính Đức Mẹ Guadalupe, đánh dấu ngày Đức Mẹ hiện ra với người nông dân tên Juan Diego ở Mexico vào năm 1531. Theo các ghi chép về sự việc này, Đức Mẹ đã hiện ra vài lần trước mặt Juan Diego, yêu cầu Juan đến gặp vị Giám Mục sở tại xin ngài xây dựng một nguyện đường mới tại nơi này. Vị Giám mục lúc đầu không tin, nên đã yêu cầu một dấu hiệu để chứng minh. Juan Diego quay trở lại đồi Tepeyac để truyền đạt lại yêu cầu của Giám mục.

Đức Mẹ chấp thuận và bảo Juan lên đỉnh đồi Tepeyac vốn rất khô cằn để gom một số hoa hồng vào áo Tilma của anh (Tilma là một loại áo choàng thô dệt bằng sợi cây xương rồng thổ dân nghèo châu Mỹ thường mặc). Anh vâng lời Đức Mẹ đi lên đồi. Anh đã thấy một vườn hoa hồng tuyệt đẹp mặc dù xung quanh đất đai cằn cỗi. Juan đến gặp vị Giám mục một lần nữa. Trước mặt vị Giám Mục, Juan mở áo choàng ra, hoa hồng rơi xuống đất để lộ chân dung mầu nhiệm của Đức Mẹ một cách thần kỳ. Hình tượng Đức Mẹ trên tấm áo choàng Tilma về sau được biết đến dưới cái tên “Đức Mẹ Guadalupe.”

Tấm áo choàng vẫn lưu tồn cho đến tận ngày nay. Nó được treo trang trọng trên bàn thờ tại Vương Cung thánh đường Đức Mẹ Guadalupe tại thủ đô Mexico City.

Các nhóm khoa học gia khác nhau đã tiến hành nhiều loại thí nghiệm trên lớp vải và bức hình. Nhưng họ không thể tìm thấy bất kỳ lời giải thích khoa học nào cho quá trình tạo nên bức hình này.

Thánh ảnh cho thấy Mẹ mặc áo mặt trời chân đạp trên mặt trăng hình lưỡi liềm, tượng trưng cho địa vị cao cả của Mẹ - vĩ đại hơn các mẫu tượng khác. Mẹ mặc áo choàng màu ngọc lam xanh - tượng trưng cho hoàng tộc - khoác ngoài áo dài màu hồng tượng trưng cho tình yêu cao cả.

“... Một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao....” (Khải Huyền 12:1)

Một Số Chú Giải Liên Quan Đến Bức Tượng Đức Mẹ Guadalupe

Đôi mắt: Đầu Mẹ hơi cúi xuống và đôi mắt đang nhìn xuống trong tư thế khiêm cung tượng trưng cho người nữ tỳ của Chúa. Đôi mắt Mẹ ẩn chứa hình ảnh của Juan Diego và vị Giám mục, nhưng điều này chỉ có thể nhìn thấy bằng công nghệ hiện đại.

Đôi bàn tay chấp niệm: Đôi bàn tay chắp trong tư thế cầu nguyện. Bên trái tối và bên phải sáng hơn. Hình ảnh này đại diện cho hai chủng tộc.

Nơ mẫu tử: Là hình ảnh của sự trinh tiết. Vị trí này thể hiện Mẹ đang mang trong mình một đứa trẻ. Dây Mẫu Tử thắt quanh eo tượng trưng cho người nữ đang mang thai.

Bông hoa: Những hình mẫu này là ký tự của ngôn ngữ bản địa, chứa đựng các thông điệp phức tạp khác nhau

Nhiệt độ: Nhiệt độ của chiếc áo choàng Tilma không thay đổi, ở mức 98,6°F = 37°C, tương đương với nhiệt độ của một cơ thể sống.

Độ bền: Màu sắc của hình ảnh vẫn tươi mới một cách kì diệu dù đã hơn 500 năm tuổi. Những hình ảnh được thực hiện trên vải thường tan rã trong vòng 15-30 năm nhưng tấm áo Tilma này không hề có dấu hiệu phai mờ hoặc nứt rạn của màu sắc

Khả năng phục hồi: Tấm áo choàng Tilma đã sống sót sau một vụ đánh bom và cũng tự phục hồi một cách kỳ diệu sau khi bị dung môi axit nitric đổ vào.

Ngôi sao: Các ngôi sao trên áo choàng của Mẹ phác họa ra chính xác các chòm sao khác nhau trên bầu trời Mexico ngày 12 tháng 12 năm 1531, Thứ Bảy, lúc 10:26 sáng.

Nhịp tim: Khi đặt một ống nghe bên dưới chiếc nơ màu đen, đo được nhịp đập nhịp nhàng 115 mỗi phút, giống như nhịp tim của một em bé trong bụng mẹ.

Bản gốc: Không có dấu hiệu của sơn, nét cọ, hoặc nét phác thảo nào được tìm thấy; hình ảnh này không thể tạo ra bản sao khác; Và nếu quan sát ở phạm vi 3-4 inch tính từ vải, hình ảnh này sẽ biến mất, chỉ còn lại tấm vải nguyên gốc.

Mặt trăng: Người nữ đang đứng trên mặt trăng lưỡi liềm là tín hiệu cho biết Bà là đấng cao cả hơn hắc thần (thần đêm tối) và nguyệt thần (thần mặt trăng). Bên cạnh đó, Mẹ đứng trên mặt trăng có lớp da rắn. Đây là một biểu tượng của một vị thần rắn của người Azp về sự hy sinh của con người.

Thiên thần: Thiên thần ở dưới chân Đức Mẹ với đôi cánh lông vũ mang Đức Mẹ đến với mọi người. Chiếc áo choàng của thiên thần màu đỏ tượng trưng cho trái đất, trong khi chiếc áo choàng của Mẹ Maria màu xanh tượng trưng cho thiên đường.

Tổng hợp và dịch : Goretti.Tran

Address

Đà Lạt

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when Chi Hội Bác Ái Vinh Sơn Ozanam Đà Lạt posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share