SỐNG TRONG ĐẠO

SỐNG TRONG ĐẠO Trang SỐNG TRONG ĐẠO do những vị tu sĩ và cư sĩ quản lý

Đức Phật dạy chúng ta làm điều lành, lánh xa điều ác, giữ tâm trong sạch. Việc hành thiền của chúng ta cũng vậy "làm làn...
28/08/2026

Đức Phật dạy chúng ta làm điều lành, lánh xa điều ác, giữ tâm trong sạch.

Việc hành thiền của chúng ta cũng vậy "làm lành, lánh dữ".

Chỉ muốn làm phước mà không trau dồi phẩm hạnh thì chẳng khác nào xây dựng lâu đài trên cát, chẳng bao lâu sau lâu đài sẽ sụp đổ mà thôi.

Cũng giống như muốn nhuộm vải, nhưng không chịu giặt sạch tấm vải trước khi nhuộm. Khi muốn nhuộm, họ chỉ nhúng tấm vải vào thuốc nhuộm mà chẳng cần để ý đến tấm vải sạch hay dơ.

Nếu tấm vải dơ mà nhuộm, vải còn tệ hại hơn. Nhưng người ta thường làm như thế.

Người ta chỉ thích làm điều thiện mà không chịu bỏ làm điều ác.

Họ quên một điều quan trọng là chỉ khi nào tâm không dơ bẩn, lúc ấy tâm mới bình an tĩnh lặng mà thôi.

Những điều xấu xa có còn tồn tại trong tâm bạn không?

Dĩ nhiên là còn!

Bạn hãy tự nhìn vào bên trong chính mình, hãy xét xem thân khẩu ý của mình đã có gì sai lầm.

Ngoài thân-khẩu-ý ra, bạn chẳng có gì để điều chỉnh nữa.

Trong việc thực hành, “làm lành lánh dữ” là việc làm tốt đẹp.

Nhưng cuối cùng chúng ta cũng phải bước qua cả tốt lẫn xấu.

Giải thoát bao gồm tất cả, nhưng không dính mắc chỗ nào.

Từ sự không dính mắc này, tình thương và trí tuệ lưu chuyển một cách tự nhiên.

- Thiền Sư Ajahn Chah -

… Chúng ta cùng ở trong một thế giới vật chất này, nhưng về mặt tinh thần, xúc cảm và tri thức, mỗi cá nhân lại rất khác...
27/08/2026

… Chúng ta cùng ở trong một thế giới vật chất này, nhưng về mặt tinh thần, xúc cảm và tri thức, mỗi cá nhân lại rất khác biệt nhau.

Một số người sống trong những hoàn cảnh rất đau đớn, khổ sở về mặt tinh thần, họ luôn đau khổ. Họ không có tình thương và lòng bi mẫn, họ không có sự sáng suốt.

Khi nghĩ về cuộc đời, chúng ta nên nghĩ nhiều hơn đến phẩm chất của tâm.

Người này có thể là một tỷ phú, trong khi kẻ khác có thể rất nghèo.

Nhưng kẻ nghèo đó vẫn có thể sống một cuộc sống mãn nguyện và hạnh phúc. Trong khi con người giàu có kia có thể đang trải qua một cuộc sống đầy đau khổ.

Chúng ta không thể đánh giá cuộc đời một người dựa trên tiền bạc, địa vị hay bất cứ cái gì mà người ấy đang sở hữu.

Nếu tôi phải đánh giá cuộc đời của một người nào đó, tôi sẽ đánh giá họ bằng chính trạng thái tâm của họ.

Nếu họ là những người từ ái và nếu tâm của họ an lạc, họ sẽ sống một cuộc đời tốt đẹp.

Vì vậy, cuộc sống là sự phản ánh các trạng thái tâm của bạn.

Cuộc đời bạn thành công hay thất bại là tùy thuộc vào trạnng thái tâm của bạn, chứ không phải vào những gì bạn sở hữu.

- Thiền Sư Sayadaw U Jotika -

BỐN BẬC ĐẠI VƯƠNG - Này các Tỷ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Ðại thần cố vấn cho bốn Ðại vương, đi du h...
27/08/2026

BỐN BẬC ĐẠI VƯƠNG

- Này các Tỷ-kheo, trong ngày thứ tám của nửa tháng, các vị Ðại thần cố vấn cho bốn Ðại vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, có hiếu với cha, có kính Sa-môn, Bà-là-môn, có tôn trọng các vị gia trưởng, có làm lễ Uposatha (Bố-tát), có đề cao cảnh giác, có làm các công đức.

Này các Tỷ-kheo, trong ngày 14 của nửa tháng, các Hoàng tử của bốn Thiên vương, đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức.

Này các Tỷ-kheo, trong ngày rằm lễ Uposatha, bốn vị Thiên vương tự mình đi du hành trong thế giới này để xem trong loài người, có nhiều người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức.

Nếu chỉ có ít người giữa loài người, này các Tỷ-kheo, có hiếu với mẹ, ... là các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:

- "Thưa chư vị, có ít người giữa loài người có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba không hoan hỉ nói:

- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ bị tổn giảm và Asura chúng (A-tu-la) sẽ được sung mãn."

Nhưng này các Tỷ-kheo, nếu có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức, thời này các Tỷ-kheo, bốn vị Ðại vương liền báo với chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba, đang ngồi tụ họp tại hội trường Sudhammà:

- "Thưa chư Vị, có nhiều người giữa loài người, có hiếu với mẹ, ... có làm các công đức".

Rồi này các Tỷ-kheo, chư Thiên ở cõi trời thứ ba mươi ba hoan hỷ nói

- "Thật vậy, Thiên chúng sẽ được sung mãn, còn các Asura chúng sẽ bị tổn giảm.

Tăng Chi Bộ Kinh - Chương III - Ba Pháp

LUẬT HẤP DẪN CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO Dhātusosaṃsandanasuttaṃ (Kinh Chúng Sinh Tương Hợp Theo Căn Tánh), ♦ 78. Điều này ...
27/08/2026

LUẬT HẤP DẪN CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Dhātusosaṃsandanasuttaṃ (Kinh Chúng Sinh Tương Hợp Theo Căn Tánh),

♦ 78. Điều này đã được Bậc Thế Tôn tuyên thuyết, đã được bậc A-la-hán phán dạy, và tôi đã đích thân nghe lại như vầy:

♦ 'Này các Tỳ-kheo, chúng sinh thường quy tụ và đồng điệu cùng với những chúng sinh khác dựa trên sự tương đồng về căn tánh (khuynh hướng nội tâm).

♦ Này các Tỳ-kheo, dẫu cho ngược về dòng thời gian của quá khứ, thì cũng dựa trên sự tương đồng về căn tánh mà chúng sinh đã từng quy tụ và đồng điệu cùng với những chúng sinh khác.
♦ Này các Tỳ-kheo, dẫu cho hướng về dòng thời gian của tương lai đi chăng nữa, thì cũng dựa trên sự tương đồng về căn tánh mà chúng sinh sẽ quy tụ và sẽ đồng điệu cùng với những chúng sinh khác.

♦ Này các Tỳ-kheo, và ngay cả trong khoảng thời gian của hiện tại lúc bấy giờ, cũng chính dựa trên sự tương đồng về căn tánh mà chúng sinh đang quy tụ và đang đồng điệu cùng với những chúng sinh khác.

Những chúng sinh mang khuynh hướng tâm lý thấp hèn, ác trược sẽ tự động quy tụ và đồng điệu với những chúng sinh mang khuynh hướng thấp hèn, ác trược.

Ngược lại, những chúng sinh mang khuynh hướng tâm lý thanh cao, thiện lành sẽ tự nhiên quy tụ và đồng điệu với những chúng sinh mang khuynh hướng thanh cao, thiện lành.

♦ 78. vuttañhetaṃ bhagavatā, vuttamarahatāti me sutaṃ —
♦ “dhātuso, bhikkhave, sattā sattehi saddhiṃ saṃsandanti samenti. hīnādhimuttikā sattā hīnādhimuttikehi sattehi saddhiṃ saṃsandanti samenti, kalyāṇādhimuttikā sattā kalyāṇādhimuttikehi sattehi saddhiṃ saṃsandanti samenti.

Iti78

🍁 KHÔNG THỂ XẢY RA1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu trường hợp không thể xảy ra. Thế nào là sáu?2. Người đầy đủ tri kiến khôn...
27/08/2026

🍁 KHÔNG THỂ XẢY RA

1. - Này các Tỷ-kheo, có sáu trường hợp không thể xảy ra. Thế nào là sáu?

2. Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Đạo Sư;

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận chánh pháp;

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận chúng Tăng;

Người đầy đủ tri kiến không thể sống không tôn kính, không tùy thuận học pháp;

Người đầy đủ tri kiến không thể rơi trở lại vào những vấn đề không nên trở lại;

Người đầy đủ tri kiến không thể làm cho sanh khởi hữu thứ tám.

Này các Tỷ-kheo, đây là sáu trường hợp không thể xảy ra.

(VIII) (92) Bậc Ðạo Sư
Tăng Chi Bộ - Anguttara Nikaya
Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Chia sẻ bởi: SỐNG TRONG ĐẠO

BẤT ỔN LÀ BẢN CHẤT CUỘC ĐỜICó một cái làm người ta khổ không phải là bất ổn. Mà là cái thói quen trong đầu cứ đòi: “Mọi ...
27/08/2026

BẤT ỔN LÀ BẢN CHẤT CUỘC ĐỜI

Có một cái làm người ta khổ không phải là bất ổn. Mà là cái thói quen trong đầu cứ đòi: “Mọi thứ phải ổn.” Đời mà… có bao giờ nó ký giấy cam kết với mình đâu.

Tôi cũng là người bất ổn. Nhờ vậy tôi mới thấy rõ nhiều thứ. Có những lúc đời êm, mình tưởng mình tu được rồi. Nhưng thiệt ra lúc đó chỉ là… chưa gặp chuyện. Chưa bị đụng tới chỗ mình bám. Chưa bị ai chạm vô cái tôi.

Có thời gian khá dài tôi sống một mình. Không tiếp xúc bên ngoài. Không dùng mạng xã hội luôn. Tôi nghĩ: “Vậy là yên rồi đó. Chắc tạm ổn.” Nhưng không. Nó vẫn bất ổn. Rồi tôi mới thấy ra: phiền não đâu có mất. Nó chỉ ngủ ngầm thôi. Đủ duyên là nó trồi lên như cũ.

Ngày trước tôi là người năng nổ, xông pha. Gặp nhiều chuyện, phiền nhiều quá, tôi nghĩ: “Thôi, né bớt. Không tiếp xúc thì bớt phiền.” Nhưng đời không để mình trốn kiểu đó. Không phiền từ ngoài thì nó phiền từ trong. Không ai chọc thì tự tâm nó chọc. Không ai làm mình khó chịu thì ký ức, tưởng tượng, nghi ngờ… nó làm giùm.

Có bữa tôi tự hỏi một câu nghe mà mắc cười: “Phiền não này nó nằm ngay trong cái thân và cái tâm này… vậy mình trốn đi đâu đây?”

Khi hiểu vấn đề tôi mới quay trở lại tiếp xúc bình thường.

Và chính lúc tiếp xúc, tôi mới thấy cái trò của tâm nó rõ hơn. Người ta khen, mình nghe sướng. Không ai muốn bị chê. Nhưng khen nhiều là bắt đầu nguy. Tâm nó hay vẽ một tương lai vĩ đại lắm. Nó làm mình tự mãn, rồi mình thành nô lệ của cái hình ảnh đẹp đó lúc nào không hay.

Còn chê bai, chỉ trích thì… đắng thiệt. Khó nuốt thiệt. Nhưng nó lộ ra một thứ mà khen không bao giờ cho mình thấy: mình phản ứng ra sao khi cái tôi bị đụng. Mình sân ở đâu? Mình đau ở chỗ nào? Mình muốn gồng để giữ mặt mũi ra sao?

Tôi hay nói vui với những người khen tôi. Bữa nào tôi bất ổn, thì còn khen nữa hông?” Thường là… quay xe. Mà tôi không buồn vì chuyện đó. Nếu là tôi, có khi tôi cũng làm vậy thôi. Người ta thương một phiên bản dễ chịu của mình là chuyện bình thường.

Đối với tôi . Nếu tôi cần danh tiếng, cần lợi ích, thì tôi diễn vai làm vừa lòng người ta… không khó. Cái khó là: khi bị chê, bị bỏ, bị lơ… cái tâm tôi bám vô cái gì? Nó dựng lên câu chuyện gì? Nó kéo tôi chạy theo hướng nào? Tôi thấy rõ sự vận hành của nó nhiều lần… mà vẫn bị nó cuốn. Có lúc tôi bật cười : “Trời, thấy rõ mà vẫn bị cuốn là sao đây?”

Sáng nay tôi dậy hơn 2 giờ. Tôi lễ Phật. Rồi tự nhiên trong đầu nhớ lại lời Đức Phật dạy: nhiệt tâm, chánh niệm, tỉnh giác chế ngự tham ưu ở đời. Và một câu trong Kinh Tương Ưng: không nên chế ngự ý hoàn toàn; chỗ nào bất thiện sanh, chỗ đó chế ngự ý. Nhớ tới đó, tôi ngồi suy nghiệm lại nhiều chuyện.

Giống như chạy xe đâu phải lúc nào cũng đạp phanh. Nhưng hễ gặp chướng ngại là phải phanh liền. Tu cũng vậy , hễ bất thiện vừa ló lên — tham, sân, hơn thua, tự ái, muốn chứng tỏ… thì ngay chỗ đó phải chặn liền. Chặn trễ là nó dẫn mình đi xa lắm.

Tu hành với tôi bây giờ là thôi trốn. Không cần phải “ổn” để làm hài lòng ai. Cũng không mong cuộc đời này lúc nào cũng êm. Tôi tập nhắc mình: mọi thứ đến — dù mình muốn hay không muốn — nó vẫn thay đổi. Và khi bất thiện khởi, phải nhiệt tâm, chánh niệm, tỉnh giác mà chế ngự ngay. Vậy thôi. Giờ tôi Không trốn nữa. Phiền não trồi lên tới đâu, tôi chặn ngay tới đó.
Vì ngày nào còn phàm phu, ngày đó phiền não vẫn tới — quan trọng là mình có kịp nhận ra để trị liền hay không.

- Sư Pháp Quang -

CÓ PHẢI CHƯ THIÊN LUÔN LUÔN RẮC DƯỠNG CHẤT CỦA CÕI TRỜI VÀO BÌNH BÁT TRONG LÚC ĐỨC NHƯ LAI ĐANG THỌ THỰC?M: “Thưa ngài N...
27/08/2026

CÓ PHẢI CHƯ THIÊN LUÔN LUÔN RẮC DƯỠNG CHẤT CỦA CÕI TRỜI VÀO BÌNH BÁT TRONG LÚC ĐỨC NHƯ LAI ĐANG THỌ THỰC?

M: “Thưa ngài Nāgasena, có phải chư Thiên luôn luôn rắc dưỡng chất của cõi trời vào bình bát trong lúc đức Như Lai đang thọ thực, hay là đã rắc vào ở hai món là ở món thịt lợn rừng và ở món cơm sữa ngọt mà thôi?”

N: “Tâu đại vương, trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng). Tâu đại vương, giống như trong lúc đức vua đang ăn, người đầu bếp của vua cầm lấy món xúp, đứng gần bên, rồi rưới xúp vào mỗi một nắm cơm. Tâu đại vương, tương tợ y như thế trong lúc đức Như Lai thọ thực chư Thiên luôn luôn cầm lấy dưỡng chất của cõi trời, đứng gần bên, rồi rắc vào những nắm cơm mỗi một lúc được đưa lên (miệng).

N: Tâu đại vương, thậm chí ở Verañjā trong lúc đức Như Lai đang thọ thực những hạt lúa mạch khô khan, chư Thiên cũng tuần tự tẩm ướt (chúng) với dưỡng chất của cõi trời rồi đem lại. Nhờ thế, cơ thể của đức Như Lai đã được bồi bổ.”

M: “Thưa ngài Nāgasena, thật là điều lợi ích đối với chư Thiên ấy, là các vị đã thường xuyên, liên tục thể hiện sự nỗ lực trong việc chăm sóc thân thể của đức Như Lai. Thưa ngài Nāgasena, tốt lắm! Trẫm chấp nhận điều này đúng theo như vậy.”

Mil

Khi đang tích tạo một thiện nghiệp trong kiếp trước, nếu quý vị có tâm tham muốn các dục lạc để thọ hưởng trong kiếp sau...
27/08/2026

Khi đang tích tạo một thiện nghiệp trong kiếp trước, nếu quý vị có tâm tham muốn các dục lạc để thọ hưởng trong kiếp sau, thì khi nghiệp đó tạo ra quả của nó trong kiếp này, quý vị sẽ có nhiều tham muốn thọ hưởng các dục lạc.

❤️‍🔥 Quý vị sẽ là một người có tánh tham.

❤️‍🔥 Mối tương quan nhân quả như vậy cũng áp dụng cho một người tánh sân, tánh si, tánh ngã mạn, ganh tỵ hay tật đố.

Lại nữa, trong một kiếp trước, khi đang tích tạo một thiện nghiệp, nếu quý vị có đức tin (saddhā) mạnh mẽ nơi Tam Bảo và tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, v.v… khi nghiệp đó chín mùi và tạo ra quả trong kiếp này quý vị sẽ là một người có đầy đủ đức tin.

Quý vị sẽ có một căn tánh đức tin.

Lại nữa, trong kiếp trước, khi đang tích tạo thiện nghiệp, nếu có tâm từ (mettā) mạnh mẽ đi kèm, hoặc được vây quanh bởi một trong các bậc thiền tâm từ (mettā jhānas), thì khi nghiệp đó cho quả trong kiếp kế, quý vị sẽ là một người có đầy đủ lòng từ và có một căn tánh từ ái.

Lại nữa, trong kiếp trước, khi đang tích tạo thiện nghiệp, nếu nó được vây quanh bởi trí tuệ mạnh mẽ như minh sát trí, thì khi nghiệp đó cho quả trong kiếp kế, quý vị sẽ có một căn tánh trí tuệ và một cái tâm nhạy bén. Còn nếu minh sát trí giống như hành xả trí (sakhārūpekkhañāa) trở thành nghiệp lực để cho quả của nó trong kiếp kế, quý vị sẽ có trí tuệ rất nhạy bén và mạnh mẽ để chứng đắc Niết-bàn (Nibbana). Nếu quý vị thực hành thiền chỉ (samatha) và thiền minh sát
(vipassana), quý vị có thể nhanh chóng thể nhập tứ thánh đế.

Venerable Pa-Auk Tawya Sayadawgyi
(Bậc Đại Thiền Sư Cao Thượng)

NGẠ QUỶ (PETAS—HUNGRY GHOSTS)?Ngạ quỷ (peta, tiếng Phạn: preta) là những chúng sinh khốn khổ, bị hành hạ chủ yếu bởi đói...
27/08/2026

NGẠ QUỶ (PETAS—HUNGRY GHOSTS)?

Ngạ quỷ (peta, tiếng Phạn: preta) là những chúng sinh khốn khổ, bị hành hạ chủ yếu bởi đói và khát. Từ peta đã được dịch là "ma", "ngạ quỷ", "người đã khuất",³⁷¹ hoặc "loài quỷ bị đau khổ".³⁷² Một ngạ quỷ nữ được gọi là petī. Tiếng Phạn có sự phân biệt giữa pitaraḥ, là những linh hồn tổ tiên được tôn kính, và preta, là những con ma bị dày vò. Những khái niệm này phần nào được hợp nhất trong từ peta của tiếng Pāli.³⁷³ Nguồn gốc của từ này, theo từ điển Pāli-Anh, là pa + ī, nghĩa đen là "đã đi trước". Nó cũng có thể liên quan đến từ chỉ "cha", là pitar. Do đó, pettika có nghĩa là "thuộc về cha" và pitāmaha có nghĩa là "thuộc về tổ tiên" (nghĩa đen là "các ông") (MN 82).

Lãnh địa tổ tiên của một người là pettika visaya, thường được sử dụng theo nghĩa bóng để đại diện cho, ví dụ, đối tượng của thiền định trái ngược với thế giới của các giác quan (SN 47:6). Hãy so sánh điều này với pettivisayaṃ có nghĩa là trạng thái tồn tại của một ngạ quỷ.³⁷⁴ Từ peta cũng có thể chỉ đơn giản là người chết, hoặc thậm chí là một xác chết vật lý.

Do đó, Chú giải Trường Bộ Kinh nói rằng "người chết (nghĩa đen là 'những người đã đến lúc') được gọi là peta" (petā nāma kālaṅkatā), (DN-a 32) và một câu kệ từ Kinh Tập đề cập đến một thi thể trên giàn hỏa thiêu là "peta, người đã khuất" (petaṃ kālaṅkataṃ) (Sn 3:8). Xét tất cả những điều này, việc dịch peta là "ma" (ghost) không phải là quá xa so với thực tế. Mặc dù trạng thái là một ngạ quỷ được coi là một cảnh giới tái sinh riêng biệt, một trong năm thú (gati), (DN 33) các ngạ quỷ vẫn có liên hệ với tổ tiên và với người chết.

Như chúng ta sẽ thấy, những mô tả về các ngạ quỷ cá nhân thường miêu tả hình dạng và sự đau khổ của họ có liên quan chặt chẽ đến những hành động trong kiếp sống trước đây của họ khi còn là con người. Họ là những cái bóng khốn khổ, bất lực của những chúng sinh bằng xương bằng thịt đã từng đi trên trái đất.

Mô tả

Các ngạ quỷ cá nhân có hình dạng rất khác nhau, nhưng một số đặc điểm có thể được coi là "bình thường" cho loài chúng sinh này, vì chúng xuất hiện lặp đi lặp lại trong các mô tả. Một ngạ quỷ điển hình thì trần truồng, xấu xí và hôi thối (Pv-a 1:6). Y gầy mòn vì cơn đói kéo dài, gầy gò, với xương sườn và tĩnh mạch nổi rõ (Pv-a 2:1). Họ "đói và khát, sống nhờ vào những món quà của người khác, rất khốn khổ, bị tước đoạt hạnh phúc" (Ud-a 2:8).

Một số mặc quần áo rách rưới, những người khác chỉ được che phủ bởi mái tóc của họ Các ngạ quỷ lang thang tìm kiếm thức ăn, đi hết ngả này đến ngả khác. Sau khi đi lang thang xa, và không tìm thấy gì, Bị đói khát chế ngự, họ lảo đảo và ngã quỵ xuống đất. (Pv 3:1)

Các ngạ quỷ trong một đoạn kinh được cho là có kích thước từ sáu mươi đến tám mươi hattha (thước tay).³⁷⁵ Điều này sẽ khiến họ trở nên khổng lồ theo tiêu chuẩn của con người, cao từ hai mươi bảy đến ba mươi sáu mét. Điều này khó có thể dung hòa với hầu hết các câu chuyện không đề cập đến kích thước của họ trong các cuộc gặp gỡ khác nhau với con người. Các ngạ quỷ luôn ngủ trên lưng, vì họ có quá ít da thịt và máu để có thể duy trì bất kỳ tư thế nào khác (DN-a 16). Họ thường được gọi là "những cư dân khốn khổ của thế giới Diêm vương."³⁷⁶ Họ thường vô hình và đã được nhìn thấy, ví dụ, bởi Tôn giả Mục-kiền-liên chỉ vì ngài sở hữu năng lực thần thông thiên nhãn (dibbacakkhu) (SN-a 19:1).

Tuy nhiên, trong những dịp hiếm hoi, họ được những người bình thường nhìn thấy:
Vị cư sĩ giàu có Soṇa Koṭikaṇṇa đang đi cùng một đoàn thương nhân đến Ujjeni. Một đêm nọ, đoàn dừng lại để nghỉ ngơi trong một khu rừng dễ chịu. Soṇa bị làm phiền bởi nhóm người ồn ào và đã dời chiếu ngủ của mình ra xa một chút, tìm kiếm sự yên tĩnh hơn. Vào buổi sáng, đoàn thương nhân rời đi sớm, quên mất Soṇa, người tỉnh dậy và thấy mình chỉ còn một mình.

Ông vội vã đi xuống con đường, hy vọng đuổi kịp họ. Dưới một gốc cây đa lớn, ông gặp một người đàn ông mập mạp rất xấu xí đang tự xé thịt của mình và ăn. "Ông là ai?" Soṇa hỏi. "Tôi là một ngạ quỷ." "Tại sao ông lại làm điều này?" "Đây là kết quả của nghiệp quá khứ của chính tôi. Tôi đã là một thương gia không trung thực ở thành phố Bhārukaccha, kẻ đã lừa gạt tài sản của người khác. Hơn nữa, khi các vị sa-môn và bà-la-môn đến gần, tôi đã bảo họ hãy đi ăn thịt của chính mình. Vì những hành động này, tôi đã phải chịu đựng sự đau khổ này."

Tiếp tục đi xuống con đường, một lát sau, Soṇa gặp hai cậu bé ngạ quỷ (petadārake) có máu đen chảy ra từ miệng. Khi được hỏi, chúng nói với ông rằng chúng đã từng là những cậu bé ở Bhārukaccha và gia đình chúng sống bằng nghề bán nước hoa. Mẹ của chúng đang đi ra ngoài để cúng dường thực phẩm cho một vị Tỳ-kheo A-la-hán một ngày nọ thì chúng đã mắng nhiếc bà. "Bà đang cho đi tài sản của chúng tôi cho những vị sa-môn này! Cầu cho thức ăn bà cúng dường cho ông ta biến thành máu đen trong miệng ông ta." Vì hành động này, chúng đã được tái sinh vào địa ngục (niraya), và sau khi thoát khỏi đó với một ít nghiệp quả còn sót lại, chúng đã đến trạng thái đau khổ này.

Sau khi có những trải nghiệm này, Soṇa đã phát sinh nỗi sợ hãi về những điều kinh hoàng của luân hồi (saṃsāra) và đã xin Trưởng lão Mahākaccāna cho được xuất gia (pabbāja, lễ xuất gia ban đầu hay thọ giới sa-di vào Tăng đoàn). (Ud-a 5:6)

Koliya, một trong những vị quan của Vua Tần-bà-sa-la (Bimbisāra), cũng đã nhìn thấy một ngạ quỷ:
Ngày xưa có một người thợ săn sống bằng nghề giết hươu trong rừng. Mỗi khi trở về làng quê của mình, ông thường cho trẻ em trong làng những miếng thịt, và một lần, một vài bông hoa.
Khi ông chết, ông được tái sinh làm một ngạ quỷ với một cơ thể xấu xí, dị dạng. Ông trần truồng ngoại trừ một vòng hoa trên trán. Ông không biết đến thức ăn hay đồ uống mà đi, như thể đang mơ, trên mặt sông Hằng, luôn tìm kiếm ngôi làng và họ hàng của mình.
Tại đó, ông đã được Koliya nhìn thấy khi đang trở về bằng thuyền từ một nhiệm vụ của hoàng gia. (Pv-a 3:1)

Rất thường xuyên, sự đau khổ cụ thể mà một ngạ quỷ phải chịu đựng có liên quan trực tiếp đến những hành vi sai trái trước đây của họ:
Ngày xưa có một người địa chủ có một người vợ hiếm muộn. Mong muốn có con trai, ông đã lấy vợ hai. Khi bà có thai, người vợ cả trở nên ghen tuông và đã cho bà uống một loại thuốc để gây sẩy thai. Khi mang thai được hai tháng, máu chảy ra và đứa bé đã mất. Người vợ cả bị nghi ngờ về tội ác này, nhưng khi bị chồng buộc tội, bà đã thề một lời thề gian dối: "Nếu tôi có tội trong việc này, cầu cho tôi phải ăn thịt của chính những đứa con trai của mình."
Kết quả là, sau khi chết, bà được tái sinh làm một nữ ngạ quỷ (petī) với một hình dạng xấu xí và một mùi hôi thối, tanh tưởi. Bà trần truồng và bị ruồi bâu đầy. Mỗi rạng đông, bà sẽ sinh ra năm cậu bé, và lại vào lúc hoàng hôn thêm năm cậu nữa. Trái tim bà bùng cháy và bốc khói vì đói, bà sẽ mỗi lần ăn hết tất cả chúng nhưng ngay cả điều đó cũng không bao giờ đủ. Bà cũng không bao giờ có được thứ gì để uống. (Pv-a 1: 6)

Các cuộc hôn nhân đa thê ở Ấn Độ cổ đại thường là nơi diễn ra những sự cạnh tranh gay gắt giữa các bà vợ. Đoạn trích sau đây là một ví dụ khác. Nó cũng minh họa rõ ràng mối quan hệ giữa nghiệp và quả. (Trong bản gốc, đoạn đối thoại được viết dưới dạng thơ).

Một người địa chủ ở thành Xá-vệ có hai người vợ, Mattā và Tissā. Tissā thì chung thủy, hiền hòa và dễ chịu với chồng. Mattā thì không chung thủy, hay tức giận và lại còn hiếm muộn. Khi Tissā sinh một người con trai, Mattā trở nên thù địch hơn với đối thủ của mình và bắt đầu lăng mạ bà theo nhiều cách khác nhau. Sau khi chết, bà trở thành một nữ ngạ quỷ khốn khổ và xuất hiện trước [Tissā, người sau này đã tái sinh làm một vị thiên nữ].

"Bà trần truồng, xấu xí, đầy tĩnh mạch, gầy mòn với xương sườn lộ ra. Bà là ai, đang đứng ở đó?"
"Tôi là Mattā, bà là Tissā. Chúng ta đã từng là vợ lẽ của nhau. Do nghiệp ác của tôi, tôi đã phải đến thế giới của các ngạ quỷ (petaloka)."
"Tôi đã bạo lực, lăng mạ, ghen tuông và keo kiệt. Vì tôi đã nói lời cay độc với bà, tôi đã phải đến thế giới của các ngạ quỷ."
"Điều này tôi biết. Nhưng tôi muốn hỏi bà một điều khác, tại sao bà lại bị dính đầy bụi bẩn?"
"Một lần thấy bà, vừa tắm xong và trang điểm, đang ngồi nói chuyện vui vẻ với chồng chúng ta, tôi đã nổi giận và ghen tuông. Lấy một nắm bụi bẩn, tôi đã ném nó lên đầu bà. Kết quả của hành động đó, tôi bị dính đầy bụi bẩn."
"Điều này tôi biết. Nhưng tôi muốn hỏi bà một điều khác. Tại sao bà lại bị phủ đầy những vết ghẻ ngứa?"
"Một lần chúng ta đang hái rau trong rừng. Bà lấy các loại cây thuốc, tôi lấy cây kapikacchu.³⁷⁷ Mà bà không biết, tôi đã rắc một ít vào giường của bà. Kết quả của hành động đó, tôi bị phủ đầy những vết ghẻ ngứa."
"Điều này tôi biết. Nhưng tôi muốn hỏi bà một điều khác. Tại sao bà lại trần truồng?"
"Có một buổi họp mặt xã giao của bạn bè và gia đình. Chồng chúng ta đã mời bà, nhưng không mời tôi. Vì vậy, mà bà không biết, tôi đã giấu quần áo của bà. Kết quả của hành động đó, tôi bị trần truồng." (Pv-a 2:3)

Một ví dụ khác:
Tôn giả Mục-kiền-liên một lần nhìn thấy một ngạ quỷ bị chôn đến cổ trong một hầm phân. Ngạ quỷ kể lại câu chuyện của mình. "Tôi đã là một gia chủ đã hỗ trợ một vị Tỳ-kheo có phẩm hạnh xấu. Vị Tỳ-kheo này tham lam và ích kỷ; ông ta dính mắc vào gia đình tôi và ghen tị với các vị Tỳ-kheo khác. Nghe lời ông ta, tôi cũng bắt đầu lăng mạ các vị Tỳ-kheo tốt. Kết quả của việc đó, tôi là một ngạ quỷ trong một hầm phân."
Tôn giả Mục-kiền-liên hỏi ông ta rằng vị Tỳ-kheo ác tâm đó đã ra sao. "Tôi đang đứng trên đầu ông ta. Thức ăn của tôi là những gì người khác thải ra; vị Tỳ-kheo đó sống bằng những gì tôi thải ra." (Pv-a 4:8)
Hầu hết các mô tả về ngạ quỷ đều miêu tả họ ở dạng ít nhiều giống con người, mặc dù thường là đáng sợ và xấu xí. Trong một vài trường hợp, họ có các đặc điểm của động vật. Ví dụ, chúng ta được kể về một ngạ quỷ-rắn có đầu người và thân rắn, (Dhp-a 5:12) và về một ngạ quỷ-lợn có đầu người trên thân lợn (Dhp-a 20: 6). Trong một trường hợp, chúng ta nghe về một con vật thực sự được tái sinh làm một ngạ quỷ:

Một thời, Tôn giả Mục-kiền-liên nhìn thấy một ngạ quỷ-quạ có thân hình lớn bằng hai mươi lăm do tuần (yojana) đang phải chịu đau khổ trên núi Linh Thứu (Gijjhakūṭa). Khi được hỏi nghiệp gì đã khiến mình có được thân hình này, ngạ quỷ giải thích rằng mình đã là một con quạ vào thời của Đức Phật Ca-diếp (Kassapa) và đã ăn trộm ba miếng từ một mâm cúng dường. Kết quả là, nó đã được tái sinh vào địa ngục A-tỳ (Avīci) và sau khi thoát khỏi đó với nghiệp còn sót lại, đã mang hình dạng của một ngạ quỷ-quạ. (Dhp-a 5: 12)

Trong các câu chuyện, các ngạ quỷ thường quá bất lực để có thể làm hại con người, mặc dù vẻ ngoài kinh hoàng của họ. Tuy nhiên, ở một nơi, có nói rằng họ có một hơi thở độc có thể gây bệnh (Jāt 510).

Chú thích:
³⁷¹ H.S. Gehman.
³⁷² Tỳ-kheo Bodhi.
³⁷³ Mục từ "peta" trong PED, xem thêm bản dịch của Tỳ-kheo Bodhi về Tăng Chi Bộ Kinh, NDB, ghi chú 2169.
³⁷⁴ Xem SN 25:1 là một trong rất nhiều trường hợp.
³⁷⁵ DN-a 15. Một hattha là khoảng cách từ khuỷu tay đến đầu ngón tay, khoảng mười sáu inch (khoảng 40 cm).
³⁷⁶ duggato yamalokiko—bản dịch của Gehman.
³⁷⁷ Mucuna pruriens theo PED, một loại cây đậu gây ngứa.
PUNNADHAMMO MAHĀTHERO
THE BUDDHIST COSMOS:
A Comprehensive Survey of the Early Buddhist Worldview, according to Theravāda and Sarvāstivāda sources

SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI HIỀN VÀ NGƯỜI TRÍNgười hiền là người có tâm nhu thuận, không gây xung đột với người khác, họ giữ...
27/08/2026

SỰ KHÁC NHAU GIỮA NGƯỜI HIỀN VÀ NGƯỜI TRÍ

Người hiền là người có tâm nhu thuận, không gây xung đột với người khác, họ giữ tâm ôn hòa, dễ mến.

Người trí là người có sự nhận xét đúng-sai, đúng pháp hay phi pháp, đúng luật hay phi luật, là chân lý hay không phải là chân lý.

Người hiền khi thấy người thân của mình làm điều sái quấy, họ vẫn im lặng, khi thấy người thân hành động đúng đắn thì họ khen ngợi. Khi thấy kẻ đối nghịch hành động tốt thì họ im lặng, khi thấy kẻ đối nghịch làm chuyện sái quấy thì họ khiển trách.

Người trí khi thấy người thân hay kẻ đối nghịch hành động tốt, họ đều tán thán; khi thấy người thân hay kẻ đối nghịch hành động sái quấy, họ đều khiển trách đồng đều như nhau.

Trong kinh: Người hiền còn bị chi phối bởi bốn pháp thiên vị là:

- Thiên vị vì thương
- Thiên vị vì ghét
- Thiên vị vì dốt
- Thiên vị vì sợ

Người trí đã thoát ra khỏi bốn pháp này. Đây là điểm khác biệt giữa người hiền và người trí.

Và Đức Thế Tôn thường dùng “bị người trí quở trách”, hay “được người trí tán thán”. Chứ không dùng từ “người hiền”.

Trích: Luận giải Kinh Điềm Lành
Tỳ kheo Chánh Minh biên soạn

Address

Melbourne, VIC

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when SỐNG TRONG ĐẠO posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Shortcuts

Share