26/05/2026
HỎI ĐÁP VỚI NGÀI PA-AUK SAYADAWGYI
– Câu Hỏi 72: Làm thế nào để một người hành thiền nhưng chưa đắc một thiền chứng hay tuệ minh sát nào loại trừ được những tư duy bất thiện và tà kiến?
Trả Lời Câu Hỏi 72: Vị ấy nên tập trung suy nghĩ vào đề mục thiền của mình, chẳng hạn như hơi thở và tứ đại. Ngoài điều này ra, vị ấy cũng có thể thực hiện sự phản tỉnh chân chánh, như phản tỉnh đến những khổ đau của sanh, lão, bệnh, tử; của bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ…); của vòng tử sanh luân hồi, v.v… Vị ấy cũng có thể tư duy trên giáo pháp của Đức Phật. Trong khi làm như vậy, những tư duy bất thiện và tà kiến chưa sanh sẽ không có cơ hội sanh khởi, và những tư duy bất thiện hoặc tà kiến đã sanh sẽ biến mất.
– Câu Hỏi 73: Một người Phật tử chưa đạt đến một thiền chứng nào liệu có thích hợp để đi giảng dạy hay chia sẻ Pháp (Dhamma) với những người khác không?
Trả Lời Câu Hỏi 73: Có, nếu người ấy giảng dạy đúng giáo pháp của Đức Phật. Quý vị có nhớ câu chuyện Trưởng-lão Mahāsiva tôi đã kể trước đây không? Khi ngài vẫn còn là một phàm nhân (chưa đắc thánh), ngài đã dạy thiền cho nhiều vị Tỳ-kheo, và sáu mươi ngàn vị đệ tử của ngài đã trở thành bậc A-la-hán.
– Câu Hỏi 74: Sayadaw nói rằng hậu quả của việc xúc phạm đến một bậc thánh là rất xấu. Sao lại có một sự khác nhau như vậy giữa hậu quả của việc xúc phạm một bậc thánh và xúc phạm một phàm nhân?
Trả Lời Câu Hỏi 74: Bởi vì giới, định và tuệ của một bậc thánh cao thượng hơn, trong khi giới, định và tuệ của một phàm nhân chỉ thấp thỏi hoặc thậm chí không có.
– Câu Hỏi 75: Sau khi xúc phạm một bậc thánh, nếu người phạm lỗi không có cơ hội hoặc không có can đảm để xin bậc thánh ấy tha thứ, mà chỉ cảm thấy hối hận hay xin sám hối trước một bức tượng Phật, liệu tội của người ấy có vẫn là một chướng ngại cho việc hành thiền của anh ta không?
Trả Lời Câu Hỏi 75: Có, nó vẫn là một chướng ngại. Nếu bậc thánh ấy vẫn còn sống, người này phải đích thân xin ngài tha thứ. Nếu bậc thánh ấy đã chết, người này phải xin tha thứ trước mộ ngài hay trước những di vật (xá-lợi…) của ngài.
– Câu Hỏi 76: Với một người mới bắt đầu hành thiền nhưng có thái độ bi quan từ nhỏ, thiếu tự tin và luôn nghĩ rằng mình không bao giờ thành công trong bất cứ điều gì, chúng con nên khuyên như thế nào?
Trả Lời Câu Hỏi 76: Không dễ gì giúp một người như vậy. Quý vị có thể cố gắng dạy Pháp (Dhamma) cho người ấy để khơi dậy niềm tin của anh ta nơi Phật (Buddha), Pháp (Dhamma) và Tăng (Saṅgha). Nhưng thường thì người này không nghe Pháp với đức tin. Có lẽ sẽ là tốt nếu người ấy cứ tiếp tục hành thiền, bởi vì khi anh ta có được những tiến bộ trong thiền, anh ta sẽ lấy lại niềm tin nơi Pháp (Dhamma) cũng như sự tự tin.
--------
CÂU CHUYỆN TRƯỞNG LÃO MAHASIVA
Tại Sri Lanka, xưa kia có một vị trưởng lão Tỳ-kheo tên là Mahāsīva. Ngài có mười tám nhóm Tỳ-kheo theo học dưới sự hướng dẫn của mình. Ba mươi ngàn vị đệ tử của ngài đã chứng đắc A-la-hán dưới sự chỉ dạy ấy.
Một trong ba mươi ngàn vị A-la-hán đó suy nghĩ:
“Ta đã đạt được vô lượng công đức về giới đức và các phẩm hạnh khác. Còn những phẩm chất mà thầy ta, Trưởng lão Mahāsīva, đã đạt được thì sao?”
Vị ấy biết rằng thầy mình vẫn còn là phàm nhân. Vị ấy suy nghĩ:
“Than ôi! Thầy của chúng ta là chỗ nương tựa cho người khác, nhưng lại chưa là chỗ nương tựa cho chính mình. Ta sẽ đến sách tấn thầy.”
Nghĩ vậy, vị ấy dùng thần thông từ thiền định bay trong hư không, hạ xuống gần tu viện của vị trưởng lão, rồi đi đến chỗ Mahāsīva đang ngồi nơi thanh vắng. Sau khi đảnh lễ thầy, vị ấy ngồi xuống một bên thích hợp.
Vị thầy nói với người đệ tử:
“Ồ, vị thực hành hạnh chỉ ăn trong một bát! Điều gì đưa con đến đây?”
(Đây là cách gọi thân mật mà các bậc trưởng lão thời xưa dùng để gọi các vị Tỳ-kheo hành thiền minh sát.)
Người đệ tử đáp:
“Bạch ngài, con đến để học nơi ngài một bài pháp tùy hỷ (anumodanā) dùng trong lễ cúng dường.”
“Không được đâu, này hiền giả.”
“Vậy con có thể học ở nơi ngài thường đứng để suy xét hướng đi khất thực trong ngày không?”
“Nơi đó cũng có các Tỳ-kheo khác đến hỏi ta.”
“Vậy trên đường khất thực thì sao?”
“Ở đó cũng có nhiều vị khác hỏi pháp.”
“Hay lúc ngài đang mặc y chỉnh tề, sửa y để vào làng, chuẩn bị bình bát, hay tại nơi dùng cháo sau buổi khất thực?”
“Tại những nơi đó, các vị trưởng lão khác thường hỏi về những chỗ nghi nan trong Chú giải.”
“Vậy con có thể hỏi khi ngài trở về từ buổi khất thực không?”
“Khi ấy cũng có nhiều vị khác hỏi.”
“Thế còn trên đường từ làng trở về tu viện?”
“Khi ấy cũng vậy.”
“Vậy sau bữa ăn tại tu viện?... hay nơi thanh vắng lúc ngài rửa chân?... hay khi ngài rửa mặt?”
“Những lúc đó cũng luôn có các Tỳ-kheo đến hỏi pháp, này hiền giả. Từ lúc ấy cho đến rạng sáng hôm sau, các Tỳ-kheo đến gặp ta liên tục không gián đoạn.”
“Vậy con có thể hỏi lúc ngài đánh răng và rửa mặt chăng?”
“Cũng không được, vì sẽ có các vị khác đến hỏi.”
“Vậy khi ngài vào tu viện và ngồi xuống thì sao?”
“Khi ấy cũng có người đến hỏi.”
Người đệ tử bèn nói:
“Bạch ngài, thật ra hẳn phải có một khoảnh khắc nào đó trống vắng, chẳng hạn lúc ngài ngồi thiền sau khi rửa mặt, trong vài lần đổi tư thế ngồi. Theo như lời ngài nói thì chẳng lẽ ngài cũng không có thời gian để chết sao?
Bạch ngài, ngài giống như tấm ván cho người khác tựa vào, nhưng chính mình lại không tựa vào được. Mục đích thật sự của con đến đây không phải để học pháp.”
Nói xong, vị ấy biến mất.
---
Trưởng lão Mahāsīva vào rừng độc cư
Lúc ấy, Trưởng lão Mahāsīva hiểu ra mục đích thật sự của vị Tỳ-kheo kia.
“Vị ấy không đến để học pháp. Vị ấy đến để sách tấn ta. Nhưng bây giờ chưa phải lúc thích hợp để ta đi vào rừng độc cư. Ta phải chờ đến sáng.”
Ngài chuẩn bị sẵn y và bát. Suốt ngày hôm đó và cả canh đầu, canh giữa của đêm, ngài vẫn tiếp tục dạy pháp.
Đến canh cuối, khi một người đệ tử rời đi, ngài yên lặng đi theo cùng, để mọi người nghĩ rằng mình chỉ là một vị học trò khác.
Các đệ tử còn lại chờ buổi học kế tiếp tưởng rằng thầy chỉ đi giải quyết nhu cầu tự nhiên. Vị Tỳ-kheo đi cùng cũng nghĩ ngài là một bạn đồng học.
Mahāsīva tin rằng việc chứng đắc A-la-hán chắc chỉ cần vài ngày. Sau khi chứng quả, ngài sẽ trở về. Vì vậy ngài không từ biệt các đệ tử khi rời tu viện vào ngày mười ba tháng Visākha để đi đến một hang động tên là Gāmanta-pabbhāra gần làng.
Nhưng đến ngày rằm, ngài vẫn chưa chứng được A-la-hán.
Ngài nghĩ:
“Ta từng nghĩ chỉ vài ngày là đủ, nhưng mùa an cư đã đến. Ta sẽ an cư tại đây và hoàn thành mục tiêu vào ngày Pavāraṇā.”
Ngài xem ba tháng như chỉ ba ngày và tinh tấn hành trì mãnh liệt. Nhưng hết ba tháng vẫn chưa chứng quả.
Ngài suy nghĩ:
“Ta đã đến đây với hy vọng chứng A-la-hán trong ba ngày, nhưng nay ba tháng đã trôi qua mà vẫn chưa đạt được. Trong khi ấy, các bạn đồng tu của ta giờ đã hội họp trong Tăng đoàn các bậc A-la-hán.”
Ngài đau buồn, nước mắt chảy dài.
Rồi ngài nghĩ:
“Có lẽ ta còn quá dễ dãi với bản thân, vẫn thay đổi đủ bốn oai nghi: nằm, ngồi, đứng, đi. Từ nay ta sẽ từ bỏ oai nghi nằm, và sẽ không rửa chân cho đến khi chứng A-la-hán.”
Ngài cất chiếc giường vào góc rồi tiếp tục hành thiền.
Một mùa an cư nữa trôi qua, vẫn chưa có A-la-hán quả.
Mỗi mùa an cư kết thúc không phải bằng giác ngộ mà bằng nước mắt — những giọt nước mắt của chí nguyện cao quý chưa thành tựu.
Cứ như thế, hai mươi chín năm trôi qua với hai mươi chín mùa hội họp của các bậc A-la-hán sau mùa an cư.
Những đứa trẻ trong làng thấy chân của Mahāsīva nứt nẻ đầy thương tích nên cố lấy g*i vá lại. Rồi chúng đùa với nhau:
“Ôi, ta thật ganh tị với đôi chân nứt nẻ ấy!”
---
Thiên nữ xuất hiện cứu giúp
Vào ngày rằm tháng Thadingyut, năm thứ ba mươi của công phu tinh tấn, Mahāsīva ngồi tựa vào tấm ván và suy xét lại tình trạng của mình.
“Ba mươi năm rồi mà A-la-hán quả vẫn ngoài tầm với. Có lẽ đời này ta không có duyên chứng quả. Thật tiếc biết bao khi ta không được cùng các bạn đồng tu tham dự hội chúng các bậc A-la-hán.”
Một cảm thọ ưu sầu (domanassa-vedanā) tràn ngập tâm ngài. Nước mắt lại tuôn rơi.
Ngay lúc ấy, một thiên nữ đứng trước mặt ngài và khóc nức nở.
Vị trưởng lão hỏi:
“Ai đang khóc đó?”
“Bạch ngài, con là một thiên nữ.”
“Vì sao cô khóc như vậy?”
“Bạch ngài, con nghĩ rằng khóc là con đường dẫn đến đạo quả, nên con đang khóc theo gương ngài với hy vọng đạt được một hay hai Thánh đạo quả.”
Lời ấy làm lòng tự trọng của vị trưởng lão bị chấn động mạnh.
Ngài tự nhủ:
“Mahāsīva à, ngươi đã trở thành trò cười cho một thiên nữ trẻ tuổi rồi sao?”
Một cảm xúc tôn giáo mãnh liệt (saṃvega) bừng dậy trong ngài. Ngài gia tăng tinh tấn đúng đắn và chẳng bao lâu chứng đắc A-la-hán quả cùng với bốn tuệ phân tích (Paṭisambhidā-ñāṇa).
---
Đế Thích đến rửa chân cho Mahāsīva
Sau khi tâm hoàn toàn an ổn, ngài nghĩ đến việc duỗi thân nghỉ ngơi một chút. Ngài dọn lại giường, đổ đầy nước vào các chum, rồi ngồi đầu lối kinh hành, nhớ rằng mình đã không rửa chân suốt ba mươi năm.
Các đệ tử của ngài nhớ đến thầy vào năm thứ ba mươi kể từ ngày ngài ra đi, và bằng thần thông biết rằng thầy mình đã chứng A-la-hán.
Biết được ý nghĩ của thầy, họ nói:
“Thật vô lý nếu để thầy tự rửa chân trong khi những người đệ tử như chúng ta vẫn còn sống.”
Thế là cả ba mươi ngàn vị A-la-hán bay đến hang động nơi Mahāsīva đang ở, ai cũng muốn được cơ hội rửa chân cho thầy.
Nhưng Mahāsīva nói rằng chính mình phải làm việc mà mình đã bỏ suốt ba mươi năm ấy.
Đúng lúc đó, Đế Thích Sakka nghĩ:
“Vị trưởng lão không cho ba mươi ngàn vị A-la-hán rửa chân cho mình, lại muốn tự làm lấy. Thật không hợp lý khi bậc đáng kính của ta phải tự rửa chân trong khi một cư sĩ hộ pháp như ta còn sống.”
Sakka dẫn theo hoàng hậu Sujā hiện đến. Đưa hoàng hậu đi trước, ông nói với các vị A-la-hán:
“Xin chư tôn giả tránh đường, có phụ nữ đi qua.”
Sau đó ông đảnh lễ Mahāsīva, quỳ xuống trước mặt ngài và thưa:
“Bạch ngài, xin cho con được rửa chân cho ngài.”
Mahāsīva đáp:
“Này Sakka thuộc dòng Kosiya, suốt ba mươi năm ta chưa rửa chân. Thân người vốn có mùi hôi. Mùi ấy khó chịu đến mức với chư thiên đứng xa cả trăm do-tuần cũng như xác chết treo nơi cổ. Hãy để ta tự làm.”
Sakka đáp:
“Bạch ngài, đối với chúng con, mùi thân người đã bị hương thơm giới đức của ngài che lấp. Hương giới ấy vượt qua cả các cõi trời Dục giới và lan đến tận các cõi Phạm thiên cao nhất.
Bạch ngài, không có hương thơm nào vượt hơn hương thơm giới đức. Chính giới đức của ngài khiến chúng con phải đích thân phụng sự.”
Nói rồi, Sakka dùng tay trái giữ cổ chân vị trưởng lão, tay phải rửa chân cho ngài cho đến khi lòng bàn chân mềm sáng như chân trẻ nhỏ.
Sau khi phụng sự xong, Sakka đảnh lễ Mahāsīva rồi trở về thiên giới.
---
Đây là câu chuyện của Trưởng lão Mahāsīva.
Phần kết luận nói rằng: khi một hành giả chưa thể chứng A-la-hán, vị ấy có thể cảm thấy như Mahāsīva:
“Than ôi! Ta đã bỏ lỡ cơ hội hội họp với các bạn đồng tu là những bậc A-la-hán.”
Và do vậy, vị ấy sinh ưu sầu (domanassa-vedanā).