SỐNG TRONG ĐẠO

SỐNG TRONG ĐẠO SỐNG NƯƠNG TỰA PHẬT - PHÁP - TĂNG
(1)

VỊ BỒ TÁT GIỮ GIỚI KIÊNG TRÁNH NHƯ THẾ NÀO?(Cỗ xe đại giác - Pa-auk SayadawgyiTỳ kheo Pháp Thông dịch)Vị bồ-tát có lòng ...
26/05/2026

VỊ BỒ TÁT GIỮ GIỚI KIÊNG TRÁNH NHƯ THẾ NÀO?

(Cỗ xe đại giác - Pa-auk Sayadawgyi
Tỳ kheo Pháp Thông dịch)

Vị bồ-tát có lòng đại bi đối với tất cả chúng sinh đến mức ngay cả trong giấc mơ cũng không ôm ấp sự oán giận đối với một ai. Như vậy, vị ấy tránh xa sự sát sanh.

Vì ngài luôn luôn cống hiến đời mình để giúp đỡ tha nhân, nên ngài xem việc xúc chạm của cải của người khác không hơn gì chạm phải một con rắn độc.

Trong kiếp sống làm Tỳ-kheo hay sa-môn của mình, ngài tránh xa việc hành dâm. Không những ngài tránh những quan hệ giao cấu với người nữ, mà ngài còn tránh cả bảy ràng buộc nhỏ của sự dâm dục (methuma samyoga), đó là:

1. Thích thú trong việc để cho người nữ mơn trớn, xoa bóp và chà xát;

2. Thích thú trong việc đùa giỡn và cười cợt với phụ nữ;

3. Thích thú trong việc nhìn ngắm người nữ hay nhìn chằm chằm, mắt đối mắt, với người nữ;

4. Thích thú trong việc nghe người nữ ở cách vách cười cợt, ca hát, khóc lóc;

5. Thích thú trong việc hồi tưởng những dục lạc đã thọ hưởng với người nữ trong quá khứ;

6. Thích thú trong việc nhìn người khác thọ hưởng các dục lạc và khao khát được thọ hưởng các dục lạc như vậy;

7. Sống đời phạm hạnh với mong ước được tái sanh thiên giới.

Vì ngài tránh ngay cả những ràng buộc nhỏ của sự dâm dục như vậy, nên việc phạm giới thông dâm đối với ngài là hoàn toàn không thể có; ngài đã tránh tà hạnh này từ lúc mới bắt đầu phát nguyện bồ-tát.

Trong những kiếp sống làm gia chủ của ngài cũng vậy, ngay cả một ý nghĩ xấu về dâm dục với vợ người, vị bồ-tát cũng không hề ấp ủ.

Khi nói năng, ngài tránh bốn loại tà ngữ và chỉ nói những lời chân thật, đó là nói những gì dẫn đến sự hòa hợp giữa bạn bè, những lời đáng yêu mến, và khi nói về Pháp (Dhamma), ngài chỉ nói đúng thời và đúng mức.

Tâm ngài thường không có những ý nghĩ tham lam và sân hận, luôn luôn nuôi dưỡng chánh kiến (những quan kiến không bị bóp méo, xuyên tạc). Ngài có đầy đủ trí tuệ để hiểu rằng ngài là chủ nhân của nghiệp. Ngài có niềm tin và thiện ý đối với các bậc sa-môn, những người đang thực hành một cách chân chính.

HỎI ĐÁP VỚI NGÀI PA-AUK SAYADAWGYI– Câu Hỏi 72: Làm thế nào để một người hành thiền nhưng chưa đắc một thiền chứng hay t...
26/05/2026

HỎI ĐÁP VỚI NGÀI PA-AUK SAYADAWGYI

– Câu Hỏi 72: Làm thế nào để một người hành thiền nhưng chưa đắc một thiền chứng hay tuệ minh sát nào loại trừ được những tư duy bất thiện và tà kiến?

Trả Lời Câu Hỏi 72: Vị ấy nên tập trung suy nghĩ vào đề mục thiền của mình, chẳng hạn như hơi thở và tứ đại. Ngoài điều này ra, vị ấy cũng có thể thực hiện sự phản tỉnh chân chánh, như phản tỉnh đến những khổ đau của sanh, lão, bệnh, tử; của bốn ác đạo (địa ngục, ngạ quỷ…); của vòng tử sanh luân hồi, v.v… Vị ấy cũng có thể tư duy trên giáo pháp của Đức Phật. Trong khi làm như vậy, những tư duy bất thiện và tà kiến chưa sanh sẽ không có cơ hội sanh khởi, và những tư duy bất thiện hoặc tà kiến đã sanh sẽ biến mất.

– Câu Hỏi 73: Một người Phật tử chưa đạt đến một thiền chứng nào liệu có thích hợp để đi giảng dạy hay chia sẻ Pháp (Dhamma) với những người khác không?

Trả Lời Câu Hỏi 73: Có, nếu người ấy giảng dạy đúng giáo pháp của Đức Phật. Quý vị có nhớ câu chuyện Trưởng-lão Mahāsiva tôi đã kể trước đây không? Khi ngài vẫn còn là một phàm nhân (chưa đắc thánh), ngài đã dạy thiền cho nhiều vị Tỳ-kheo, và sáu mươi ngàn vị đệ tử của ngài đã trở thành bậc A-la-hán.

– Câu Hỏi 74: Sayadaw nói rằng hậu quả của việc xúc phạm đến một bậc thánh là rất xấu. Sao lại có một sự khác nhau như vậy giữa hậu quả của việc xúc phạm một bậc thánh và xúc phạm một phàm nhân?

Trả Lời Câu Hỏi 74: Bởi vì giới, định và tuệ của một bậc thánh cao thượng hơn, trong khi giới, định và tuệ của một phàm nhân chỉ thấp thỏi hoặc thậm chí không có.

– Câu Hỏi 75: Sau khi xúc phạm một bậc thánh, nếu người phạm lỗi không có cơ hội hoặc không có can đảm để xin bậc thánh ấy tha thứ, mà chỉ cảm thấy hối hận hay xin sám hối trước một bức tượng Phật, liệu tội của người ấy có vẫn là một chướng ngại cho việc hành thiền của anh ta không?

Trả Lời Câu Hỏi 75: Có, nó vẫn là một chướng ngại. Nếu bậc thánh ấy vẫn còn sống, người này phải đích thân xin ngài tha thứ. Nếu bậc thánh ấy đã chết, người này phải xin tha thứ trước mộ ngài hay trước những di vật (xá-lợi…) của ngài.

– Câu Hỏi 76: Với một người mới bắt đầu hành thiền nhưng có thái độ bi quan từ nhỏ, thiếu tự tin và luôn nghĩ rằng mình không bao giờ thành công trong bất cứ điều gì, chúng con nên khuyên như thế nào?

Trả Lời Câu Hỏi 76: Không dễ gì giúp một người như vậy. Quý vị có thể cố gắng dạy Pháp (Dhamma) cho người ấy để khơi dậy niềm tin của anh ta nơi Phật (Buddha), Pháp (Dhamma) và Tăng (Saṅgha). Nhưng thường thì người này không nghe Pháp với đức tin. Có lẽ sẽ là tốt nếu người ấy cứ tiếp tục hành thiền, bởi vì khi anh ta có được những tiến bộ trong thiền, anh ta sẽ lấy lại niềm tin nơi Pháp (Dhamma) cũng như sự tự tin.
--------

CÂU CHUYỆN TRƯỞNG LÃO MAHASIVA

Tại Sri Lanka, xưa kia có một vị trưởng lão Tỳ-kheo tên là Mahāsīva. Ngài có mười tám nhóm Tỳ-kheo theo học dưới sự hướng dẫn của mình. Ba mươi ngàn vị đệ tử của ngài đã chứng đắc A-la-hán dưới sự chỉ dạy ấy.

Một trong ba mươi ngàn vị A-la-hán đó suy nghĩ:

“Ta đã đạt được vô lượng công đức về giới đức và các phẩm hạnh khác. Còn những phẩm chất mà thầy ta, Trưởng lão Mahāsīva, đã đạt được thì sao?”

Vị ấy biết rằng thầy mình vẫn còn là phàm nhân. Vị ấy suy nghĩ:

“Than ôi! Thầy của chúng ta là chỗ nương tựa cho người khác, nhưng lại chưa là chỗ nương tựa cho chính mình. Ta sẽ đến sách tấn thầy.”

Nghĩ vậy, vị ấy dùng thần thông từ thiền định bay trong hư không, hạ xuống gần tu viện của vị trưởng lão, rồi đi đến chỗ Mahāsīva đang ngồi nơi thanh vắng. Sau khi đảnh lễ thầy, vị ấy ngồi xuống một bên thích hợp.

Vị thầy nói với người đệ tử:

“Ồ, vị thực hành hạnh chỉ ăn trong một bát! Điều gì đưa con đến đây?”

(Đây là cách gọi thân mật mà các bậc trưởng lão thời xưa dùng để gọi các vị Tỳ-kheo hành thiền minh sát.)

Người đệ tử đáp:

“Bạch ngài, con đến để học nơi ngài một bài pháp tùy hỷ (anumodanā) dùng trong lễ cúng dường.”

“Không được đâu, này hiền giả.”

“Vậy con có thể học ở nơi ngài thường đứng để suy xét hướng đi khất thực trong ngày không?”

“Nơi đó cũng có các Tỳ-kheo khác đến hỏi ta.”

“Vậy trên đường khất thực thì sao?”

“Ở đó cũng có nhiều vị khác hỏi pháp.”

“Hay lúc ngài đang mặc y chỉnh tề, sửa y để vào làng, chuẩn bị bình bát, hay tại nơi dùng cháo sau buổi khất thực?”

“Tại những nơi đó, các vị trưởng lão khác thường hỏi về những chỗ nghi nan trong Chú giải.”

“Vậy con có thể hỏi khi ngài trở về từ buổi khất thực không?”

“Khi ấy cũng có nhiều vị khác hỏi.”

“Thế còn trên đường từ làng trở về tu viện?”

“Khi ấy cũng vậy.”

“Vậy sau bữa ăn tại tu viện?... hay nơi thanh vắng lúc ngài rửa chân?... hay khi ngài rửa mặt?”

“Những lúc đó cũng luôn có các Tỳ-kheo đến hỏi pháp, này hiền giả. Từ lúc ấy cho đến rạng sáng hôm sau, các Tỳ-kheo đến gặp ta liên tục không gián đoạn.”

“Vậy con có thể hỏi lúc ngài đánh răng và rửa mặt chăng?”

“Cũng không được, vì sẽ có các vị khác đến hỏi.”

“Vậy khi ngài vào tu viện và ngồi xuống thì sao?”

“Khi ấy cũng có người đến hỏi.”

Người đệ tử bèn nói:

“Bạch ngài, thật ra hẳn phải có một khoảnh khắc nào đó trống vắng, chẳng hạn lúc ngài ngồi thiền sau khi rửa mặt, trong vài lần đổi tư thế ngồi. Theo như lời ngài nói thì chẳng lẽ ngài cũng không có thời gian để chết sao?

Bạch ngài, ngài giống như tấm ván cho người khác tựa vào, nhưng chính mình lại không tựa vào được. Mục đích thật sự của con đến đây không phải để học pháp.”

Nói xong, vị ấy biến mất.

---

Trưởng lão Mahāsīva vào rừng độc cư

Lúc ấy, Trưởng lão Mahāsīva hiểu ra mục đích thật sự của vị Tỳ-kheo kia.

“Vị ấy không đến để học pháp. Vị ấy đến để sách tấn ta. Nhưng bây giờ chưa phải lúc thích hợp để ta đi vào rừng độc cư. Ta phải chờ đến sáng.”

Ngài chuẩn bị sẵn y và bát. Suốt ngày hôm đó và cả canh đầu, canh giữa của đêm, ngài vẫn tiếp tục dạy pháp.

Đến canh cuối, khi một người đệ tử rời đi, ngài yên lặng đi theo cùng, để mọi người nghĩ rằng mình chỉ là một vị học trò khác.

Các đệ tử còn lại chờ buổi học kế tiếp tưởng rằng thầy chỉ đi giải quyết nhu cầu tự nhiên. Vị Tỳ-kheo đi cùng cũng nghĩ ngài là một bạn đồng học.

Mahāsīva tin rằng việc chứng đắc A-la-hán chắc chỉ cần vài ngày. Sau khi chứng quả, ngài sẽ trở về. Vì vậy ngài không từ biệt các đệ tử khi rời tu viện vào ngày mười ba tháng Visākha để đi đến một hang động tên là Gāmanta-pabbhāra gần làng.

Nhưng đến ngày rằm, ngài vẫn chưa chứng được A-la-hán.

Ngài nghĩ:

“Ta từng nghĩ chỉ vài ngày là đủ, nhưng mùa an cư đã đến. Ta sẽ an cư tại đây và hoàn thành mục tiêu vào ngày Pavāraṇā.”

Ngài xem ba tháng như chỉ ba ngày và tinh tấn hành trì mãnh liệt. Nhưng hết ba tháng vẫn chưa chứng quả.

Ngài suy nghĩ:

“Ta đã đến đây với hy vọng chứng A-la-hán trong ba ngày, nhưng nay ba tháng đã trôi qua mà vẫn chưa đạt được. Trong khi ấy, các bạn đồng tu của ta giờ đã hội họp trong Tăng đoàn các bậc A-la-hán.”

Ngài đau buồn, nước mắt chảy dài.

Rồi ngài nghĩ:

“Có lẽ ta còn quá dễ dãi với bản thân, vẫn thay đổi đủ bốn oai nghi: nằm, ngồi, đứng, đi. Từ nay ta sẽ từ bỏ oai nghi nằm, và sẽ không rửa chân cho đến khi chứng A-la-hán.”

Ngài cất chiếc giường vào góc rồi tiếp tục hành thiền.

Một mùa an cư nữa trôi qua, vẫn chưa có A-la-hán quả.

Mỗi mùa an cư kết thúc không phải bằng giác ngộ mà bằng nước mắt — những giọt nước mắt của chí nguyện cao quý chưa thành tựu.

Cứ như thế, hai mươi chín năm trôi qua với hai mươi chín mùa hội họp của các bậc A-la-hán sau mùa an cư.

Những đứa trẻ trong làng thấy chân của Mahāsīva nứt nẻ đầy thương tích nên cố lấy g*i vá lại. Rồi chúng đùa với nhau:

“Ôi, ta thật ganh tị với đôi chân nứt nẻ ấy!”

---

Thiên nữ xuất hiện cứu giúp

Vào ngày rằm tháng Thadingyut, năm thứ ba mươi của công phu tinh tấn, Mahāsīva ngồi tựa vào tấm ván và suy xét lại tình trạng của mình.

“Ba mươi năm rồi mà A-la-hán quả vẫn ngoài tầm với. Có lẽ đời này ta không có duyên chứng quả. Thật tiếc biết bao khi ta không được cùng các bạn đồng tu tham dự hội chúng các bậc A-la-hán.”

Một cảm thọ ưu sầu (domanassa-vedanā) tràn ngập tâm ngài. Nước mắt lại tuôn rơi.

Ngay lúc ấy, một thiên nữ đứng trước mặt ngài và khóc nức nở.

Vị trưởng lão hỏi:

“Ai đang khóc đó?”

“Bạch ngài, con là một thiên nữ.”

“Vì sao cô khóc như vậy?”

“Bạch ngài, con nghĩ rằng khóc là con đường dẫn đến đạo quả, nên con đang khóc theo gương ngài với hy vọng đạt được một hay hai Thánh đạo quả.”

Lời ấy làm lòng tự trọng của vị trưởng lão bị chấn động mạnh.

Ngài tự nhủ:

“Mahāsīva à, ngươi đã trở thành trò cười cho một thiên nữ trẻ tuổi rồi sao?”

Một cảm xúc tôn giáo mãnh liệt (saṃvega) bừng dậy trong ngài. Ngài gia tăng tinh tấn đúng đắn và chẳng bao lâu chứng đắc A-la-hán quả cùng với bốn tuệ phân tích (Paṭisambhidā-ñāṇa).

---

Đế Thích đến rửa chân cho Mahāsīva

Sau khi tâm hoàn toàn an ổn, ngài nghĩ đến việc duỗi thân nghỉ ngơi một chút. Ngài dọn lại giường, đổ đầy nước vào các chum, rồi ngồi đầu lối kinh hành, nhớ rằng mình đã không rửa chân suốt ba mươi năm.

Các đệ tử của ngài nhớ đến thầy vào năm thứ ba mươi kể từ ngày ngài ra đi, và bằng thần thông biết rằng thầy mình đã chứng A-la-hán.

Biết được ý nghĩ của thầy, họ nói:

“Thật vô lý nếu để thầy tự rửa chân trong khi những người đệ tử như chúng ta vẫn còn sống.”

Thế là cả ba mươi ngàn vị A-la-hán bay đến hang động nơi Mahāsīva đang ở, ai cũng muốn được cơ hội rửa chân cho thầy.

Nhưng Mahāsīva nói rằng chính mình phải làm việc mà mình đã bỏ suốt ba mươi năm ấy.

Đúng lúc đó, Đế Thích Sakka nghĩ:

“Vị trưởng lão không cho ba mươi ngàn vị A-la-hán rửa chân cho mình, lại muốn tự làm lấy. Thật không hợp lý khi bậc đáng kính của ta phải tự rửa chân trong khi một cư sĩ hộ pháp như ta còn sống.”

Sakka dẫn theo hoàng hậu Sujā hiện đến. Đưa hoàng hậu đi trước, ông nói với các vị A-la-hán:

“Xin chư tôn giả tránh đường, có phụ nữ đi qua.”

Sau đó ông đảnh lễ Mahāsīva, quỳ xuống trước mặt ngài và thưa:

“Bạch ngài, xin cho con được rửa chân cho ngài.”

Mahāsīva đáp:

“Này Sakka thuộc dòng Kosiya, suốt ba mươi năm ta chưa rửa chân. Thân người vốn có mùi hôi. Mùi ấy khó chịu đến mức với chư thiên đứng xa cả trăm do-tuần cũng như xác chết treo nơi cổ. Hãy để ta tự làm.”

Sakka đáp:

“Bạch ngài, đối với chúng con, mùi thân người đã bị hương thơm giới đức của ngài che lấp. Hương giới ấy vượt qua cả các cõi trời Dục giới và lan đến tận các cõi Phạm thiên cao nhất.

Bạch ngài, không có hương thơm nào vượt hơn hương thơm giới đức. Chính giới đức của ngài khiến chúng con phải đích thân phụng sự.”

Nói rồi, Sakka dùng tay trái giữ cổ chân vị trưởng lão, tay phải rửa chân cho ngài cho đến khi lòng bàn chân mềm sáng như chân trẻ nhỏ.

Sau khi phụng sự xong, Sakka đảnh lễ Mahāsīva rồi trở về thiên giới.

---

Đây là câu chuyện của Trưởng lão Mahāsīva.

Phần kết luận nói rằng: khi một hành giả chưa thể chứng A-la-hán, vị ấy có thể cảm thấy như Mahāsīva:

“Than ôi! Ta đã bỏ lỡ cơ hội hội họp với các bạn đồng tu là những bậc A-la-hán.”

Và do vậy, vị ấy sinh ưu sầu (domanassa-vedanā).

26/05/2026
HỎI: U Ba Khin sử dụng Vipassàna để đối phó với nạn tham nhũng như thế nào?S.N.Goenka: Những đồng nghiệp và cấp dưới của...
26/05/2026

HỎI: U Ba Khin sử dụng Vipassàna để đối phó với nạn tham nhũng như thế nào?

S.N.Goenka: Những đồng nghiệp và cấp dưới của Sayagyi (U Ba Khin) dính líu vào các hành vi tham nhũng đều là do lòng tham.

Khi người ta bắt đầu thực hành Thiền Quán, lòng tham bắt đầu tan biến dần.

Vì vậy, những người này, sau khi bắt đầu suy niệm, đã phát triển được ý chí kiềm chế việc chiếm dụng tiền bạc của người khác một cách bất hợp pháp.

Khi giảng dạy phương pháp suy niệm này cho các đồng nghiệp, U Ba Khin đi vào tận gốc rễ của vấn đề -- lòng tham.

Không phải mọi người đều tham ô, nhưng nhiều người làm việc không hiệu quả. Vì tâm trí họ bị vẩn đục, họ không có khả năng làm những quyết định một cách mau lẹ và hiệu quả.

Với Thiền Quán, loại bỏ mọi điều nhơ bẩn, tâm trí người ta trở nên trong sáng hơn, sắc bén hơn, có khả năng đi vào gốc rễ bất kì vấn đề nào và giải quyết một cách hiệu quả.

Như thế tính hiệu quả của họ được gia tăng bằng cách này.

Thiền Quán được sử dụng thực sự để loại trừ tham nhũng và gia tăng hiệu quả trong việc quản lí hành chánh.

Một khía cạnh quan trọng của nhân cách Sayagyi ( U Ba Khin) từng nâng đỡ ông trong cố gắng này, đó là sự trung thành tuyệt đối của ông đối với sự thật, không nao núng trước bất kì sức ép hay cám dỗ nào.

Ðể tiến bộ trong việc suy niệm thiền Vipassāna, thiền sinh phải ý thức về anicca (vô thường) liên tục bao lâu mà mình có...
26/05/2026

Ðể tiến bộ trong việc suy niệm thiền Vipassāna, thiền sinh phải ý thức về anicca (vô thường) liên tục bao lâu mà mình có thể.

Ðức Phật đã khuyên dạy các tỳ kheo phải cố gắng luôn ý thức về anicca (vô thường), dukkha (khổ não) hay anatta (vô ngã) trong mọi tư thế của các thầy...

Ý thức liên tục về vô thường, khổ não và vô ngã, chính là bí quyết thành công.

Những lời cuối cùng của Ðức Phật trước khi trút hơi thở cuối cùng và ra đi vào cõi Vô Dư Niết Bàn- Maha Parinibbana là: "Vô thường là bản chất nội tại của mọi sự vật. Hãy chuyên tâm thực hành để được giải thoát."

Ðây chính là cốt tủy của mọi lời dạy của Ngài trong 45 năm giảng dạy.

Nếu bạn liên tục giữ được ý thức về tính vô thường nội tại trong mọi sự vật, chắc chắn rằng với thời gian bạn sẽ đạt được mục tiêu.

-- Sayadawgyi U Ba Khin
Chia sẻ bởi SỐNG TRONG ĐẠO

MÌNH THEO PHẬT MÌNH TU CÁI GÌ?Đức Phật Ngài dạy rằng trong cái vòng sanh tử luân hồi thăm thẳm vô lượng kiếp, sữa mẹ mà ...
26/05/2026

MÌNH THEO PHẬT MÌNH TU CÁI GÌ?

Đức Phật Ngài dạy rằng trong cái vòng sanh tử luân hồi thăm thẳm vô lượng kiếp, sữa mẹ mà mình bú nó nhiều như nước biển. Nước mắt và máu mình đổ ra nó nhiều như nước biển.

Ngài nói rằng trong suốt thời gian đó, mỗi người chúng ta làm rất nhiều thiện nghiệp và cũng rất nhiều ác nghiệp, nhiều lắm luôn. Nhưng đương nhiên cái ác nó nhiều hơn cái thiện đúng không? Cho nên mỗi kiếp mình sanh ra là trả cái nợ cũ trả liên tục.

Và người tu là người gì? Người tu là người khi trả cái quả xấu, khi nhận quả lành, Tâm vẫn là Thiện. Người có tu có học, khi nhận quả xấu hay quả lành luôn luôn nhận bằng nhân lành. Người không có tu khi nhận quả xấu hay quả lành luôn luôn nhận bằng cách là tạo nhân xấu.

Tui không có tu, không có học cho nên tui nhận quả đắng tui sân, mà khi tui nhận quả ngọt tui tham.

Nếu tui là một hành giả dầu tui nhận quả đắng hay quả ngọt, tui luôn luôn nhận bằng chánh niệm. Cho nên dầu nhận quả đắng hây quả ngọt tui luôn nhận bằng cách là tạo ra cái nhân lành. Còn nếu tui không tu, không học mỗi khi nhận quả đắng tui tạo ra nhân xấu mới. Mà khi nhận quả ngọt, tui cũng tạo ra nhân xấu mới.

Khi mình bị mắng là mình nhận quả xấu, và người mắng mình họ đang tạo nhân xấu. Mọi chuyện đúng ra nó tới đó nó hết rồi. Nhưng mà mình lại khác, khi mình bị mắng là mình nhận cái quả xấu mà mình nhận bằng cái tâm sân hận, lúc bấy giờ mình tiếp tục tạo ra cái nhân xấu.

Như vậy lúc đó người ta tạo ra cái nhân xấu, mình cũng lại là tạo ra tiếp cái nhân xấu, cộng thêm quả xấu nữa.
Cho nên theo tinh thần Phật Pháp mình nhận cái gì không quan trọng, cái thái độ tâm lý của mình lúc nhận mới quan trọng.

Theo trong A Tỳ Đàm thì thiện và bất thiện chỉ khác nhau có 1 sợi tóc thôi. Tâm thiện là thái độ tâm lý tích cực của mình khi mình thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng trần cảnh. Còn tâm bất thiện là phản ứng tâm lý tiêu cực khi mình đối diện trần cảnh. Chỉ khác nhau nhiêu đó.

Mà trong kinh Đức Phật Ngài dùng hình ảnh tuyệt vời. Ngài dạy rằng cái tâm bất thiện ý nó giống như chứng bệnh mà làm mình mất đi vị giác và khứu giác.
Khi mình sống với phiền não có nghĩa là lúc đó khứu giác, vị giác tinh thần của mình nó bị hư rồi, mình không nhìn nó như nó là và như vậy là mình khổ,

Chuyện chúng ta nhận quả lành hay quả khổ (quả vui hay quả buồn) nó không quan trọng. Mà nó quan trọng chính là thái độ tâm lý của mình trước cái đó. Đó mới là điều quan trọng. Khi mình có vấn đề mình nhìn cái gì cũng có vấn đề.

Sư Giác Nguyên giảng
Trích lược bài giảng tại chùa Phật Pháp, 15/9/2024.

Idam me punnam Nibbanassa paccayo hotu
Phước lành này của chúng con nguyện là duyên thành tựu Niết Bàn

Mama punnabhagam sabbasattanam bhajemi
Chúng con xin chia đều phần phước này đến tất cả chúng sanh

ĐỨC PHẬT CHỈ DẠY GÌ?Đức Phật chỉ dạy tu hành BÁT CHÁNH ĐẠO để chứng đắc ĐẠO QUẢ và giải thoát1. Do muốn chứng đắc được n...
26/05/2026

ĐỨC PHẬT CHỈ DẠY GÌ?

Đức Phật chỉ dạy tu hành BÁT CHÁNH ĐẠO để chứng đắc ĐẠO QUẢ và giải thoát

1. Do muốn chứng đắc được những pháp cao thượng và thù thắng là “Đạo Quả” giải thoát, một vị tỳ khưu đã sống đời Phạm Hạnh, dưới sự chỉ dạy của đức Thế Tôn, và tu hành Bát Chánh Đạo đặng diệt trừ 10 Kiết Sử (SAMYOJANA – trói buộc):
- Chánh Kiến
- Chánh Tư Duy
- Chánh Ngữ
- Chánh Nghiệp
- Chánh Mạng
- Chánh Tinh Tấn
- Chánh Niệm
- Chánh Định

2. Với Bát Chánh Đạo, một vị tỳ khưu sống đời Phạm Hạnh và tu tập chứng đắc tầng Thánh thứ nhất là SƠ ĐẠO và SƠ QUẢ (thành bậc Dự Lưu, Tư Đà Hườn, Thất Lai), đoạn trừ được ba hạ phần Kiết Sử là Thân Kiến, Hoài Nghi, và Giới Cấm Thủ, không còn bị đọa vào Tứ Ác Thú, chắc chắn chứng quả vị giải thoát.

3. Tiếp tục tu tập, một vị tỳ khưu đã đoạn diệt ba hạ phần Kiết Sử đầu tiên, lại nỗ lực tu tập Bát Chánh Đạo, sẽ làm giảm nhẹ hai hạ phần Kiết Sử là Tham thô thiển và Sân thô thiển, chứng đắc tầng Thánh thứ hai là NHỊ ĐẠO và NHỊ QUẢ (thành bậc Tu Đà Hàm, Nhất Lai).

4. Tiếp tục tu tập Bát Chánh Đạo, vị tỳ khưu ấy đoạn tuyệt hai hạ phần Kiết Sử còn lại là Tham vi tế và Sân vi tế, chứng đắc tầng Thánh thứ ba là TAM ĐẠO và TAM QUẢ (thành bậc A Na Hàm, Bất Lai). Khi còn ở Nhân Loại, chưa được chứng đắc quả vị A La Hán, và khi thân hoại mạng chung, thì được tục sinh về cõi Ngũ Tịnh Cư Thiên Sắc Giới (thành vị Hóa Sanh) và giải thoát Níp Bàn tại nơi đấy.

5. Tiếp tục tu tập Bát Chánh Đạo, vị tỳ khưu ấy đoạn trừ năm thượng phần Kiết Sử còn lại (Ái Sắc Giới, Ái Vô Sắc Giới, Ngã Mạn, Phóng Dật, và Vô Minh), diệt trừ các Lậu Hoặc (Tứ Lậu gồm có Dục Lậu, Hữu Lậu, Kiến Lậu, và Vô Minh Lậu), giải thoát và giải thoát tri kiến, chứng đắc tầng Thánh thứ tư là TỨ ĐẠO và TỨ QUẢ (thành bậc A La Hán, Vô Sinh).

DN6

NĂM ĐIỀU KHÔNG THỂ BIẾT TRƯỚC?Tính bất định (animittatā) của cuộc sống và cái chết ♦ (Khi nói) 'do tính bất định' (animi...
26/05/2026

NĂM ĐIỀU KHÔNG THỂ BIẾT TRƯỚC?

Tính bất định (animittatā) của cuộc sống và cái chết

♦ (Khi nói) 'do tính bất định' (animittato), (điều đó có nghĩa là) do sự không xác định, do sự không cố định; ý nghĩa là do sự không có giới hạn phân định (rõ ràng). Quả vậy, đối với chúng sanh:
1. Mạng sống(Jīvita),
2. Bệnh tật(Byādhi),
3. Và thời gian (chết)(Kāla),
4. Nơi thân xác ngã xuống(Dehanikkhepana),
5. (và) Cảnh giới tái sanh(Gati).
Năm điều này trong thế giới của chúng sanh, Là bất định, không thể biết trước (một cách chắc chắn).

♦ Trong đó:

1. Trước hết là mạng sống(jīvitaṃ): nó bất định do không có sự xác định rằng 'chỉ sống được chừng này thôi, không hơn nữa'. Quả vậy, chúng sanh chết ngay cả trong giai đoạn phôi thai đầu tiên (kalala), ngay cả trong giai đoạn phôi bào (abbuda), phôi thịt (pesi), phôi đặc (ghana), (thai nhi) một tháng, hai tháng, ba tháng, bốn tháng, năm tháng, (cho đến) mười tháng. Ngay cả vào lúc vừa sinh ra từ bụng mẹ. Sau đó, (chúng sanh) chắc chắn chết cả trong khoảng một trăm năm lẫn ngoài (một trăm năm).

2. Cả bệnh tật(byādhi): nữa cũng là bất định, do không có sự xác định rằng 'chúng sanh chỉ chết vì bệnh này thôi, không phải vì bệnh khác'. Quả vậy, chúng sanh chết cả vì bệnh mắt, hoặc vì một trong các bệnh tai và những bệnh khác.

3. Cả thời gian(chết)(kālo): nữa cũng là bất định, do không có sự xác định rằng 'chỉ phải chết vào thời điểm này thôi, không phải vào thời điểm khác'. Quả vậy, chúng sanh chết cả vào buổi sáng, hoặc vào một trong các buổi trưa và những buổi khác.

4. Cả nơi thân xác ngã xuống(dehanikkhepanaṃ): nữa cũng là bất định, do không có sự xác định rằng 'thân xác của người đang chết chỉ ngã xuống ở đây thôi, không phải ở nơi khác'. Quả vậy, thân xác của người sinh trong làng cũng ngã xuống ở ngoài làng; thân xác của người sinh ngoài làng cũng (ngã xuống) trong làng. Tương tự, (thân xác) của loài sống trên cạn (có thể ngã xuống) ở dưới nước, hoặc của loài sống dưới nước (có thể ngã xuống) trên cạn; (điều này) cần được diễn giải theo nhiều cách.

5. Cả cảnh giới tái sanh(gati): nữa cũng là bất định, do không có sự xác định rằng 'người chết từ đây phải tái sanh ở đây'. Quả vậy, những chúng sanh chết từ cõi trời cũng tái sanh vào cõi người; những chúng sanh chết từ cõi người cũng tái sanh bất cứ nơi nào trong các cõi trời và các cõi khác. Như vậy, thế giới (chúng sanh) xoay vần trong năm cảnh giới (gatipañcake) giống như con bò bị buộc vào cối xay (yantayuttagoṇoviya).

Như vậy, cần phải quán niệm về sự chết (maraṇaṃanussaritabbaṃ) do tính bất định (của năm điều này).

Visuddhimagga,(paṭhamo bhāgo),8. anussatikammaṭṭhānaniddeso,maraṇassatikathā

🍀Thân thể bao gồm bốn yếu tố cơ bản hay tứ đại: đất, nước, gió, lửa. Khi chúng kết hợp và tạo thành cơ thể, ta gọi chúng...
26/05/2026

🍀Thân thể bao gồm bốn yếu tố cơ bản hay tứ đại: đất, nước, gió, lửa.

Khi chúng kết hợp và tạo thành cơ thể, ta gọi chúng là đàn ông, đàn bà, cho chúng một cái tên để có thể dễ dàng nhận ra, nhưng thực ra chẳng có ai trong đó cả - chỉ có đất, nước, gió, lửa mà thôi.

Đừng bị kích động hay quá dính mắc vào thân thể.

Nếu thực sự nhìn vào bên trong, bạn sẽ thấy chẳng có ai trong đó.

🍀Nếu bạn hoàn toàn sống từng giây phút với mỗi kinh nghiệm, với mỗi vị khách đến viếng tâm bạn, bạn không còn chỗ nào dành cho các lời bình luận trong nội tâm nữa.

Bạn không thể nào trò chuyện với chính bạn, bởi vì bạn hoàn toàn bận bịu với sự đón tiếp một cách tỉnh thức tất cả những gì vừa đến với tâm bạn.

Đó là sự tỉnh thức tinh tế vào thời khắc hiện tại. Tinh tế đến mức nó trở thành một sự giác niệm tĩnh lặng về hiện tại trong từng giây phút.

Cố Đại Lão Thiền sư Ajahn Chah
Chia sẻ bởi : SỐNG TRONG ĐẠO

Đối với phần lớn chúng ta, ý niệm về hạnh phúc là có được những gì mình muốn, và có khả năng kiểm soát được tất cả, được...
26/05/2026

Đối với phần lớn chúng ta, ý niệm về hạnh phúc là có được những gì mình muốn, và có khả năng kiểm soát được tất cả, được làm một vị chủ tể có thể bắt cả thế giới nhảy múa theo sở thích của mình.

Nhưng chuyện ấy không thể nào có được.

Hãy thử nhìn lại lịch sử của thế giới, bạn sẽ thấy thật ra cũng có những người có được quyền uy rộng lớn, nhưng họ không hề là những người có hạnh phúc.

Chắc chắn một điều là họ không có được sự an vui với chính mình. Tại sao thế?

Vì họ có khát vọng muốn làm bá chủ thế giới một cách tuyệt đối và họ không thể nào làm được việc ấy!

Họ muốn kiểm soát tất cả mọi người, nhưng vẫn còn có những người không bị kiểm soát.

Họ không thể kiểm soát được những vì sao trên trời.

Mưa vẫn rơi, mây vẫn bay, lá vẫn rụng.

Họ vẫn ngã bệnh. Họ vẫn phải chết!

Ta không bao giờ có thể có được tất cả những gì mình muốn. Đó là chuyện không thể được.

Nhưng may thay, ta vẫn có một sự lựa chọn khác. Ta có thể học cách làm chủ được tâm ý của mình, bước ra ngoài vòng xoay bất tận của sự ham muốn và ghét bỏ.

Ta có thể thực tập trừ bỏ sự ham muốn, nhận diện những tham vọng nhưng không bị chúng sai khiến.

Nhưng điều ấy không có nghĩa là từ nay chúng ta sẽ nằm xuống giữa đường và để mặc cho ai cũng có thể bước ngang qua chà đạp.

Điều ấy chỉ có nghĩa là ta vẫn tiếp tục sống đời sống bình thường của mình, nhưng với một cái nhìn hoàn toàn mới.

Chúng ta vẫn làm những gì mà một người bình thường phải làm, nhưng ta có tự do, không bị thúc đẩy, lôi cuốn bởi những ham muốn của mình.

Ta có thể muốn một cái gì đó, nhưng không phải đeo đuổi theo nó.

Ta có thể sợ hãi một điều gì, nhưng không cần phải đứng đó mà run rẩy.

Thái độ ấy không phải là dễ. Nó đòi hỏi rất nhiều năm tháng thực tập.

Nhưng ta biết rằng cố gắng kiểm soát hết mọi việc trên đời này là một chuyện không thể nào có được.

Thế thì giữa hai cái, cái khó làm vẫn còn hơn là cái không thể làm.

“Chính niệm thực tập thiền quán”
Thiền Sư Henepola Gunaratana
Thư Viện Phật Giáo Nguyên Thủy

HÀNH TRÌNH TUỆ QUÁNCon đường giải thoát của Phật Giáo được Đức Phật thuyết giảng qua nhiều cách, trong đó phổ biến và dễ...
26/05/2026

HÀNH TRÌNH TUỆ QUÁN

Con đường giải thoát của Phật Giáo được Đức Phật thuyết giảng qua nhiều cách, trong đó phổ biến và dễ nhớ nhất là hành trình Tam Học.

Giới Học là sự trang nghiêm thân nghiệp và khẩu nghiệp, điển hình là qua các học giới của hàng xuất gia và cư sĩ.

Định Học là khả năng tập trung tư tưởng, bằng cách chú niệm vào một đề mục nào đó (trong 40 đề mục Samatha) để trước hết là trấn áp phiền não, và thứ nữa là giúp tâm có khả năng an định để từ đó trí tuệ mới có thể làm được trọn vẹn việc soi rọi quán chiếu bản chất rốt ráo của thân tâm mỗi chúng sinh, cội nguồn của tất cả thế giới siêu đọa, trầm luân.

Tuệ Học, bước cuối cùng trong hành trình Tam Học. Tuệ Học còn được gọi bằng nhiều tên khác như Pháp môn Tuệ Quán, Minh Sát (đều từ thuật ngữ Phật học là Vipassanā) hoặc pháp môn Tứ Niệm Xứ, tức nói rõ bốn đề mục mà Tuệ Học nhắm đến, gồm Quán Thân Bất Mỹ, Quán Thọ Đau Khổ, Quán Tâm Vô Thường và Quán Pháp Vô Ngã.

Bốn đề mục này khi phân tích rộng ra thì có đến 6 vấn đề mà xưa giờ vẫn được gọi là 6 Cảnh Giới Tuệ Quán (Vipassanābhūmi).

I. SÁU CẢNH GIỚI TUỆ QUÁN

Là những gì được quan sát trong lúc tu Tứ Niệm Xứ, gồm:

• 5 Uẩn (Khandha)
• 12 Xứ (Āyatana)
• 18 Giới (Dhātu)
• 4 Đế (Sacca)
• 22 Quyền (Indriya)
• 12 Duyên Khởi (Paṭiccasamuppāda)

Tổng cộng là 73 vấn đề.

Pháp môn Tuệ Quán được trình bày qua nhiều cách, như Tứ Niệm Xứ hoặc Tam Học, nhưng cách dễ hiểu và gần gũi với người đời sau thường là qua hệ thống Thất Tịnh.

II. THẤT TỊNH (Visuddhi)

1. Giới Tịnh (Sīlavisuddhi): Giới bổn, thu thúc lục căn, chánh mạng, quán tưởng vật dụng.

2. Tâm Tịnh (Cittavisuddhi): 3 loại định (Sát-na Định, Cận Định, Kiên Cố Định).

3. Kiến Tịnh (Diṭṭhivisuddhi): Là trí tuệ trong 2 vấn đề nhân quả và Tam Tướng của Danh Sắc. Đây là khả năng nhận thức các pháp một cách rốt ráo qua các khía cạnh thực tính (Sabhāvadhamma).

4. Đoạn Nghi Tịnh (Kaṅkhāvitaraṇavisuddhi): Không hoài nghi trong Duyên Khởi.

5. Đạo Phi Đạo Tri Kiến Tịnh (Maggāmaggañāṇadassanavisuddhi): Không dính mắc 10 Tùy Phiền Não.

6. Tiến Hành Tịnh (Paṭipadāñāṇadassanavisuddhi): Kể từ trí Sanh Diệt (Udayabbayañāṇa) đến trí Hành Xả (Saṅkhārupekkhāñāṇa).

7. Tri Kiến Tịnh (Ñāṇadassanavisuddhi): 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và 19 Trí Phản Khán, tổng cộng 27 Thánh Trí.

Hành trình tu tập Tuệ Quán, tức pháp môn Tứ Niệm Xứ, thời Đức Phật chỉ được trình bày đơn giản là nếp sống chánh niệm và trí tuệ để quan sát thân tâm và ngoại cảnh. Duyên đủ thì chứng thánh, duyên kém thì an lạc hiện tiền và gieo duyên giải thoát đời sau.

-Thiền Sư Ajahn Naeb Suranandā-

Address

Melbourne, VIC

Website

Alerts

Be the first to know and let us send you an email when SỐNG TRONG ĐẠO posts news and promotions. Your email address will not be used for any other purpose, and you can unsubscribe at any time.

Share